ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BÙI THỊ XUÂN HƯƠNG Khảo sát các phương tiện biểu thị tình thái phản thực
hữu (counter- factive) trong tiếng Việt
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành: LÍ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 60 22 01 Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN VĂN HIỆP.
việc dịch thuật và giảng dạy ngoại ngữ (đặc biệt là vấn đề dạy tiếng Việt cho người
nước ngoài). Luận văn sẽ là những cứ liệu đáng tin cậy phục vụ cho công việc dạy
tiếng, giúp cho người học nhận thức được các phương tiện biểu thị tình thái phản
thực hữu trong tiếng Việt, giúp cho việc phát triển các kĩ năng sử dụng và nhận
thức các phương tiện phản thực hữu trong quá trình học tiếng. Do đó, kết quả khảo
sát của luận văn chắc chắn là tài liệu tham khảo thiết thực phục vụ cho việc xây
2
dựng các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, ở các hình thức khác
nhau.
2. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung vào việc nghiên cứu các
phương tiện từ vựng và phương tiện ngữ pháp biểu thị tình thái phản thực hữu
trong tiếng Việt từ nguồn tư liệu chọn lọc ở một số tác phẩm văn học, báo chí,
kịch
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
Xác lập khung lí thuyết có hiệu lực để nghiên cứu tình tháI nói chung và tình
thái phản thực hữu nói riêng trong tiếng Việt.
Khảo sát các phương tiện từ vựng dùng để biểu thị tình thái phản thực hữu
trong tiếng Việt.
Khảo sát các phưưong tiện ngữ pháp dùng để biểu thị tình thái phản thực hữu
trong tiếng Việt.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được định hướng theo các phương pháp nghiên cứu chung và các
thủ pháp ngôn ngữ học cụ thể.
Phương pháp diễn dịch: Xuất phát từ lí luận tình thái nói chung để soi sáng
một vấn đề lí luận tình thái cụ thể là vấn đề các phương tiện biểu thị tình thái phản
thực hữu trong tiếng Việt
Phương pháp quy nạp: Nhận xét các hiện tượng từ nguồn tư liệu chọn lọc ở
vấn đề cốt yếu nhất liên quan đến đối tượng khảo sát.
1.1.1 Tình thái xét về mặt lô gich học truyền thống
Các nhà lô gich học là những nhà nghiên cứu đầu tiên quan tâm đến vấn đề
tình thái.Trong số đó, Aristole được coi là người đầu tiên đặt nền móng cho việc
xây dựng ngành khoa học này vì ông đã xác lập các khái niệm tất yếu, khả năng, và
4
phi khả năng cùng mối quan hệ giữa chúng trong các phán đoán. Kế thừa quan
điểm của ông, các nhà lô gich học truyền thống dựa trên những đặc trưng cơ bản
của mối liên hệ giữa hai thành phần chủ từ và vị từ, xét ở khía cạnh mức độ phù
hợp giữa các phán đoán và thực tế đã phân loại các phán đoán, các mệnh đề lô gich
thành 3 nhóm lớn: khả năng, tất yếu, hiện thực. Phán đoán khả năng phản ánh xác
xuất có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng nào đó ở đối tượng của phán đoán tức
đối tượng có thể mang đặc trưng đó ít nhất trong một thế giới khả hữu nào đó; phán
đoán tất yếu phản ánh đặc trưng được gắn cho đối tượng, tức đối tượng mang đặc
trưng đó trong mọi thế giới khả hữu; phán đoán hiện thực đơn thuần xác nhận sự có
mặt hay vắng mặt của đặc trưng được gán cho đối tượng.
