Khảo sát từ ngữ một số tác phẩm Hán văn Đông Kinh Nghĩa Thục - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THÚY NHUNG Khảo sát từ ngữ một số tác phẩm Hán văn
Đông Kinh Nghĩa Thục LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2008

40

Tiểu kết 43
CHƯƠNG 2. thực từ trong Hán văn Đông kinh nghĩa thục 45
2.1. Những căn cứ cơ sở để khảo sát thực từ 45
2.1.1. Khái niệm thực từ 45
2.1.2. Thực từ trong các văn bản Hán văn Đông Kinh Nghĩa Thục 46
2.2. Khảo sát từ đơn tiết Hán văn Đông Kinh Nghĩa Thục 46
2.2.1. Khái niệm và đặc điểm từ đơn tiết trong Hán ngữ cổ đại 46
2.2.2. Đặc điểm từ đơn tiết trong Hán văn Đông Kinh Nghĩa Thục 49
2.3. Khảo sát phơng thức cấu tạo từ đa tiết 50
2.3.1. Khái niệm từ đa tiết 50
2.3.2. Khảo sát từ ghép phức hợp 52
2.3.3. Khảo sát từ ghép đơn thuần 57
2.4. Khảo sát ngữ nghĩa từ đa tiết 58
2.4.1. Với từ ngữ vốn có 58
2.4.2. Với từ ngữ hoàn toàn mới 65
2.5. Một số ảnh hởng của Hán văn Trung Quốc đơng thời tới Hán văn Đông
Kinh Nghĩa Thục 84

2.5.1. Hiện tợng tồn tại các từ tơng ứng 84
2.5.2. Hiện tợng cha ổn định của từ đơn tiết, song tiết và đa tiết 97
2.5.3. Hiện tợng không cố định của trật tự ngữ tố 100
Tiểu kết 108
CHƯƠNG 3. h từ trong Hán văn Đông kinh nghĩa thục 110
3.1. Những căn cứ cơ sở để khảo sát h từ 110

3.1.1. Khái niệm h từ 110
3.1.2. Văn ngôn hậu kỳ 112
3.2. Tỷ lệ h từ trong Hán văn Đông Kinh Nghĩa Thục 113

Tiếng Việt 179
Tiếng Anh 182
Tiếng Nga 182
Tiếng Trung Quốc 183
Các tác phẩm dùng để trích dẫn 188
Phụ lục luận án 189
Danh sách từ song tiết trong một số tác phẩm Hán văn Đông
Kinh Nghĩa thục 189

Danh sách từ ngữ có trật tự ngữ tố không cố định trong Hán
văn đông kinh nghĩa thục 220

Danh sách từ ngữ mới trong Hán văn 222
đông kinh nghĩa thục 222
Danh sách h từ song tiết trong một số tác phẩm Hán văn
đông kinh nghĩa thục 237
1
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử tiếp xúc giữa ngời Hán và ngời Việt và lịch sử các giai đoạn tiếp
nhận từ ngữ Hán trong lịch sử lâu dài của tiếng Việt là rất đa dạng. Chữ Hán là một
hệ thống chữ viết có mặt liên tục trên nớc ta trong khoảng gần hai nghìn năm.
Ngời Việt Nam từ cổ trung đại đều dùng Văn ngôn (chữ Hán) để sáng tác các tác
phẩm của mình. Nhng có lẽ giai đoạn đầu thế kỷ XX là giai đoạn đã tạo ra dấu ấn

