1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HOC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Vũ Thị Thu Huyền
ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH VÀ NGỮ NGHĨA
CỦA HAI TỔ HỢP GHÉP CHÍNH PHỤ "CƯỜI + X" VÀ "NÓI + X"
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ
Mã số: 5.04.08 Hà Nội - 2003
2
MỤC LỤC
Mở đầu 5
Chƣơng I. Cơ sở lí thuyết và các khái niệm trong luận văn. 9
I. Một số vấn đề về định danh. 9
II. Một số vấn đề về ngữ nghĩa. 13
2. Đặc điểm ngữ nghĩa của yếu tố phụ x. 61
3. Các nét nghĩa trong tổ hợp ghép chính phụ "nói + x". 64
4. Sự kết hợp các nét nghĩa trong tổ hợp
ghép chính phụ "nói + x". 68
III. Tiểu kết. 77
Chƣơng IV. So sánh phương thức định danh và
đặc điểm ngữ nghĩa của hai tổ hợp: "cười + x" và "nói + x". 78
I. Đặc điểm định danh của hai tổ hợp ghép chính phụ
"cười + x" và "nói + x". 78
1. Nét tương đồng 78
2. Nét khác biệt. 81
II. Đặc điểm ngữ nghĩa của hai tổ hợp ghép chính phụ
"cười + x" và "nói + x". 85
1. Nét tương đồng. 85
2. Nét khác biệt. 92
III. Nhận xét chung. 95
Kết luận. 101
Các công trình khoa học đã công bố liên quan đến luận văn. 105
Tài liệu trích dẫn. 106
4
Tài liệu tham khảo. 107
5
MỞ ĐẦU.
1. Lí do chọn đề tài.
Cho đến nay, các động từ tiếng Việt thường được nghiên cứu nhiều
hơn ở phương diện cú pháp. Đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của chúng đã
hợp, từ đó thấy được phần nào đặc trưng văn hoá của người Việt thể hiện qua
tiếng Việt.
5. Phƣơng pháp và tƣ liệu nghiên cứu.
Muốn chỉ ra được một cách đầy đủ và toàn diện đặc điểm định danh và
ngữ nghĩa của tổ hợp "cười +x" và "nói + x", luận văn phải sử dụng nhiều
phương pháp và thủ pháp khác nhau:
- Phân tích để tìm ra đặc điểm đặc trưng, những thuộc tính bản chất của
các đơn vị ngôn ngữ đang là đối tượng nghiên cứu.
- Miêu tả từ sự phân tích trên để đưa ra toàn bộ bộ mặt của đối tượng
nghiên cứu ở các bình diện khác nhau (định danh, ngữ nghĩa).
- Thống kê ngôn ngữ học
- Tổng hợp.
Nguồn tư liệu của luận văn trước hết là các tổ hợp "cười + x", "nói + x"
có trong Từ điển tiếng Việt, sau đó là các đơn vị này xuất hiện trong sách báo
cũng như lời ăn tiếng nói hàng ngày với một số lượng tương đối khoảng 150
tổ hợp "cười + x" và 270 tổ hợp "nói + x".
6. Đóng góp của luận văn.
Các động từ tiếng Việt thường được nghiên cứu nhiều hơn về phương
diện cú pháp, đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của chúng đã được đề cập
nhưng còn rất ít. Với luận văn này, chúng tôi muốn góp phần thống kê và
7
miêu tả phương thức định danh và đặc điểm ngữ nghĩa của hai tổ hợp "cười +
x", "nói + x", từ đó phần nào thấy được đặc trưng văn hoá của người Việt thể
hiện qua cách nhìn nhận về hoạt động nói, cười và hoạt động ngôn ngữ của
người Việt nói chung.
7. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 4 chương. Nội dung được
tóm tắt như sau:
Mở đầu: Giới thiệu những vấn đề mà luận văn quan tâm và có nhiệm vụ
Việt.
1. Đặc điểm ngữ nghĩa của động từ nói.