Khái niệm tình thái hay modus như trên của lô gich học truyền thống chỉ
xoay quanh một số kiểu quan hệ chung nhất giữa phán đoán với hiện thực vốn
mang tính khách quan, bản thể và được xem như một đặc trưng nội tại của cấu trúc
chủ từ- vị từ lô gich. Quan niệm về tình thái như vậy hoàn toàn gạt bỏ mọi nhân tố
chủ quan như thái độ, tình cảm, ý chí, sự đánh giá, mức độ cam kết hay mục đích
của người nói. Vì vậy tình thái trong lô gich học được gọi là tình thái khách quan
nhằm đối lập và phân biệt với tình thái trong ngôn ngữ học là tình thái chủ quan. Sự
phân biệt tình thái khách quan và tình thái chủ quan cũng là sự phân biệt các loại
nghĩa tình thái ở cấp độ bao quát nhất được nhiều tác giả hiện nay chấp nhận.
Tình thái trong lô gich là kiểu tình thái khách quan phản ánh cái nhìn lô gich
học về nội dung của câu. Có thể thấy bản chất khách quan của tình thái trong lô
gich học trong phát biểu của Kiefer (1994) đã được nhiều nhà ngôn ngữ học viện
dẫn: “Bản chất của “tình thái” là sự tương đối hoá giá trị thực cách của nội dung
hết sức đa dạng, không chỉ bó hẹp trong một số đối lập khái quát, phổ quát và tách
khỏi biện chủ quan như lô gich học; mặt khác các ý nghĩa tình thái của ngôn ngữ
làm thành một bảng màu cực kì đa sắc, đan xen, giao hoà vào nhau, chồng chéo lên
nhau và liên quan đến những những bình diện rất khác nhau của tổ chức phát ngôn,
6
tới đồng nghĩa, đa nghĩa, tới việc xác định các cấp độ và phạm trù khác của ngôn
ngữ [Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp, 2003].
Do vậy, việc xác lập một định nghĩa về khái niệm tình thái có tính bao quát
chung của các học giả là một vấn đề không dễ dàng. Tuy nhiên, qua các định nghĩa
đã nêu có thể thấy các nhà nghiên cứu ở những mức độ và cách thức khác nhau đã
chỉ ra những đặc trưng chung nhất của tình thái: mối quan hệ giữa người nói với
nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn với thực tế, trong đó đặc biệt quan tâm
đến vai trò người nói. Cơ sở để có được sự thống nhất này là do các nhà nghiên cứu
đều xuất phát từ một đối lập cơ bản nhất để xây dựng khái niệm tình thái: Đối lập
giữa tình thái và nội dung mệnh đề.
Cặp thuật ngữ tình thái / nội dung mệnh đề là thuật ngữ được dùng phổ biến
nhất hiện nay để chỉ sự đối lập giữa hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nghĩa của
phát ngôn là nội dung sự tình được nêu ra (nội dung mệnh đề) và thái độ, đánh giá,
hoặc cam kết của người nói đối với nội dung miêu tả (tình thái). Sự đối lập giữa
hai thành phần cơ bản như vậy có thể truy nguyên nguồn gốc từ cách gọi của
Ch.Bally, học giả đầu tiên đề cập vấn đề tình thái một cách hệ thống. Ch.Bally đã
phân biệt trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn hai thành phần cơ bản là modus và
dictum. Trong đó, dictum là bộ phận biểu hiện một nội dung sự tình ở dạng tiềm
năng nào đó, gắn với chức năng thông tin miêu tả của ngôn ngữ. Modus (tức bộ
phận tình thái) gắn với bình diện tâm lí thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm
xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói với điều được nói ra, xét trong quan
hệ với thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp. Modus tham gia vào
quá trình cho biết, chẳng hạn sự tình nêu trong phát ngôn là khả năng hay hiện
thực, khẳng định hay phủ định, mức độ cam kết của người nói đối với độ tin cậy
giữa nội dung sự tình và nghĩa tình thái là một trong những đối lập cơ bản làm cơ
sở xác lập lí thuyết tình thái. Sau Ch.Bally, nhiều nhà ngôn ngữ học tuỳ theo sự
nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác đã sử dụng những cách gọi, những
thuật ngữ khác nhau để chỉ đối lập này như: modus/ dictum, tình thái/ ngôn liệu,
8
tình thái/ mệnh đề, tình thái/ cơ sở mệnh đề, tình thái/ proto. Hiện nay, trong một
phạm vi nhất định, cách dùng cặp thuật ngữ tình thái/ nội dung mệnh đề là cách gọi
hợp lí hơn cả và được thừa nhận rộng rãi nhất.