giai đoạn chuyển giao lịch sử, khi nhu cầu giao lu kinh tế và văn hóa giữa các nớc
đang là một xu thế mang tính toàn cầu chúng ta không thể không nhìn lại thế kỷ XX
để tự tin bớc vào một thế kỷ mới. Văn hóa Việt Nam đang trên đà hội nhập với văn
hóa thế giới, nhu cầu nhìn lại mình để trở thành chính mình, để làm bạn với thế giới
là rất quan trọng. Trong quá trình đổi mới đó, chúng ta nhìn nhận lại những vấn đề
đợc đặt ra và giải quyết nh thế nào từ những năm đầu thế kỷ trớc là việc hết sức
cần thiết.
Bất luận nhìn từ góc độ sử học hay ngôn ngữ học, khi nghiên cứu những phong
trào văn hóa mới đầu thế kỷ XX, nghiên cứu ngôn ngữ của Việt Nam thế kỷ XX,
nghiên cứu những bớc chuyển biến của Việt Nam từ một xã hội truyền thống sang
một xã hội hiện đại, hay nghiên cứu Việt Nam từng bớc đi vào quĩ đạo của thế giới,
đều cảm thấy đây là một đề tài hết sức hấp dẫn. Bởi vì, đây là một thế kỷ đầy biến
động của nớc nhà, thế kỷ giơng cao hai ngọn cờ độc lập, dân tộc và dân chủ
xã hội .
Nh chúng ta đã biết, yếu tố chất liệu để cấu tạo nên văn bản là từ và ngữ. Mối
quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội luôn đợc thể hiện bằng từ ngữ. Bởi vì, khi một sự
vật mới, một t tởng mới v.v ra đời đều cần có những từ ngữ để thể hiện sự vật
mới, t tởng mới đó trong văn bản. Thời kỳ Đông Kinh Nghĩa Thục là thời kỳ có
nhiều cái mới, những cái mới này đợc phản ánh vào trong ngôn ngữ. Chính vì vậy,
khảo sát từ ngữ trong văn bản Hán văn của Đông Kinh Nghĩa Thục là thực sự cần
thiết.
2. Lịch sử vấn đề và mục đích nghiên cứu đề tài
2.1. Lịch sử vấn đề
3
Tân th, Tân văn Trung Quốc đã có ảnh hởng mới cả về nội dung, t tởng
lẫn ngôn ngữ vào tiếng Việt. Từ trớc tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu
dới góc độ lịch sử và văn học và ngôn ngữ. Dới góc độ lịch sử có thể kể đến tác

chiếu, Bình ngô đại cáo v.v. Cho đến tận đầu thế kỷ XX, nhóm Đông Kinh Nghĩa
Thục vẫn dùng chữ Hán để thực hiện công cuộc cách mạng của mình, chủ tịch Hồ
Chí Minh vẫn dùng chữ Hán để sáng tác văn thơ theo thể thơ Đờng luật. Do vậy, có
thể nói Hán văn của Việt Nam vẫn bảo lu những yếu tố cổ của thời kỳ trớc, phản
ánh đợc cách viết (Văn ngôn) và từ ngữ của thời kỳ trung đại.
Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục chịu ảnh hởng của phong trào Duy tân của
Trung Quốc. Vì vậy tiếp thu Tân th, Tân văn của Trung Quốc (một cách viết mới
của Hán văn Trung Quốc đơng đại) là một trong những biểu hiện cụ thể đó. Vì vậy,
việc nghiên cứu các tác phẩm Hán văn của Đông Kinh Nghĩa Thục là tìm hiểu biến
đổi của Hán văn giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam trong mối
quan hệ với sự biến đổi giữa Văn ngôn và Bạch thoại của Hán văn Trung Quốc nói
chung và Hán văn Tân văn thể nói riêng. Hay nói một cách khác là để khảo sát xem
Hán văn Việt Nam đã tiếp thu Tân văn thể của Trung Quốc nh thế nào ?
Chữ Hán còn là công cụ để ngời Việt Nam tiếp thu văn minh phơng Tây qua
phơng Đông, vì vậy trên cơ sở văn bản Hán văn của Đông Kinh Nghĩa Thục, ta có
thể tìm hiểu nguồn gốc và con đờng từ ngữ Hán Việt mới vay mợn vào tiếng Việt
đầu thế kỷ XX.
3. Phạm vi, đối tợng và t liệu nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Giai đoạn cận đại, giai đoạn tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Đông - Tây, đã đợc
các nớc trong khu vực quan tâm nghiên cứu, ví dụ nh:
Cận đại Đông Tây ngôn ngữ văn hóa tiếp xúc nghiên cứu xuất bản năm 2001 và
- Cận đại khởi mông đích tông tích-
Đông Tây văn hóa giao lu dữ ngôn ngữ tiếp xúc xuất bản năm 2002 của nhà nghiên
cứu ngời Nhật Bản (Keiu chid) và (Chu Quang Khánh) nhà
ngôn ngữ học Trung Quốc với cuốn Hán ngữ
dữ Trung Quốc tân văn hóa khởi mông xuất bản năm 1995. Xuất phát từ những
hớng nghiên cứu đó, trong phạm vi luận án này chúng tôi chọn giai đoạn đầu thế
kỷ XX. Giai đoạn mà Nguyễn Tài Cẩn đã nhận định: Giai đoạn có sự hiện đại hóa