2. Đặc điểm ngữ nghĩa của yếu tố phụ x.
3. Các nét nghĩa trong tổ hợp "nói + x".
4. Sự kết hợp của các nét nghĩa trong tổ hợp "nói + x".
III. Tiểu kết.
Chƣơng IV. Nhận xét bước đầu về đặc điểm định danh và ngữ nghĩa
của hai tổ hợp ghép chính phụ "cười + x" và "nói + x".
I. Đặc điểm định danh của hai tổ hợp ghép chính phụ "cười + x" và "nói
+ x".
1. Nét tương đồng.
2. Nét khác biệt.
II. Đặc điểm ngữ nghĩa của hai tổ hợp ghép chính phụ "cười + x" và "nói
+ x".
1. Nét tương đồng.
2. Nét khác biệt.
9
III. Nhận xét chung.
Kết luận.
10
Chƣơng I.
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ CÁC KHÁI NIỆM TRONG LUẬN VĂN
có chức năng định danh, còn các thán từ, liên từ, giới từ, đại từ không có
chức năng này [7, 59].
2. Đơn vị định danh.
Khi xem xét các đơn vị của ngôn ngữ, lí thuyết định danh phân biệt các
loại đơn vị định danh khác nhau. Nhìn từ số lượng đơn vị có nghĩa tham gia
đơn vị định danh thì có sự phân biệt:
- Định danh đơn giản (định danh tổng hợp): được tạo bởi một đơn vị có
nghĩa.
- Định danh phức hợp (định danh phân tích, định danh miêu tả): được
tạo bởi từ hai đơn vị có nghĩa trở lên.
Nhìn từ góc độ ngữ nghĩa thì có: định danh gốc (hay bậc một) và định
danh phái sinh (hay bậc hai). Đơn vị định danh gốc là những từ tối giản về
mặt hình thái - cấu trúc, mang nghĩa đen, được dùng làm cơ sở để tạo ra các
đơn vị định danh khác. Hồ Lê gọi đây là định danh phi liên kết hiện thực:
"gọi tên những mẩu nhỏ nhất trong hiện thực mà một cộng đồng ngôn ngữ
quan niệm là đã chia cắt ra được và nắm bắt được từ hiện thực" [24, 102]. Ví
dụ như nhà, cây, hoa, đất Định danh phái sinh (hay bậc hai) là những đơn
vị định danh có đặc trưng hình thái cấu trúc phức tạp hơn đơn vị gốc, mang
nghĩa biểu trưng hoá (dưới hình thái ẩn dụ hay hoán dụ) [12, 8] mà Hồ Lê gọi
đây là định danh liên kết hiện thực: "để phản ánh hiện thực khách quan một
cách đầy đủ, không cchỉ gọi tên từng mẩu hiện thực nhỏ nhất mà còn phải gọi
12
tên những tập hợp gồm nhiều mẩu hiện thực liên kết lại" [24, 102]. Ví dụ:
làng nước, đất đai, cây lá, nói vã, cười khẩy
3. Cơ chế định danh của đơn vị định danh phái sinh (bậc hai).
Quá trình cấu tạo nên các đơn vị định danh phái sinh (bậc hai) có cơ chế
nhất định. Muốn xác định rõ cơ chế của nó thì theo tác giả Hoàng Văn Hành
cần phải làm rõ hai vấn đề cốt yếu là: a) Có những yếu tố nào tham gia vào cơ
chế này và tư cách của mỗi yếu tố ra sao? b) Mối quan hệ tương tác giữa các
Phương thức suy phỏng: kiểu như bú - vú, bóp - móp, dìm - chìm
Phương thức láy: kiểu như bé - be bé, nhỏ - nho nhỏ, mảnh - mảnh mai
Phương thức ghép: trong phương thức này có hai cách: ghép hội nghĩa
(như giày dép, quần áo, chùa chiền ) và ghép phân nghĩa (như áo tắm, quần
the, cười ruồi, nói nhảm )
Phương thức phụ gia: phương thức này không có trong tiếng Việt.
