ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
VƯƠNG VĂN HUY ĐẶC ĐIỂM CỦA ẨN DỤ TRONG TẬP THƠ
QUỐC ÂM THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI.
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội – 05/2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
3.1 Mục đích 7
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 7
5. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7
5.1. Ý nghĩa lý luận 7
5.2. Ý nghĩa thực tiễn 8
6. Bố cục của luận văn 8
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
1.1. Vài nét về thân thế và sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Trãi 9
1.2. Một số đặc điểm của ngôn ngữ thơ 10
1.2.1. Đặc điểm của ngôn ngữ thơ ca Việt Nam 11
1.2.2. Đặc điểm của ngôn ngữ thơ ca Việt Nam trung đại 15
1.3. Một vài vấn đề lý thuyết về phép ẩn dụ 21
1.3.1. Khái niệm về ẩn dụ 21
1.3.2. Các xu hướng nghiên cứu về ẩn dụ 24
Chương 2 : 38
ẨN DỤ TỪ VỰNG TRONG "QUỐC ÂM THI TẬP" 38
2.1. Tình hình sử dụng ẩn dụ từ vựng trong “Quốc âm thi tập” 38
2.2. Miêu tả và phân tích 40
2.2.1. Ẩn dụ hình thức 40
2.2.2. Ẩn dụ cách thức 50
2.2.3. Ẩn dụ dựa vào quan hệ “ cụ thể - trừu tượng ” 54
Tiểu kết 61
Chương 3 : 63
ẨN DỤ TU TỪ TRONG "QUỐC ÂM THI TẬP" 63
3.1. Tình hình sử dụng ẩn dụ từ vựng trong “Quốc âm thi tập” 63
vậy, trong luận văn này, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Đặc điểm của ẩn
dụ trong tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi để nghiên cứu. Đó chính
là lý do cho sự ra đời của đề tài
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các ẩn dụ xuất hiện trong tập
thơ chữ Nôm “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi, gồm 254 bài ( NxB Khoa
học xã hội, năm 1969 ).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là tìm hiểu cách sử dụng phương thức ẩn dụ
trong tập thơ “Quốc âm thi tập”. Qua đó, chúng tôi muốn đi tìm giá trị
phong cách nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trãi.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Miêu tả và phân loại các ẩn dụ trong tập thơ “Quốc âm thi tập” Đồng
thời phân tích ý nghĩa của các ẩn dụ để thấy được giá trị và phong cách nghệ
thuật trong thơ Nguyễn Trãi
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây :
4.1. Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả các loại ẩn dụ xuất hiện
trong “Quốc âm thi tập” và thống kê về mặt số lượng để thấy được mức độ
phổ biến của từng loại ẩn dụ. Trên cơ sở tập hợp ngữ liệu về các loại ẩn dụ
đó, đề tài tiến hành phân loại chúng thành các tiểu loại theo các chủ đề và
tìm tần số xuất hiện của chúng.
4.2. Phương pháp phân tích ngữ nghĩa, phân tích tu từ
Các phương pháp này được sử dụng khi phân tích ý nghĩa biểu tượng.
Từ đó có thể rút ra được những nhận xét về đặc điểm của phương thức ẩn dụ
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Vài nét về thân thế và sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380 tại Thăng Long, mất
ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất ( tức ngày 19 tháng 9 năm 1442 ), thọ 63
tuổi.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Trãi là một quân
sư tài năng đã giúp Lê Lợi hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước.
Năm 1428, cuộc kháng chiến thắng lợi. Lê Lợi lên ngôi vua, phong
cho Nguyễn Trãi làm Quan phục hầu.
Năm 1442, Nguyễn Trãi và toàn gia bị sát hại trong vụ án Lệ chi viên.
Hai mươi năm sau, vào năm 1464 vua Lê Thánh Tông đã ban chiếu
tẩy oan cho Nguyễn Trãi.
Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, là nhà quân sự thiên tài, là nhà văn,
nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có
giá trị.
Các tác phẩm văn bằng chữ Hán gồm:
" Quân trung từ mệnh tập”( là những thư từ gửi cho các tướng
giặc và những giấy tờ giao thiệp với triều đình nhà Minh, nhằm
thực hiện kế " đánh vào lòng " ).