Tân văn Trung Quốc làm đối tợng so sánh. Cụ thể ở đây là những tác phẩm: Việt 6
Nam vong quốc sử với nội dung của Phan Bội Châu, ngời chấp bút là Lơng Khải
Siêu (đã đợc học giả ngời Nhật Kawamoto Kiniye chứng minh) với dung lợng là
48 trang khổ 14,0 x 20,0 cm [46, tr.346] và một số tác phẩm khác của Khang Hữu
Vi, Lơng Khải Siêu nh Thuyết tân dân, Tuyển tập ẩm băng thất.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Căn cứ theo yêu cầu của luận án, chúng tôi vận dụng những kiến thức Hán văn
cổ làm cơ sở phân loại từ, nhấn mạnh vào đặc điểm từ một âm tiết bằng một từ đơn.
Trên cơ sở phân tích văn bản để xác định từ ngữ của văn bản. ở đây chúng tôi
nghiên cứu từ ngữ không phải có sẵn trong từ điển mà từ ngữ trên văn bản, vì vậy
phơng pháp phân định từ trên văn bản đợc vận dụng triệt để. Cụ thể là chúng tôi
căn cứ vào chức năng và ý nghĩa của đơn vị đợc dùng mà xác định cơng vị từ, ngữ
của chúng.
Phơng pháp thứ hai đợc chúng tôi vận dụng là phân tích đồng đại động.
Phân tích đồng đại động trong một nhát cắt thời gian, nhng chú ý đến những nhân
tố biến đổi ngôn ngữ trong sự phát triển của giai đoạn đó. ở đây, chúng tôi sử dụng
phơng pháp phân tích hệ thống để xác lập cấu tạo đơn vị từ, ngữ trong văn bản với
quan điểm động. Điều đó có nghĩa là khi xác định từ ngữ chúng tôi chú ý thích đáng
đến sự biến đổi tơng ứng với thời kỳ nghiên cứu trong mối liên hệ với trớc và sau
đó.
Phơng pháp so sánh đối chiếu cũng đợc sử dụng để thấy cái giống và cái
khác về từ và ngữ của hai loại Hán văn cùng thời ở Việt Nam và Trung Quốc.
Ngoài những cách t duy diễn dịch, qui nạp, các thủ pháp thống kê định lợng,
định tính, phơng pháp phân tích các thành tố cấu trúc; phơng pháp truy tìm từ
nguyên cũng đợc vận dụng để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra trong luận án.
ở một mức độ nhất định, luận án có phân tích từ ngữ trong mối quan hệ với
văn hóa và lịch sử.

của Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ngoài ra, từ góc độ ngôn 8
ngữ có thể phản ánh phần nào đặc điểm của giao lu văn hoá Đông-Tây và giao lu
văn hoá Việt-Trung.
Mặt khác, việc nghiên cứu từ ngữ trên các văn bản Hán văn Đông Kinh Nghĩa
Thục giúp cho chúng ta nhận diện đợc: con đờng ngời Việt mợn từ ngữ từ tiếng
Hán trong giai đoạn này
- giai đoạn có nhiều biến chuyển trong xã hội và cả trong
ngôn ngữ ở Việt Nam. Qua đó chứng tỏ vai trò cầu trung chuyển từ ngữ vào tiếng
Việt qua các văn bản Hán văn của ngời Việt nói chung, cũng nh qua Hán văn của
Đông Kinh Nghĩa Thục nói riêng.
Nh chúng ta đã biết, sinh viên ngày nay chỉ đợc học Hán ngữ hiện đại - Bạch
thoại hiện đại. Vì vậy, đối với việc giảng dạy tiếng Hán, ngời giáo viên phải có cái
nhìn lịch sử đối với nghĩa của từ trong tiếng Hán, tránh những quan niệm thô sơ đơn
giản, dùng những cứ liệu Hán ngữ hiện đại để xử lý các vấn đề từ ngữ trong văn bản
Hán văn cổ. Đặc biệt là các văn bản Hán văn cổ của Việt Nam thì lại càng phải thận
trọng hơn.
6. Bố cục của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo và Tác phẩm dùng
để trích dẫn, luận án gồm bốn chơng, nh sau :
Chơng một: Hán văn Việt Nam và Hán văn Đông Kinh Nghĩa Thục. Để
hiểu rõ Hán văn Đông Kinh Nghĩa Thục nh thế nào trong hoàn cảnh chung của
Hán văn Việt Nam, chúng tôi dành chơng một để giới thiệu một vài nét khái quát
về hoàn cảnh ra đời Hán văn ở Việt Nam và đặc điểm của Hán văn Việt Nam. Ngoài
ra Hán văn Đông Kinh Nghĩa Thục đợc ra đời trên cơ sở tiếp thu t tởng của Tân
th, Tân văn. Vì vậy, trên cơ sở giới thiệu một vài nét chính của t tởng Tân th,
lối viết Tân văn thể của Tân th, chúng tôi sẽ trình bày về đối tợng khảo sát của
luận án - phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và tác phẩm Hán văn của phong trào

Để phục vụ cho việc nghiên cứu từ ngữ Hán văn đầu thế kỷ XX qua các tác phẩm
Hán văn của Đông Kinh Nghĩa Thục, luận án sẽ dành chơng một để làm rõ một số
vấn đề có tính lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu. Hán văn Đông Kinh Nghĩa
Thục là Hán văn Việt Nam. Vì vậy, phần lý luận chúng tôi sẽ trình bày Hán văn Việt
Nam trong mối quan hệ với quá trình tiếp xúc hai ngôn ngữ Hán và Việt. Trong quá
trình tiếp xúc Hán và Việt, chữ Hán đã đợc mợn làm văn tự nhà nớc trong gần hai
nghìn năm ở Việt Nam. Tiếp theo, chúng tôi trình bày Hán văn Việt Nam tồn tại dới
dạng nào trong mối quan hệ với tiến trình phát triển của tiếng Hán ở Trung Quốc: Văn
ngôn hay Bạch thoại? Trong phần thực tiễn, chúng tôi sẽ trình bày sự ra đời các tác
phẩm Hán văn Đông Kinh Nghĩa Thục trên cơ sở tiếp thu t tởng của Tân th, Tân
văn Trung Quốc đầu thế kỷ XX.
1.1. Tiến trình của Hán văn Việt Nam
1.1.1. Tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt
Chữ Hán là một hệ thống chữ viết có mặt liên tục ở nớc ta vào khoảng gần hai
nghìn năm. Sự du nhập và phổ biến văn tự Hán văn ở nớc ta diễn ra trong một hoàn
cảnh đặc biệt, bằng những phơng thức đặc biệt và cũng diễn biến theo những hớng
riêng biệt qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau. Cho đến nay không ai có thể phủ nhận
đợc rằng, trong quá trình phát triển, các ngôn ngữ lại không chịu ảnh hởng và chịu
tác động của văn hóa ngoại lai. Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ thờng đi
theo một quá trình nh sau: (1) Điều kiện tiếp xúc; (2) Các khả năng tiếp xúc; (3) Kết
quả tiếp xúc. Tiếng Việt cũng nằm trong qui luật chung đó. Quá trình tiếp xúc ngôn
ngữ Hán và Việt đi theo tiến trình chung nh sau:
(1) Bối cảnh lịch sử chữ Hán đợc truyền bá vào Việt Nam: Trong khoảng hai
nghìn năm của quan hệ tiếp xúc Hán và Việt, căn cứ vào thời gian tiếp xúc và nhiều
yếu tố khác nhau. Tiếp xúc Hán và Việt có nhiều cách phân kỳ khác nhau. Ví dụ: một
số học giả chia khoảng thời gian này làm 4 thời kỳ: thời kỳ thứ nhất: ngời Việt đi du
học Trung Quốc; thời kỳ thứ hai: học đạo Phật (từ đời Đờng đến tiền Lê); thời kỳ thứ 11