- Quá trình thứ hai để tạo các đơn vị định danh phái sinh bằng con
đường cú pháp là quá trình từ vựng hoá những tổ hợp. Đó là quá trình chuyển
hoá những tổ hợp thành những đơn vị mang thành ngữ tính. Tính thành ngữ
của các đơn vị từ vựng này biểu hiện ở tính bền vững về mặt hình thái cấu
trúc và tính bóng bẩy về mặt ngữ nghĩa với những mức độ khác nhau. Có hai
loại tổ hợp thường được từ vựng hoá: tổ hợp tự do và tổ hợp cố định.
Trong cơ chế cấu tạo đơn vị định danh bậc hai, phương thức ghép được
coi là phương thức quan trọng nhất đối với tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập
tiêu biểu. Số lượng đơn vị định danh được tạo bởi phương thức này rất lớn,
đặc biệt là các đơn vị ghép phân nghĩa (phụ nghĩa). Và cũng ở chính những
đơn vị kiểu này, sự phong phú trong cách nhìn nhận và chỉ ra đặc trưng tạo
14
thành nhiều tiểu loại trong cùng một loại lớn của tư duy người Việt, ngôn ngữ
người Việt được bộc lộ. Và đây cũng là đối tượng nghiên cứu hết sức thú vị
mà chúng tôi đã lựa chọn, khoanh vùng trong một giới hạn nhất định: tổ hợp
ghép chính phụ (phụ nghĩa, phân nghĩa) "cười + x", "nói + x" với trung tâm
là hai động từ chỉ hoạt động của miệng: vừa là hoạt động sinh lí đồng thời
cũng là hoạt động nói năng thường gắn với nét văn hoá rất đặc trưng của con
người.
II. Một số vấn đề về ngữ nghĩa.
Nghĩa là một trong những hiện tượng phức tạp nhất [12, 9] vì nó không
những có mối liên hệ mật thiết với hiện thực khách quan mà còn có mối liên
đồng nhưng cũng có khi có tính sáng tạo cá nhân tạo nên phong cách riêng.
Khi đó, nội dung nghĩa càng phải luôn đặt trong mối quan hệ với hình thức
biểu hiện và những nhân tố quyết định sự xuất hiện của những hình thức biểu
hiện ngôn ngữ đó.
Xem xét các phạm vi tồn tại của nghĩa, các nhà nghiên cứu thấy rằng,
ngoài nghĩa của chất liệu ngôn ngữ (nghĩa của những đơn vị tín hiệu) còn có
nghĩa trong giao tiếp gắn với người nói (người phát) và người nghe (người
nhận) nhưng nghiên cứu ngữ nghĩa thì chủ yếu là nghiên cứu ngữ nghĩa của
chất liệu ngôn ngữ. Nó tồn tại dưới dạng các đơn vị ngôn ngữ có nghĩa: hình
vị, từ, ngữ (tổ hợp), câu, đoạn văn, văn bản. Trong phạm vi luận án này,
chúng tôi chủ yếu xem xét nghĩa của từ và nghĩa của tổ hợp.
Nghĩa từ là sự phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức và được
thể hiện ở ngôn ngữ (A. I. Smirnixki). Nó là một thực thể tinh thần cùng với
16
phương diện hình thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ. Cái thực thể
tinh thần đó hình thành từ một số nhân tố, không đồng nhất với những nhân
tố đó nhưng không có những nhân tố này không có nghĩa của từ. Các nhân tố
tự mình chưa phải là nghĩa, ở bên ngoài nghĩa nhưng để lại những dấu vết
bên trong nghĩa góp phần "nhào nặn" nên nghĩa từ. Nói một cách khác, nghĩa
của từ là một hợp điểm, là kết quả của những nhân tố và tác động giữa những
nhân tố tạo nên nghĩa. Trong số những nhân tố đó có nhân tố nằm ngoài ngôn
ngữ, có nhân tố nằm trong ngôn ngữ. Chúng là sự vật, hiện tượng, những
hiểu biết của tư duy (khái niệm), người sử dụng (nhân tố lịch sử - xã hội),
chức năng tín hiệu học, cấu trúc ngôn ngữ… [4, 119 - 121].