Từ cơ sở chung như trên, nhiều học giả đã định nghĩa nội dung tình thái theo
những mức độ rộng hẹp khác nhau. Ở cấp độ hẹp các nhà nghiên cứu thừa nhận
xem xét tình thái trong ngôn ngữ là kiểu tình thái chủ quan nhằm đối lập tình thái
khách quan của lô gich học. Tình thái chủ quan được phân chia thành hai loại : tình
thái nhận thức gồm ba tiểu loại là thực hữu, không thực hữu, phi thực hữu; tình thái
đạo nghĩa gồm bốn nhóm là bắt buộc, cấm đoán, được phép, miễn trừ. Ở cấp độ
rộng, nhiều tác giả như Vinogradov [1977]; Benveniste [1966]; Portie[1992]; Đỗ
Hữu Châu, Hoàng Tuệ, Cao Xuân Hạo đi theo một hướng mở rộng khái niệm tình
thái theo hướng bao quát tất cả các hiện tượng ứng với cách hiểu tình thái theo
nghĩa rộng, được Bybee diễn đạt là “tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng
với nội dung mệnh đề” [dẫn theo Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp,2003, tr 23]. Ở
Việt Nam, gần đây nhất, quan niệm của tác giả Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp được
nhắc đến nhiều hơn cả. Hai tác giả này đã phân loại khái niệm tình thái trong ngôn
ngữ thành 5 nhóm ý nghĩa khác nhau:
(1) Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói, hay nói theo lí
thuyết hành vi ngôn ngữ là kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (hỏi, ra
lệnh, yêu cầu, bác bỏ, khuyên mời ), gắn trực tiếp với tương tác của giao tiếp, với
kiểu tác động của người nói đến người đối thoại.
(2) Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường hay cảm
xúc của người nói với nội dung thông báo: người nói đánh giá nội dung thông báo
về mức độ quan trọng, độ tin cậy, xem đó là điều tích cực mong muốn hay tiêu cực,
Hiệp [2006], Đoàn Thu Hà [2000], Nguyễn Thị Phương Trà [2005] trong các công
trình gần đây nhất cũng đã đồng ý với nhận định này. Theo quan sát của chúng tôi,
sự thừa nhận hai kiểu tình thái nhận thức cơ bản và tình thái đạo nghĩa (hai phạm
10
trù cơ bản của tình thái chủ quan) là kiểu phân loại được phần lớn các nhà ngữ học
nước ngoài như Von Wright, Rescher, Lyons, và các nhà nghiên cứu Việt Nam
chấp nhận rộng rãi nhất.
Chẳng hạn, Jerpersen [1924] cho rằng phạm trù tình thái với tư cách là phạm
trù ngữ nghĩa chức năng có thể được chia thành hai tiểu phạm trù, dựa trên tiêu chí
có hay không có thành tố sự mong muốn (will) của người nói. Hai tiểu loại này ứng
với sự phân biệt cơ bản giữa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa. Ủng hộ
quan điểm này, Von Wright [1951] phân biệt bốn thái (Modes/ Modalities) gồm hai
kiểu nhận thức và đạo nghĩa:
- Thái khách quan lô gic (alethic modes), hay thái chân thực.
- Thái nhận thức (epitemic modes) hay thái của sự hiểu biết.
- Thái đạo nghĩa (deontic modes), hay thái của sự bắt buộc.
- Thái tồn tại (existential modes), hay thái của sự hiện hữu.
Những năm gần đây, cách phân chia các phạm trù tình thái thành ba phạm
trù: tình thái khách quan lô gich, tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa vẫn là cách
phân loại khá phổ biến. J.Lyons [1977] đã nêu ra ba ý nghĩa tình thái:
- Tình thái tất yếu và khả năng (bắt nguồn từ sự phân chia của các nhà lô
gic).