tục đi xuống phía Nam, ảnh hởng vào Việt Nam, rồi đi lên phía Bắc đi vào quốc gia
Câu Cú Lệ ở Triều Tiên. Sau đó vài thế kỷ nó đi về phía Đông, vợt biển thâm nhập 12
vào nớc Nhật. Trong điều kiện văn minh thời trung cổ, chữ Hán cũng giống nh chữ
La tinh trở thành văn tự dùng chung cho cả vùng, dần dần chữ Hán không còn là văn
tự của riêng dân tộc Hán nữa. Trong địa bàn Đông Nam á, chữ Hán ít nhất cũng trở
thành văn tự chính thức của tầng lớp thống trị, tầng lớp trí thức ở nhiều dân tộc khác.
Giai đoạn này là thời kỳ mở đầu cho quá trình văn hóa Việt Nam tiếp xúc, giao
lu, tiếp nhận văn hóa Trung Hoa. Nhng có một điều đáng nói ở đây là tuy tiếp xúc
trực tiếp và thờng xuyên với Trung Quốc, nhng ở giai đoạn này, Việt Nam tiếp nhận
văn hóa Trung Hoa cha nhiều. Nổi bật ở giai đoạn này là Phật giáo đợc truyền vào
Việt Nam. Nh chúng ta đã biết, Phật giáo vào Việt Nam theo hai con đờng: một là
trực tiếp từ ấn Độ vào Việt Nam; hai là từ ấn Độ, sau đó qua con đờng Trung Quốc,
đợc truyền bá vào Việt Nam. Trong hai con đờng đó, con đờng chủ yếu là từ ấn
Độ qua Trung Quốc rồi mới vào Việt Nam. Cùng với Phật giáo, Nho giáo cũng đợc
truyền bá vào Việt Nam, tuy cũng có những ảnh hởng nhất định, nhng cha phải là
tôn giáo chính thức ở Việt Nam, không ăn sâu bén rễ vào làng xã Việt Nam. Cùng với
sự chống Bắc thuộc quyết liệt về mặt chính trị, nét chủ đạo của giai đoạn này là xu
hớng chống Hán hóa về mặt văn hóa và Việt Nam hóa các ảnh hởng của Trung
Quốc.
* Giai đoạn 2 (Giai đoạn này còn đợc gọi là giai đoạn tiếp xúc gián tiếp): Sau
thế kỷ X, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập. Nét nổi bật của giai đoạn này
là tiếng Hán không còn có những ảnh hởng một cách trực tiếp với vai trò quyết định
nh trớc nữa và ngời Việt đã chủ động tiếp thu tinh hoa của văn hoá Hán.
Nếu nh giai đoạn một là giai đoạn tiếp xúc trực tiếp với tiếng Hán thì giai đoạn
hai là giai đoạn tiếp xúc gián tiếp thông qua th tịch (tự điển, vận th, vận đồ v.v) và
sự tiếp xúc trực tiếp lẻ tẻ qua các cuộc xâm lợc của đội quân phong kiến phơng Bắc.
Lịch sử đã cho biết dới đời Lý, Trần và cuối đời Hậu Lê vẫn có những đợt xâm chiếm