Nghĩa của từ không phải là một đơn vị không thể phân tích ra được nữa
mà nó là một cơ cấu, do một chùm những thành tố có quan hệ hữu cơ với
nhau được tổ chức theo một tôn ti nhất định. Nghĩa bao hàm những đơn vị
nhỏ hơn gọi là nét nghĩa, nghĩa vị, thành tố nghĩa, nhân tử ngữ nghĩa tuỳ theo
cách gọi của những tác giả khác nhau [4, 202]. Có tác giả cho rằng: nét nghĩa
nét nghĩa được tô đậm, có nét nghĩa trở thành chủ đạo, có nét nghĩa bị triệt
tiêu, có nét nghĩa mới nảy sinh làm thành nghĩa của toàn tổ hợp. Đơn vị phân
tích ngữ nghĩa là nét nghĩa của đơn vị cấu tạo tổ hợp. Khi các nét nghĩa tổ
hợp lại, chúng vừa theo những quy tắc nội tại của ngôn ngữ đồng thời còn
phải phù hợp với logic thông thường của cuộc sống. Ngôn ngữ không tách
rời cuộc sống, thực tiễn xã hội, khi là kinh nghiệm phổ biến được phản ánh
vào trong ngôn ngữ ở dạng "cố định hoá" chi phối nguyên tắc ngữ nghĩa. Cái
"ngoài ngôn ngữ" chuyển hoá thành cái "trong ngôn ngữ", thành cái "logic"
của ngôn ngữ [26, 28 - 32].
18
Đối với các ngữ cố định - một trong những đối tượng nghiên cứu của
luận án này - thì chúng có đặc điểm ngữ nghĩa như sau:
Thứ nhất, chúng có tính biểu trưng. Hầu hết là những bức tranh về vật
thực, việc thực cụ thể riêng lẻ được nâng lên để nói về cái phổ biến, khái
quát, trừu tượng. Chúng là các ẩn dụ, so sánh, hoán dụ. Chẳng hạn như người
Việt có câu "đẹp vàng son, ngon mật mỡ": vàng son ở đây vừa là hình ảnh cụ
thể, vừa mang ý nghĩa biểu trưng cho sự cao sang, quyền quý.
Thứ hai, chúng mang tính dân tộc. Chúng phản ánh các biểu hiện, các
sắc thái khác nhau của sự vật hiện tượng trong đời sống, kinh nghiệm và cách
nhìn của từng dân tộc. Ví dụ: Người Việt nói "Con trâu là đầu cơ nghiệp" vì
văn hoá Việt là văn hoá nông nghiệp gắn với việc trồng lúa nước, trong thời
kì nền công nghiệp hiện đại chưa phát triển thì việc cày bừa đất để trồng lúa
chủ yếu nhờ vào sức kéo của trâu bò. Nếu không có trâu, bò thì sẽ không làm
được đất, không làm được đất thì không trồng lúa được, do đó không có gì để
sinh sống và như vậy thì còn nói gì đến cơ nghiệp nữa.
Thứ ba, chúng có tính hình tượng và tính cụ thể. Tính hình tượng của
chúng là kết quả tất yếu của tính biểu trưng: tái hiện về các sự vật, hiện tượng
trong đời sống, tạo ấn tượng mạnh mẽ, gây tác động đậm nét. Nếu nói
"chậm", "ngu" sẽ không thể tạo ấn tượng như nói "chậm như sên", "ngu như
như sau:
- Cha: người đàn ông đã có con trong mối quan hệ với con.
- Mẹ: người đàn bà đã có con trong mối quan hệ với con.