- Tình thái nhận thức, liên quan đến tính thực tế, tính hiện thực
- Tình thái đạo nghĩa gắn với một lĩnh vực của lô gich tình thái, đó là lô gich
về nghĩa vụ và cho phép.
Palmer [1986] lại tách biệt rõ ràng hai loại tình thái này với việc xác định rõ
ràng các tiểu loại của nó:
- Tình thái nhận thức gồm tình thái thực hữu, phi thực hữu và tình thái phản
thực hữu;
thái độ của mình được nói ra trong câu, gồm bốn nhóm tình thái là bắt buộc, cấm
đoán, được phép, được miễn trừ.
Ví dụ:
12
1) Nó đang học bài Tình thái nhận thức: người nói đưa ra xác nhận đúng
với hiện thực mà người nói khẳng định với mức độ cam kết cao với những bằng
chứng (Tôi biết thế vì tôi nhìn thấy nó đọc sách, làm bài)
2) Lúc này nó phải học bài chứ ! Tình thái đạo nghĩa: người nói thể hiện
thái độ “bắt buộc” đối với hành động đang học bài theo mong muốn của người nói
(Giờ này nó phải học bài chứ không phải làm việc khác).
3) Nó có thể làm việc vào ngày nghỉ (Ví dụ của Nguyễn Văn Hiệp) Vị từ
tình thái “có thể” đem đến 2 cách hiểu. Theo tình thái đạo nghĩa, câu này được hiểu
là: Tôi cho rằng nó được phép làm việc cả vào ngày nghỉ vì một số mục đích như
tăng thu thập chẳng hạn. Theo tình thái nhận thức, câu này được khúc giải là: với
những bằng chứng hoặc suy luận cá nhân của tôi (như: nó từ chối đi chơi vào
những ngày nghỉ, thường đến xí nghiệp vào ngày nghỉ), tôi ngờ rằng có thể nó làm
việc vào ngày nghỉ.
- Trong phạm vi tình thái chủ quan, chúng tôi đồng ý với sự phân biệt của tác
giả Nguyễn Văn Hiệp về tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa theo ba tham số
tính tất yếu, tính khả năng, và tính hiện thực. Sơ đồ sau của tác giả tỏ rõ những ưu
điểm nhất định vì đã cố gắng khái quát được các bình diện của hiện tượng phức tạp
này:
Tình thái
Tất yếu Khả năng
Đạo nghĩa Nhận thức Đạo nghĩa Nhận thức Phi ht Hiện thực Phi ht Hiện thực Phi ht Hiện thực Phi ht Hiện thực
(Phi ht: Phi hiện thực)
tình được nói ở đây là hiện thực dựa trên những suy luận có tính cá nhân.
Ví dụ:
1) Nào ngờ hắn về thật.
14
2) Ấy thế mà thị cũng cười.
3) Người ta tuôn đến xem.
4) Rồi nó cũng lấy chồng.
5) Chắc chắn cái áo này rất đắt tiền.
6) Thể nào chúng ta cũng gặp phiền phức to.
- Tình thái không thực hữu (non- factive): Người nói thể hiện nội dung sự
tình như là một sự đoán định, nội dung sự tình là một kiến giải chủ quan mà người
nói không đảm bảo, không cam kết về tính chân thực.
Ví dụ:
1) Nghe đâu Hùng đã có gia đình.
2) Có thể nó không còn nhớ tên tôi nữa.
3) Hình như nó đã nghe người ta bàn tán.
4) Có lẽ cô ấy đã rời đây rồi.
5) Dường như anh không đủ sức chịu đựng nữa.
6) Nếu anh sợ nó thì anh ở nhà.
- Tình thái phản thực hữu (counter- factive): Người nói nhận định rằng sự
tình được nói đến ở nội dung mệnh đề là không có thực hay tất yếu phi hiện thực.
Ví dụ:
1) Tôi toan mở ra xem nhưng Toàn ngăn lại.
2) Giá tôi biết trước thì đâu đến nỗi.