đã ra sức bảo vệ, duy trì những gì đã tiếp thu đợc trớc đó về mặt văn hóa, nhất là về
mặt ngôn ngữ văn tự, góp phần đắc lực trong việc củng cố, tuyên truyền cho vai trò
của Văn ngôn chữ Hán. Dới sự ủng hộ của tầng lớp thống trị, tầng lớp trí thức Việt
Nam, chữ Hán đợc dùng rộng rãi ở Việt Nam cho đến tận đầu thế kỷ XX.
(2) Các tình huống tiếp xúc: Vấn đề tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt là
một vấn đề hết sức phức tạp. Sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Hán là một quá trình
bao gồm nhiều khả năng, nhiều tình huống, mỗi tình huống đa lại một hậu quả riêng.
Tất nhiên, ở đây không phải là sự tiếp xúc một chiều, không phải bao giờ cũng là sự
tiếp xúc ảnh hởng của tiếng Hán đối với tiếng Việt, mà trong sự tiếp xúc giữa hai
ngôn ngữ bao giờ ảnh hởng cũng xẩy ra ở cả hai chiều, từ tiếng Hán sang tiếng Việt
và ngợc lại. Có khi chiều ảnh hởng chỉ đi theo một đờng thẳng đơn giản, theo diễn 14
tiến đơn tuyến, nhng cũng có khi ảnh hởng lại đi theo đờng song tuyến hai chiều từ
tiếng Hán sang tiếng Việt, rồi từ tiếng Việt sang tiếng Hán. Tất nhiên, trong thực tế, sự
ảnh hởng không thể là bình đẳng, sẽ có chiều mạnh và chiều yếu. Vì vậy, về đại thể
có thể kết luận về các khả năng tiếp xúc Hán và Việt:
- Trong mối quan hệ giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt, chiều ảnh hởng đơn tuyến
từ tiếng Hán sang tiếng Việt là chiều hớng đã lu lại dấu ấn rõ rệt.
- Trong các khả năng khác nhau ảnh hởng khác nhau thì con đờng đi thẳng từ
tiếng Hán sang tiếng Việt là khả năng chủ đạo.
(3) Kết quả tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt: Mỗi giai đoạn tiếp xúc sẽ dẫn đến
các hệ quả khác nhau, sau đây là những kết quả tiếp xúc của từng giai đoạn đó:
Giai đoạn 1: Trong giai đoạn này văn hoá Trung Quốc cũng đã có những ảnh
hởng nhất định tới Việt Nam, nh văn hóa, phong tục, lối sống và ngôn ngữ. Văn hóa
Trung Hoa du nhập vào Việt Nam, chữ Hán đợc dùng làm văn tự nhà nớc, lu lại ở
Việt Nam một khối lợng văn bản Hán văn mang dấu ấn của văn hóa văn minh Trung
Hoa.
Giai đoạn 2: Sự phát triển mạnh mẽ của Nho giáo cùng với việc các nhà nho đi

Hán ngữ
cổ đại
Trung cổ Văn ngôn Đông Hán đến Tùy
B Hán ngữ trung đại Văn ngôn và Bạch
thoại
Thời kỳ Hán Đờng
C Hán ngữ cận đại Văn ngôn và Bạch
thoại
Vãn Đờng ngũ đại đến
Tống, Nguyên, Minh
Văn ngôn và Bạch
thoại
Thanh trở đi D Hán ngữ hiện đại
Bạch thoại Từ 1956 đến nay
(2) Khái niệm Văn ngôn: Trong cuốn từ điển Hán ngữ hiện đại đợc Văn ngôn
định nghĩa: là một loại ngôn ngữ sách vở lấy Hán ngữ cổ đại làm cơ sở, rất thông
dụng trớc cuộc vận động Ngũ Tứ (ngày 4 tháng 5 năm 1919) [76, tr.1205].
Cách dùng từ, câu trong Văn ngôn về cơ bản đều lấy những tác phẩm thời Xuân
Thu Chiến Quốc làm cơ sở. Cho nên có thể nói, Văn ngôn là một loại ngôn ngữ sách
vở lấy những tác phẩm thời Tiên Tần làm qui phạm và cũng bao gồm cả thứ ngôn ngữ
trong các tác phẩm phỏng cổ của các tác giả lịch đại sau này. Văn ngôn thời kỳ đầu
đợc xây dựng trên nền tảng khẩu ngữ (khẩu ngữ thời Tiên Tần), nó thống nhất với
khẩu ngữ, khi đó văn và ngôn là thống nhất với nhau. Các tác phẩm Văn ngôn đều
lấy tiếng Quan Thoại (lúc đó gọi là Nhã ngôn) làm cơ sở. Thi và Th là những tác
phẩm sử dụng Nhã ngôn, là mẫu mực cho cách viết của ngời đơng thời. Ngời đi 16
học, khi viết một văn bản, phải viết theo khuôn mẫu và cách nói có trong sách vở.
Cách tạo văn bản của họ giống nh việc điền từ. Hệ quả của cách viết này là sự khác