20
Với phương pháp đối lập trong nội bộ hệ thống ta đã phân tích được cơ
cấu nghĩa của các đơn vị ngữ nghĩa với các thành tố trong cơ cấu này. Đây
cũng chính là phương pháp cơ bản chúng tôi sử dụng trong luận văn bên cạnh
các phương pháp bổ trợ khác như tổng hợp, miêu tả, liên tưởng, so sánh, đối
chiếu Khi phân tích một loạt đơn vị ngữ nghĩa là đối tượng nghiên cứu của
luận án "cười +x", "nói + x" chúng tôi thấy chúng có cùng một kiểu cơ cấu
nghĩa:
- Có lượng thành tố nghĩa ở cấp độ phạm trù tương đương nhau.
- Có cùng một cách tổ chức bên trong như nhau.
Quan hệ giữa các đơn vị như thế này các nhà nghiên cứu gọi là quan hệ đẳng
cấu ngữ nghĩa. Nhờ đó, chúng tôi có thể phân loại theo nhóm, tiểu nhóm để
phân tích, miêu tả. Kết quả sẽ được trình bày ở chường II và chương III.
III. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá.
Văn hoá, với tư cách là một hiện tượng xã hội bao gồm những giá trị vật
chất và tinh thần, đã và đang được một cộng đồng người nào đó tích luỹ. Mỗi
một hệ thống văn hoá bất kì có quy mô, đặc trưng riêng của nó là tính chất
đặc thù bên cạnh tính nhân loại của nó do môi trường sống và loại hình kinh
tế quyết định. Đó chính là những yếu tố mang sắc thái dân tộc như truyền
thống phong tục, nghi lễ, nghệ thuật… Đi sâu vào các đặc trưng, ta thấy
chúng có liên quan chặt chẽ với nhau, cho phép từ cái nọ suy ra cái kia và suy
ra tất cả các đặc trưng của mỗi nền văn hoá cụ thể. Cái bất biến của văn hoá
trong quá trình phát triển của lịch sử chính là bản sắc văn hoá. Dĩ nhiên, văn
hoá là hệ thống những quan hệ, không phải là những vật. Các hệ thống quan
hệ này mang những tên gọi riêng, có thể chứa đựng những cách lí giải khác
nhau trong cách biểu hiện qua các thời đại. Cái tạo thành tính bất biến của
truyền thống văn hoá, hoàn cảnh xã hội của giao tiếp, những nhân tố bị quy
định bởi ngôn ngữ của một cộng đồng ).
Trong phạm vi nội bộ một cộng đồng ngôn ngữ - văn hoá, ngôn ngữ lại
đóng vai trò phương tiện liên hệ, kế thừa giữa các thế hệ trong sự phát triển
tinh thần của các thế hệ, bởi vì kinh nghiệm lịch sử xã hội của một dân tộc về
cơ bản được tàng trữ và lưu truyền trong không gian và thời gian ở hình thức
ngôn từ (dưới hình thức ý nghĩa từ). Chính trong ý nghĩa từ đã lưu lại sự hiểu
biết về thế giới khách quan ở trình độ mà một xã hội có thể đạt được trong
giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Nhiều phương diện của các đơn vị từ
vựng đã quy định đặc trưng văn hoá dân tộc ở hành vi nói năng. Ý nghĩa của
từ phản ánh hiện thực qua ý thức của con người với tư cách là đại diện của
một cộng đồng văn hoá - ngôn ngữ nhất định. Ngôn ngữ chức năng "là hình
thức tồn tại của kinh nghiệm lịch sử - xã hội" mà mỗi dân tộc có kinh nghiệm
lịch sử xã hội riêng mình thì tất yếu trong cấu trúc ý nghĩa của từ có cả thành
tố văn hoá lịch sử. Chúng ta có thể nghiên cứu kinh nghiệm lịch sử xã hội nói