" Bình Ngô đại cáo" ( tuyên bố trước thiên hạ về chính nghĩa
quốc gia, dân tộc, về quá trình chiến đấu gian nan để đi đến
chiến thắng vĩ đại cuối cùng giành lại giang sơn ).
"Lam Sơn thực lục" ( là cuốn sử về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ).
"Dư địa chí” ( viết về địa lý lịch sử nước ta ).
hoàn chỉnh. Nhờ điều này mà nó có khả năng hướng tới một chủ đề, một tên
gọi chung. Muốn đảm bảo được tính thống nhất hoàn chỉnh thì văn bản thơ
phải có tính liên kết chặt chẽ - đây chính là đặc trưng thứ hai.
Theo tác giả Hữu Đạt, có thể quan niệm : “Thơ là một thể loại của văn
học được trình bày bằng hình thức ngắn gọn, súc tích nhất với các tổ chức
ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ
nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất, dưới dạng các hình
tượng nghệ thuật” [12, tr25].
1.2.1. Đặc điểm của ngôn ngữ thơ ca Việt Nam
Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ hàm súc, giàu hình tượng, biểu cảm và
giàu sức tưởng tượng. Các yếu tố đó hòa quện vào nhau tạo nên hình tượng
thơ lung linh, đa nghĩa. Đó là thứ ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm góp phần tạo
nên tính họa, tính nhạc trong thơ. Nó biến hóa qua nhiều sắc thái ảo thực bất
ngờ, thú vị.
Tác giả Hữu Đạt đã viết “ Khác với văn xuôi, thơ ca chỉ dùng một
lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống
bao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng như những điều thầm kín trong
tâm linh con người ”. [12, tr6]
Khi nói về đặc điểm của ngôn ngữ thơ người ta thường nói tới 3 đặc
điểm sau :
1) Sự chính xác trong ngôn từ : Mỗi từ ngữ trong câu thơ phải diễn tả
được đúng điều mà nhà thơ nhìn thấy, cảm thấy và những điều sẽ
thấy.
Xét ví dụ sau : Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ sau ngã giá vàng ngoài bốn trăm.
( Truyện Kiều – Nguyễn Du )
Tác giả Truyện Kiều đã sử dụng từ cò kè rất hiệu quả, bởi nó lột tả
Mùa thu rớm máu rơi từng chút
Trong lá bàng thu đỏ ngập trời.
Đường về thu trước xa lắm lắm,
Mà kẻ đi về chỉ một tôi !
( Chế Lan Viên )
Ta có thể thấy câu “ Mùa thu rớm máu rơi từng chút ” có tính hình
tượng bởi sự kết hợp bất ngờ giữa các đơn vị ngôn ngữ tạo thành là giữa chủ
ngữ và vị ngữ. Cụ thể là, động từ làm vị ngữ rớm máu vốn chỉ đi với chủ thể
là sinh vật làm chủ ngữ nhưng đã được nhà thơ cho kết hợp bất ngờ với một
đối tượng trừu tượng vô sinh mùa thu.
2) Tính tương xứng
Đây là một trong những đặc điểm vô cùng quan trọng của ngôn ngữ
thơ ca Việt Nam. Đây là yếu tố đảm bảo cho thơ có một vẻ đẹp đặc biệt, vẻ
đẹp của sự hài hòa. Người ta có thể tiếp cận tính tương xứng trong thơ về mặt ngôn ngữ từ nhiều góc độ khác nhau. Ta có thể phân loại tính tương
xứng qua các góc độ nghiên cứu trên thành các loại :
- Tính tương xứng về âm thanh trong ngôn ngữ thơ.
- Tính tương xứng về ý nghĩa trong ngôn ngữ thơ.
- Tính tương xứng trực tiếp và tính tương xứng gián tiếp trong ngôn
ngữ thơ.
3) Tính nhạc trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam
Tiếng Việt có một đặc điểm là giàu có về nguyên âm, phụ âm và
thanh điệu. Độ dài của các âm tiết trong tiếng Việt thường ngắn và bao giờ
cũng tách rời nhau. Đặc điểm này đã tạo ra cho tiếng Việt ưu thế về tính
nhạc hơn hẳn các thứ tiếng có số lượng nguyên âm, phụ âm ít và không có
thanh điệu.
Trong nền thi ca Việt Nam có không ít bài thơ đã được phổ nhạc.
Chính tính giàu khả năng biểu hiện của các đơn vị ngôn ngữ trong tiếng Việt
- Chơi chữ dựa trên sự đồng dạng về chữ viết – chiết tự.