3) Tôi có biết gì đâu.
4) Hắn đứng lên làm sao được.
5) Thế mà tôi tưởng cô ấy nói đùa.
6) Người ấy không yêu dì.
Sự điều chỉnh như trên của Nguyễn Văn Hiệp đã được giới nghiên cứu chấp
ở các kiểu cấu trúc câu như giá thì, nếu thì. Ví dụ: Nếu mai trời đẹp chúng ta sẽ
đi cắm trại. Với phát ngôn này người nói không chắc chắn về sự tình được nói đến
16
trong câu, đó chỉ là một sự đoán định, cấu trúc “nếu thì” trong trường hợp này
biểu thị tình thái không thực hữu (non-factive).
- Phƣơng tiện từ vựng: Các tính từ tình thái nhận thức, động từ tình thái
nhận thức, trạng từ tình thái nhận thức, danh từ tình thái nhận thức trong tiếng Anh
hoặc các quán ngữ tình thái, tiểu từ tình thái, phó từ tình thái, động từ tình
thái trong tiếng Việt. Chẳng hạn, xét ví dụ: They
|
ll probably come soon (Tiếng
Anh) tương đương với Có lẽ là họ sẽ đến sớm (tiếng Việt). Trong câu tiếng Anh ,
probably là phó từ biểu thị tình thái nhận thức không thực hữu- thể hiện một sự
đoán định sẽ xảy ra ở một thế giới khả năng nào đó. Ở Tiếng Việt, “có lẽ là” cũng
biểu thị tình thái không thực hữu thể hiện dự đoán của người nói (người nói không
cam kết về tính chân thực của sự tình), tiếng Việt gọi đây là một loại quán ngữ.
- Phƣơng tiện ngữ âm: Dùng ngữ điệu bằng cách lên giọng hoặc xuống
giọng ở những ngữ đoạn nhất định để thể hiện thái độ, tình cảm hoặc nhấn mạnh
vào điểm mà người nói cho là cần chú ý là loại phương tiện ngôn điệu phổ biến ở
tiếng Pháp, Anh Tiếng Việt có rất ít công trình nghiên cứu ngữ điệu tiếng Việt,
thay vào đó người Việt thường nhấn giọng hay dài giọng ở các trợ từ nhấn mạnh
cuối câu hoặc các thành phần khác của câu, hay kết hợp ngữ điệu với trọng âm để
gắn ngữ điệu với cách nhấn âm tiết. Xét ví dụ:
1) Sao anh ta giỏi thế nhỉ ? >– ngạc nhiên, có dụng ý không tin tưởng
2) Hùng đi
(1)
xem phim với tôi đi
(2)
! > khi nhấn mạnh và kéo dài giọng vào
các dấu hiệu từ vựng được sử dụng hết sức linh hoạt và với tần số cao và sự phân
biệt các phương tiện từ vựng và phương tiện ngữ pháp không được đặt ra nghiêm
ngặt.
Các nhà nghiên cứu khi xem xét các phương tiện biểu thị tình thái đã có
những quan điểm khác nhau nhằm xếp chúng vào lĩnh vực nhất định. Chẳng hạn
Phạm Hùng Việt, Nguyễn Văn Hiệp, Đoàn Thị Thu Hà, Bùi Trọng Ngoãn, Nguyễn
Phương Trà xem các động từ tình thái như muốn, cần, toan, định (nhóm 1) và các
phó từ như đã, sẽ, đang, từng, vừa mới( nhóm 2), các tiểu từ tình thái à, ư, nhỉ, nhé,
đi (nhóm 3) là phương tiện từ vựng. Nhưng Ngũ Thiện Hùng [2003, tr 33] lại xếp
nhóm (1) và (2) là phương tiện ngữ pháp. Ngô Thị Minh [2001, tr 33] lại đưa nhóm
18
(1) vào các phương tiện từ vựng- ngữ pháp. Đinh Văn Đức [1986] gọi chung các
đơn vị như vậy là các phương tiện nửa từ vựng.