riêng, lịch sử tư tưởng nói chung của mỗi dân tộc qua ý nghĩa của từ, qua lịch
sử ngôn ngữ của dân tộc ấy, tuy rằng không phải toàn bộ lịch sử tri thức của
nhân loại chỉ để trong ngôn ngữ. "Mỗi từ, mỗi ngữ cố định không chỉ là một
sự kiện ngôn ngữ. Nó còn là một bản tổng kết cô đọng, súc tích, phong phú
những hiểu biết của toàn dân tộc trong hàng ngàn năm lịch sử" [5]. Nghĩa của
từ không phải là một khối cố định mà là tập hợp của một số thành phần nhất
định, "tồn tại dưới dạng một cơ cấu, do một chùm những thành tố có quan hệ
hữu cơ với nhau, được tổ chức theo tôn ti nhất định" [12, 8]. Ngoài những
thành tố ngôn ngữ ra còn có thành tố văn hoá. Đó là những thông tin về điều
kiện địa lí, thiên nhiên trong đời sống của dân tộc bản ngữ, về lịch sử, kinh
tế, tâm lí dân tộc
23
Như vậy, đặc trưng văn hoá dân tộc được biểu hiện ở hầu hết các quá
trình ngôn ngữ nhưng trước hết là ở nghĩa của từ. Và trong phạm vi này, đặc
ngôn ngữ thuần tuý. Nó hoàn toàn không thể nói hết được toàn bộ bản chất
của đối tượng. Quá trình định danh với việc lựa chọn đặc trưng làm cơ sở
định danh phụ thuộc vào chủ thể định danh, vào nhu cầu, mục đích của mỗi
cộng đồng ngôn ngữ nhất định. Mỗi dân tộc lựa chọn đặc trưng để định danh
theo cách riêng của mình. Cùng một đối tượng, trong các ngôn ngữ khác
nhau sẽ được gọi tên theo cách khác nhau: "cùng một đối tượng có thể được
gọi tên theo các ngôn ngữ theo cách khác nhau phụ thuộc vào đối lập kiểu
nào về tâm lí, lịch sử, dân tộc và xã hội đã làm cơ sở cho sự định danh" (G.
V. Consanski).
Ngoài việc lựa chọn định danh thì "kĩ thuật ngôn ngữ" trong định danh
cũng ghi dấu ấn văn hoá của từng dân tộc. Ví dụ trong tiếng Việt có từ mẹ
vợ, tiếng Anh là mother - in - law hoặc từ you trong tiếng Anh có thể dịch là
anh, chị, ông, bà, cậu, chú, dì, mày sang tiếng Việt tuỳ hoàn cảnh giao tiếp.
Đó là đặc trưng ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau với đặc điểm loại hình
ngôn ngữ khác nhau.
Có thể nói rằng, dấu ấn văn hoá in đậm trên tất cả các bình diện ngôn
ngữ, các quá trình ngôn ngữ nhưng rõ nét nhất vẫn là trong ý nghĩa từ và
trong quá trình định danh ngôn ngữ. Hay nói cách khác, đi theo hướng nghiên
cứu ngôn ngữ học, tìm hiểu ý nghĩa từ và quá trình định danh sẽ thấy được
đặc trưng văn hoá dân tộc của cộng đồng ngôn ngữ, cộng đồng dân tộc. Đây
là một hướng nghiên cứu mà trong những năm gần đây rất được chú ý và đã
25
đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Trong luận án này, chúng tôi cũng chọn
con đường này để khám phá đối tượng nghiên cứu của mình.
IV. Khái niệm "tổ hợp ghép chính phụ" sử dụng trong luận văn.
1. Khái niệm "tổ hợp".
Khi nói đến khái niệm tổ hợp là người ta nghĩ ngay đến "cái gồm nhiều
thành phần kết hợp với nhau theo những quy tắc nhất định" [28,1008]. Nếu
cứ áp dụng định nghĩa chung này vào ngôn ngữ thì ta có thể có: tổ hợp các