Chơi chữ là một hiện tượng rất lí thú trong thơ ca Việt Nam. Thủ pháp
chơi chữ thường gây ra những hiệu quả bất ngờ về sự công phá, tính châm
biếm sâu cay đối với những thói hư tật xấu của xã hội, đồng thời nó cũng là
phương tiện để các nghệ sĩ phê phán những thói bất công, bênh vực cho
quyền sống và hạnh phúc của con người.
1.2.2. Đặc điểm của ngôn ngữ thơ ca Việt Nam trung đại Văn học Việt Nam thời trung đại nói chung và thi ca Việt Nam trung
đại nói riêng phát triển theo suốt chiều dài lịch sử của xã hội phong kiến.
Đây là một thời kỳ văn học có tầm quan trọng đặc biệt góp phần làm nên
diện mạo văn chương, tư tưởng, mỹ học của dân tộc. Thi ca Việt Nam trung
đại có những đặc điểm chính sau :
1.2.2.1. Tính ước lệ, tượng trưng
Trong thi ca trung đại, phương thức ước lệ tượng trưng được nhà thơ
sử dụng triệt để, nhuần nhuyễn và phổ biến. Các nhà thơ bao giờ cũng cảm
thụ và diễn đạt thế giới bằng hệ thống nghệ thuật ước lệ. Ước lệ đã trở thành
một đặc trưng thi pháp của thi ca nói riêng và văn học nói chung.
Đặc trưng thi pháp này hình thành từ bối cảnh lịch sử xã hội phong
kiến và cảm quan thẩm mỹ của tầng lớp nghệ sĩ Hán học. Với các nhà thơ
thời này văn chương phải “ Văn dĩ tải đạo ”, “ Thi dĩ ngôn chí ”; sáng tác thơ
văn là hình thức trước thư lập ngôn, nên văn chương ước lệ mới đẹp, mới
sang trọng. Trong tác phẩm, nhà thơ càng sử dụng nhiều nghệ thuật ước lệ
chừng nào thì càng huyền ảo, càng đẹp; và qua đó thực hiện được chức năng
giáo dục đạo lý của nó; mới góp phần hình thành mẫu người phong kiến lý
tưởng. Chúng ta có thể thấy bút pháp ước lệ tương trưng được Nguyễn Du
sử dụng rất nhuần nhuyễn trong Truyện Kiều :
“ Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Trong thi ca trung đại, thể loại thơ tức cảnh cũng như tranh sơn thủy
chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống văn nghệ thời phong kiến.
Thiên nhiên không tách khỏi con người như một khách thể trong văn
chương. Con người cảm thụ thiên nhiên như là một chủ thể. Con người đã
gán cho thiên nhiên những phẩm chất, thuộc tính của chính mình. Thiên
nhiên chưa được khám phá với những giá trị tự thân, chưa thực sự là đối
tượng hiện thực của thơ văn. Người ta tìm đến với thiên nhiên và xem thiên
nhiên như là một đối tượng để giáo huấn đạo đức hay ngụ tình một cách
không tự giác.
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san.
( Truyện Kiều, Nguyễn Du )
Điều này khác với văn chương hiện đại. Văn chương hiện đại tôn
trọng sự sống riêng của tạo vật thiên nhiên. Thiên nhiên được miêu tả như là
một khách thể.
Thi ca trung đại đã miêu tả thiên nhiên theo một bút pháp đặc biệt :
không tả hình xác của tạo vật mà gợi tả linh hồn của thiên nhiên. Thiên
nhiên trở thành ý niệm tượng trưng, dấu hiệu tượng trưng, chứa đựng những
cảm giác, cái không thấy của con người. Thiên nhiên là nơi gởi gắm những
tư tưởng, tình cảm hay triết lý của con người.
Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân qua trăm hoa rụng,
Xuân đáo bách hoa khai. Xuân tới trăm hoa cười,
Sự trục nhãn tiền quá, Trước mắt việc đi mãi,
Lão tòng đầu thượng lai. Trên đầu già tới rồi. Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đình tiên tạc dạ nhất chi mai. Đêm qua sân trước một nhành mai.