Sự chồng chéo lẫn nhau của các cách phân loại như trên là một thực tế tồn tại
hiển nhiên trong tiếng Việt. Mỗi nhà nghiên cứu tuỳ theo mục đích của mình mà có
thể xếp các phạm trù biểu thị tình thái vào những hệ thống riêng. Do vậy, luận văn
không có tham vọng xác định tính hợp lí hay không của vấn đề và bao quát các
cách phân loại mà chỉ xác lập các phương tiện từ vựng và ngữ pháp biểu thị tình
thái nói chung, với tính chất là một sự xác lập để làm việc, từ đó tiến tới xác định
hình thức biểu hiện tình thái phản thực hữu cụ thể.
Theo Nguyễn Văn Hiệp [2006, tr 10] có thể kể đến các nhóm phương tiện
thể hiện tình thái như sau:
- Phương tiện từ vựng:
(1) Các phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ: đã, sẽ, đang, từng, vừa,
mới.
(2) Các vị từ tình thái làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ: toan, định, cố,
muốn, đành, được, bị, bỏ
(3) Các động từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với những điều kiện về
ngôi, thời): ra lệnh, van xin, đề nghị, yêu cầu
thực. Điều này có nghĩa là: các từ phủ định như không, chẳng hay động từ chỉ thái
độ mệnh đề như tưởng, ngỡ không còn là phương tiện từ vựng thông thường mà trở
thành phương tiện ngữ pháp vì chúng nằm trong những kết cấu câu biểu thị sự tình
phi hiện thực (câu phủ định, câu chứa động từ chỉ thái độ mệnh đề). Câu điều kiện
cũng được xếp vào nhóm này khi chúng chỉ tình thái phản thực. Vì vậy nhóm này
gồm 3 loại: các phó từ phủ định không, chẳng, chưa, nào (Tối qua nó không học
bài); các kiểu câu biểu thị tình thái phản thực hữu (Nếu thì đã Nếu biết cậu ở nhà
thì tôi đã gõ cửa rồi); Một số loại câu chỉ thái độ mệnh đề:( Tôi tưởng (P) Cô ấy
tưởng anh đã rõ rồi nên không nói gì). Việc xếp nghĩa phủ định vào tình thái phản
1
Chúng tôi hiểu tác tử (operator) tình thái như là bất kì loại phương tiện nào (từ, ngữ, thậm chí kết cấu C-V) tác
động vào câu, mang đến cho câu một nội dung tình thái nào đó.
20
thực hữu nảy sinh một số vấn đề cần được làm rõ hơn, trong đó nổi bật nhất là việc
xác định quan hệ giữa câu phủ định và tình thái phản thực hữu. Phần tiếp theo
chúng tôi sẽ dành trình bày về mối quan hệ này.
1.6 Quan hệ giữa câu phủ định và tình thái phản thực hữu trong tiếng
Việt
Tình thái phản thực hữu biểu thị sự tình không xảy ra trong hiện thực hay
trong một thế giới khả hữu nào đó. Câu phủ định cũng dùng để xác nhận sự không
có thật của hành động, đặc trưng, phẩm chất được nói đến. Mối quan hệ giữa câu
phủ định và tình thái phản thực hữu là có thực nên đã được nhiều nhà ngôn ngữ học
đề cập.
Tuy nhiên, vấn đề này có hai điểm cần xem xét lại: thứ nhất, có nên xem câu
phủ định là câu mang tình thái phản thực hữu hay không; thứ hai: giữa câu phủ
định và tình thái phản thực hữu cái nào bao hàm cái nào, cái nào có ngoại diên rộng
hơn (và ngược lại).
Nhiều nhà nghiên cứu đã có những điểm khác nhau về vấn đề này. Chẳng
tố bị phủ định, đó là các dấu hiệu ngôn ngữ bên trong câu chứ không dựa trên việc
xem xét các sắc thái của ý nghĩa phủ định và ngữ cảnh sử dụng nên câu phủ định
chỉ thuần tuý được xem xét ở bình diện kết học thuộc, khác hẳn với câu phủ định ở
bình diện dụng học.