17
Đặc điểm nổi bật của Văn ngôn là việc sử dụng một hệ thống h từ rất phong
phú, có qui định nghiêm ngặt về cách sử dụng. Ngời ta có thể căn cứ vào sự xuất hiện
và cách sử dụng h từ này để phân biệt Văn ngôn với Bạch thoại và Văn ngôn từng
thời kỳ. Chính vì vậy ngời ta nói chi, hồ, giả, dã, là nói đến Văn ngôn,
việc xuất hiện các h từ này là một trong những tiêu chí quan trọng để nhận diện Văn
ngôn.
Trong gần 2000 năm, độc chiếm ngôi vị thống lĩnh trong ngôn ngữ viết, Văn
ngôn cũng chịu nhiều áp lực trớc đòi hỏi của cuộc sống, đã có nhiều lần cải biến,
trong đó có thể kể đến phong trào cổ văn do Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên thời Đờng
chủ xớng. Sau đó vài thập kỷ, vào thập niên cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX sự
phát triển của Văn ngôn, gắn liền với tên tuổi các nhà hoạt động xã hội nh Lơng
Khải Siêu, các nhà phiên dịch nổi tiếng nh Nghiêm Phục mà trong đó tiêu biểu nhất
là phong cách Văn ngôn - Tân văn thể do Lơng Khải Siêu đề xớng. Tân văn thể đã
đa Văn ngôn gần với Bạch thoại và đợc nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là bớc quá
độ từ Văn ngôn truyền thống sang Bạch thoại hiện đại.
Mặc dầu đã có một loạt những cuộc cải cách qua các thời kỳ, nhng Văn ngôn
vẫn tồn tại ở Trung Quốc cho đến tận nửa đầu thế kỷ XX và nó chỉ bị phế bỏ sau cuộc
cách mạng văn học Ngũ Tứ năm 1919. Ngày nay, Văn ngôn đã bị thay thế hoàn toàn ở
Trung Quốc, khiến cho số ngời đọc viết và hiểu đợc Văn ngôn rất ít, nhng có thể
nói Văn ngôn - một ngôn ngữ viết có lịch sử lâu đời này vẫn là nơi lu giữ truyền
thống văn học và văn hóa của Trung Quốc cũng nh một số nớc trong khu vực trong
đó có Việt Nam.
(3) Khái niệm Bạch thoại: Bạch thoại có lịch sử tơng đối lâu dài, diễn ra theo
tiến trình: từ Bạch thoại cổ đại (Bạch thoại từ đời Đờng Tống trở về trớc) đến Bạch
thoại trung đại (từ Minh Thanh trở về sau) và Bạch thoại hiện đại (sau cuộc vận động
Ngũ Tứ đến nay). Vì vậy, Bạch thoại hiện đại là sự phát triển trực tiếp của Bạch thoại
cổ đại. Nó là một thứ ngôn ngữ của cùng một dân tộc đợc sử dụng trong các giai
đoạn lịch sử khác nhau. Về mặt cấu tạo, ngữ âm từ vựng, ngữ pháp đều thống nhất với