( Cáo tật thị chúng, Mãn Giác thiền sư, bản dịch của Ngô Tất Tố )
Chủ đề đạo đức, khuynh hướng giáo huấn có tính phổ biến đối với các tác
phẩm thời kỳ này.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
( Truyện Kiều, Nguyễn Du )
Con người phi cá nhân : trong nền văn học thời trung đại, con người
cá nhân chưa được quan niệm rạch ròi và xây dựng thành một hình tượng
nghệ thuật. Giá trị cá nhân không được xem xét từ bản thân phẩm chất cá
nhân mà ở vai trò của cá nhân trong mối quan hệ giai tầng. Do đó, trong văn
chương, từ ứng xử đến tâm tư, từ tình yêu đôi lứa đến tình yêu nước tất cả
đều theo một chuẩn mực chung của đẳng cấp. Con người cá nhân chưa được
giải phóng về nhiều phương diện. Con người phản ánh trong thi ca thời kỳ
này sống đồng trục, đồng dạng về tư tưởng tình cảm, “ từ đời này sang đời
khác, đại khái chỉ có bấy nhiêu tập tục, bấy nhiêu ý nghĩ, bấy nhiêu tin
tưởng, cho đến những nỗi yêu, ghét, vui, buồn, cơ hồ cũng nằm yên trong
những khuôn khổ nhất định. ” [28, tr15]. Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều
này qua hình ảnh của người phụ nữ. Người phụ nữ thời kỳ này bị ràng buộc
bởi lễ giáo phong kiến, nên mọi hành động đều phải theo khuôn khổ được định sẵn. Ngay cả việc người phụ nữ muốn thể hiện tấm lòng hiếu thảo của
mình cũng phải theo chuẩn mực :
Dâng thư đã thẹn nàng Oanh,
Lại thua ả Tạ bán mình được sao ?
( Truyện Kiều, Nguyễn Du )
1.3. Một vài vấn đề lý thuyết về phép ẩn dụ
1.3.1. Khái niệm về ẩn dụ
Hiện tượng ẩn dụ ( metaphor ) từ lâu đã được các nhà ngôn ngữ học
quan tâm nghiên cứu, thường được coi là cách thức chuyển đổi tên gọi sự
vật dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có tính tương đồng hay giống
dấu hiệu chung gián tiếp ấy mà ta thấy mối quan hệ giữa các sự vật khác
nhau ”. [31, tr159]
Năm 1981, trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt Đỗ Hữu Châu nhấn
mạnh : “ Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y
(để biểu thị y), nếu như x và y giống nhau” và “các sự vật được gọi tên, tức
x và y, không có liên hệ khách quan, chúng thuộc những phạm trù hoàn toàn
khác nhau. Sự chuyển tên gọi diễn ra tùy thuộc vào nhận thức có tính chất
chủ quan của con người về sự giống nhau giữa chúng ”. [4, tr155]
Sau đó trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt Định
Trọng Lạc cũng tiếp cận hiện tượng ẩn dụ theo hướng trên “ ẩn dụ là sự định
danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống
nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện
tượng, hoạt động tính chất) B có tên gọi được dùng chuyển sang cho A ”.
[26, tr52].
Tiếp theo, trong cuốn Phong cách học tiếng Việt Đinh Trọng Lạc viết
chung với Nguyễn Thái Hòa, hiện tượng ẩn dụ được lí giải lại theo hướng
ngắn gọn hơn : “ Ẩn dụ là so sánh ngầm, trong đó vế so sánh được giảm
lược đi, chỉ còn vế được so sánh dựa trên cơ sở của phép chuyển nghĩa khi
hai đối tượng có một nét nghĩa tương đồng ”. [25, tr194]
Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt xuất bản năm
1998 lại lý giải về hiện tượng ẩn dụ ngắn gọn hơn nữa : “ Ẩn dụ là sự chuyển
đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so
sánh với nhau ”. [18, tr162].
Tuy nhiên, tiếp cận hiện tượng ẩn dụ theo quan điểm của phong cách
học một cách đầy đủ thì phải tới cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại
của Hữu Đạt. Ông cho rằng : “ Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra.
Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực
của sự vật hiện tượng này để gọi tên sự vật hiện tượng khác. Do đó khi nói
đến ẩn dụ với tư cách là phương thức biến đổi ý nghĩa của từ ( ẩn dụ từ vựng
), người ta thường chỉ nghĩ đến những ẩn dụ có tính bền vững tương đối,
nghĩa là được xã hội chấp nhận và sử dụng rộng rãi. Chẳng hạn như chân
trời, chân mây, đầu sóng, đầu núi, cánh đồng, cánh thư …
Các nhà ngôn ngữ học như Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn
Thiện Giáp, Đào Thản, Nguyễn Đình Tư … nghiên cứu ẩn dụ theo phương pháp từ vựng học quan niệm ẩn dụ cũng là một phương thức chuyển nghĩa
của từ.