Xét theo bình diện dụng học, câu phủ định được xem xét theo những tiêu chí
hoàn toàn khác với việc dựa trên lí thuyết hành vi ngôn ngữ. Theo đó, câu phủ định
được chia thành: câu phủ định miêu tả (câu phủ định dùng trong hành vi ngôn ngữ
miêu tả sự vật, hiện tượng, sự kiện, ví dụ: Trên trời không một vì sao) và câu phủ
định bác bỏ (câu phủ định dùng trong đối đáp để cải chính, bác bỏ ý kiến, nhận
định của người khác hoặc dùng trong quá trình suy nghĩ để tự bác bỏ ý kiến, cảm
nghĩ của chính mình- ví dụ: Không phải anh này)
Rõ ràng, cách xem xét câu theo dụng học đã xuất phát từ các kiểu ý nghĩa
phủ định (miêu tả hay bác bỏ của người nói) và chú trọng đến ngữ cảnh, tình huống
22
phát ngôn để phân chia câu phủ định. Vì vậy, hai loại câu phủ định miêu tả và đặc
biệt là phủ định bác bỏ phải được đưa vào phạm vi tình thái. Như thế, mối liên hệ
giữa tình thái phản thực hữu và câu phủ định miêu tả và bác bỏ là rất tất . Theo đó,
ta thấy cả tình thái phản thực hữu lẫn câu phủ định miêu tả và bác bỏ đều sử dụng
những phương tiện chuyên dụng để tạo ý phủ định như không, chẳng, chưa, nào,
không hề, chẳng hề, chưa hề; để tạo ý phủ định bác bỏ: không phải, chưa phải,
chẳng phải ; hoặc dùng các khuôn không trực tiếp chứa từ mang ý phủ định như
đâu, có sao đâu, làm gì có, có phải đâu , đâu (có) phải) nhằm thể hiện rằng
điều người nói đề cập là không chân thực hay tất yếu phi hiện thực. Nói cách khác,
một số phương tiện chuyên dụng biểu thị ý phủ định cũng là những phương tiện từ
vựng hoặc phuơng tiện ngữ pháp biểu đạt tình thái phản thực hữu mà chúng tôi đã
đề cập ở cách phân chia phương tiện từ vựng và ngữ pháp ở mục trước. Xét các ví
dụ:
1) Hôm qua trời không mưa.
2) Tôi chẳng nhận ra cô ấy.
CHƢƠNG 2
CÁC PHƢƠNG TIỆN TỪ VỰNG BIỂU THỊ TÌNH THÁI PHẢN
24
THỰC HỮU TRONG TIẾNG VIỆT
2.1 Các quán ngữ tình thái: có mà (P), làm nhƣ thể (P)
2.1.1 Khái niệm quán ngữ tình thái
Khái niệm quán ngữ tình thái là một khái niệm được mở rộng từ cách hiểu về
quán ngữ nói chung trong từ vựng học. Nếu như trong từ vựng học trước đây, quán
ngữ được xem là những từ ngữ có tác dụng đưa đẩy trong lời nói thì hiện nay quán
ngữ thường được dùng để chỉ những ngữ cố định có khả năng biểu thị ý nghĩa tình
thái.
Trong phạm vi từ vựng, Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến, Vũ Đức
Nghiệu [2002, tr161] cho rằng: quán ngữ “là những cụm từ cố định được dùng lặp
đi lặp lại trong các diễn từ thuộc các phong cách khác nhau. Chức năng của chúng
là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ. Ví dụ: của
đáng tội, nói bỏ ngoài tai, nói tóm lại, kết cục là, nói cách khác…”. Nguyễn Thiện
Giáp [1985, tr101] cũng có những quan niệm tương tự: “quán ngữ là những kết hợp
cố định được dùng lặp đi lặp lại trong những phong cách chức năng nhất định.
Quán ngữ chưa tạo thành một thông báo, vai trò chủ yếu của nó là để đưa đẩy, rào