đơng. Mặt khác, cả hai cùng bị thẩm thấu bởi ngôn ngữ trong cuộc sống nên có sử
dụng khẩu ngữ lúc đơng thời. Những tác phẩm Bạch thoại thời kỳ đầu thờng là Văn
ngôn - Bạch thoại xen lẫn mà điển hình là tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa.
1.1.2.2. Đặc điểm của Hán văn Việt Nam
(1) Khái niệm Hán văn Việt Nam: Thuật ngữ Hán văn là một khái niệm có nội
hàm phong phú. Theo giới thuyết của Phạm Văn Khoái, Hán văn là: Ngôn ngữ viết
tiếng Hán, chữ Hán, văn chơng chữ Hán . Khái niệm Hán văn Việt Nam sẽ đợc 19
hiểu theo tinh thần của Hán văn và thêm hai chữ Việt Nam [21, tr. 6]. Nh vậy, thuật
ngữ Hán văn Việt Nam có thể đợc định nghĩa là Những văn bản do ngời Việt Nam
viết bằng chữ Hán.
(2) Đặc điểm của Hán văn Việt Nam: Theo Nguyễn Tài Cẩn: Trong tiến trình
phát triển của tiếng Việt, có một đặc điểm nổi bật đó là sự tồn tại của chữ Hán trong
hệ thống văn tự của Việt Nam cho đến tận Giai đoạn tiếng Việt cận đại. Nhng điều
đáng chú ý là Hán văn ở Việt Nam chỉ có ở dạng Văn ngôn không có ở dạng Bạch
thoại nh ở Trung Quốc [9, tr. 403].
Hán văn ở Việt Nam chỉ có lối viết dạng Văn ngôn, không có ở dạng Bạch thoại
đã đợc nhiều nhà ngôn ngữ học chứng minh. Họ cho rằng: Ngôn ngữ văn tự Hán
đợc du nhập và truyền bá vào Việt Nam từ đầu công nguyên đến cuối thế kỷ IX là
Văn ngôn. Những giai đoạn tiếp theo, từ đời Đờng Tống, Hán văn ở Trung Quốc đã
sản sinh thêm một khái niệm mới - Bạch thoại và các triều đại tiếp sau: Nguyên,
Minh, Thanh ở Trung Quốc tiếng Hán vẫn tiếp tục diễn biến, nhng những diễn biến
đó không còn có tác động trực tiếp có vai trò quyết định đến Hán văn ở Việt Nam nữa.
Hán Văn cổ (Văn ngôn) ở Việt Nam hầu nh đứng bên lề những sự đổi thay diễn biến
trong ngôn ngữ Hán qua các thời đại [7, tr. 39]. Tất nhiên việc tiếp xúc lẻ tẻ qua
những lần xâm lợc của phong kiến phơng Bắc vẫn gây những ảnh hởng nhất định
với Hán văn Việt Nam, nhng về cơ bản vẫn là Văn ngôn của thời kỳ đợc truyền bá
vào Việt Nam.

Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ theo chân các cố đạo len lỏi vào một bộ phận công chúng
Việt Nam. Vị thế của chữ Hán đã bị thách thức. Mặc dầu vậy, hơn 2 thế kỷ xuất hiện
chữ Quốc ngữ, thành trì Hán học và vị thế ngôn ngữ hành chính của Hán văn vẫn cha
bị tấn công. Cho đến khi thực dân Pháp xâm lợc Việt Nam, việc học hành, tiếp nhận
chữ Hán bị ảnh hởng nặng nề.
Mở đầu là ở Nam Kỳ, năm 1867 thực dân Pháp đã loại bỏ việc thi cử bằng chữ
Hán. Năm 1869 đã loại bỏ chữ Hán khỏi lĩnh vực hành chính bằng nghị định ngày
22/02/1869 trong đó qui định, bắt đầu từ ngày 01/04/1869 tất cả mọi giấy tờ chính
thức đều phải viết bằng mẫu tự châu Âu (chữ cái La tinh). Các văn bản Hán văn chỉ
có giá trị tham khảo. Chữ Hán chỉ còn đợc dạy trong các trờng t của các thầy đồ.
Dạy và học chữ Hán chỉ còn đợc xem nh biểu hiện cố giữ lấy đạo nhà, biểu thị sự
bất hợp tác với giặc, tỏ lòng yêu nớc. . Chính vì vậy, phong trào học chữ Hán ngày
càng thu hẹp và bị liệt vào loại trờng t bị thực dân kiểm soát.
ở Trung Kỳ, bằng chỉ dụ: Công văn phải dùng quốc ngữ của vua Khải Định
vào năm 1919, chữ Hán đã chính thức bị loại bỏ trong lĩnh vực hành chính. Năm 1918,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status