Ẩn dụ từ vựng làm cho ý nghĩa của từ được mở rộng để biểu thị được
nhiều sự vật hiện tượng hơn, tức là làm cho từ trở thành từ nhiều nghĩa.
Theo [32, tr90] để tạo ra ẩn dụ loại này người ta dựa trên một số mối quan
hệ giữa các sự vật hay hiện tượng. Có 3 loại quan hệ chủ yếu là :
- Quan hệ giữa nghĩa cụ thể và nghĩa trừu tượng, nghĩa là lấy vốn từ
trước đây chỉ dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động hay đặc
trưng, tính chất cụ thể để chỉ một khái niệm trừu tượng. Chẳng hạn như :
nho chín và nghĩ chín trong tiếng Việt, soft ( mềm mại ) và soft winter ( mùa
đông ôn hòa, dễ chịu ) trong tiếng Anh.
- Quan hệ giữa người và vật, nghĩa là lấy tên gọi của bộ phận cơ thể,
hành vi, tính chất hay đồ dùng của người để biểu thị các bộ phận, tính chất
hay hành động của vật. Ví dụ : mặt trong mặt bàn, mặt chiếu, lưỡi trong lưỡi
dao, lưỡi rìu trong tiếng Việt.
- Quan hệ giữa vật và người, tức là lấy tên gọi của vật, hoặc bộ phận,
hành vi, tính chất của vật để chỉ người hay bộ phận, hành vi, tính chất của
người. Chẳng hạn như những từ cò mồi (chỉ người làm trung gian để kiếm
lời), cò hương (chỉ người cao hay gầy), lá phổi, quả tim hay fish (chỉ người
bị mồi chài) trong tiếng Anh.
Một trong những nhà nghiên cứu tiêu biểu cho khuynh hướng nghiên
4) Sự giống nhau về thuộc tính, tính chất nào đó: (cây) khô - (tình cảm)
khô - (lời nói) khô…
5) Sự giống nhau về một đặc điểm, một vẻ bề ngoài nào đó: đàn ông
đẹp được gọi là Phan An, Tống Ngọc, đàn bà đẹp được gọi là Tây Thi;
đàn ông xấu xí - Chí Phèo, đàn bà xấu xí- Thị Nở…
6) Ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng: hạt nhân (của quả) - hạt nhân (của
vấn đề), nắm (tay) - nắm (ngoại ngữ, tình hình…)
7) Chuyển tên con vật thành tên con người: con chó con của mẹ; ấy là
con rắn độc…
8) Chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật hoặc hiện tượng khác (còn
gọi là nhân cách hóa): thời gian đi, con tàu chạy, gió gào thét…
9) Tương đồng trạng thái: “Ngôi sao ấy lặn hóa bình minh” (Tố Hữu)
Ngôi sao lặn và Bác Hồ qua đời có trạng thái như nhau (không còn),
sao lặn biểu thị Bác Hồ từ trần.
Dựa vào hai trường hợp thay tên gọi theo phép ẩn dụ Nguyễn Đức Tồn
lại phân ra hai loại ẩn dụ: ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ; trong đó tác giả định
nghĩa ẩn dụ từ vựng như sau : “ Ẩn dụ chết hay còn gọi là ẩn dụ từ vựng là
loại ẩn dụ định danh, tính chất bóng bẩy hay hình tượng của ẩn dụ không
còn nữa và nghĩa chuyển được tạo ra theo phép ẩn dụ này đã được cố định
hóa trong hệ thống ngôn ngữ, được đưa vào nghĩa của từ trong từ điển và
được toàn dân sử dụng. Thí dụ: Tay người: Tay làm hàm nhai. Do được
chuyển nghĩa theo ẩn dụ, ta có tay đòn, tay ghế… ” [38, tr1-9]
Như vậy có thể thấy các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng từ vựng
học đều có chung quan điểm ẩn dụ từ vựng là một phương thức chuyển
nghĩa của từ, làm cho từ trở thành từ nhiều nghĩa.