Nhận xét sách giáo khoa ngữ văn các lớp 6,7,8,9 năm học 2008 - 2009 ( Phần văn xuôi - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐOÀN THỊ HUỆ NHẬN XÉT SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN CÁC LỚP
6,7, 8, 9 NĂM HỌC 2008 – 2009 (PHẦN VĂN XUÔI) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Cao Đàm
Hà Nội – 2012

2.2.5 Nhận xét cách đặt câu hỏi 67
2.3 Tiểu kết 68
CHƯƠNG 3: CÁC THAY ĐỔI CỦA SÁCH GIÁO KHOA 6, 7, 8, 9 NĂM
HỌC 2008-2009 SO VỚI NĂM HỌC 2000-2001. 70
3.1 Thay đổi cấu trúc bài học 70
3.2 Thay đổi dấu câu 71
3.2.1 Thay đổi hợp lý 72
3.2.2 Thay đổi không hợp lý 74
Không có trường hợp nào. 74
3.3 Thay đổi về từ, về câu 75
3.3.1 Thay đổi hợp lý 75
3.3.2 Thay đổi không hợp lý 76
Không có trường hợp nào. 76
3.4 Thay đổi về đoạn văn 76
3.4.1 Thay đổi hợp lý 76
3.4.2 Thay đổi không hợp lý 78
3.5 Thay bài trong cùng chủ điểm 80
3.5.1 Thay đổi hợp lý 80
3.5.2 Thay đổi không hợp lý 81
3.6 Tiểu kết 81
CHƯƠNG 4: 83
CÂU HỎI PHỎNG VẤN VỀ SÁCH GIÁO KHOA 6, 7, 8, 9 NĂM HỌC 2008-
2009 83
4.1 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với giáo viên. 84
4.1.1 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với giáo viên lớp 6 84
4.1.2 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với giáo viên lớp 7. 85
4.1.3 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với giáo viên lớp 8. 87
4.1.4 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với giáo viên lớp 9. 88

những năm sau cải cách có tên “Ngữ văn” và trước cải cách có tên “Văn học, Tiếng Việt,
Tập làm văn” (xem các phần chương trình)) – Vấn đề trọng tâm ở đây là chúng tôi muốn
xem bộ sách này đã thực hiện được mục tiêu của chương trình dạy Ngữ Văn cho học
sinh bậc Trung học cơ sở như thế nào. Đồng thời chúng tôi cũng có đối chiếu, so sánh
với sách cũ để xem sách mới có điều gì cần nói thêm không.
2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu:
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những bài văn xuôi trong
sách Ngữ văn 6, 7, 8, 9 năm học 2008-2009 của Nhà xuất bản Giáo dục, sau cải cách và
sách Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn, trước cải cách năm 2002 (Trong thực tế, chúng tôi
đã khảo sát các bộ sách của những năm sau cải cách có tên “Ngữ văn” và trước cải cách
có tên “Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn”) (xem các phần chương trình).
- Đối tượng nghiên cứu:
Tất cả những bài văn xuôi trong sách giáo khoa Ngữ văn 6, 7, 8, 9 năm học 2008-
2009. (có so sánh, đối chiếu với sách Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn sách năm 2000-2
2001). Ngoài ra chúng tôi có phỏng vấn giáo viên, học sinh của trường Trung học cơ sở
Vũ Lễ - xã Vũ Lễ - huyện Kiến Xương - Tỉnh Thái Bình.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Để Luận văn được hoàn thành một cách xuất sắc chúng tôi đã sử dụng kết
hợp một số thủ pháp, phương pháp trong nghiên cứu ngôn ngữ học như: Thủ pháp
Thống kê; Thủ pháp Phân tích; Phương pháp so sánh; Phương pháp miêu tả; và
Phương pháp điều tra xã hội học.
4. Mục đích và ý nghĩa khoa học của luận văn
- Mục đích: Luận văn sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá về các bài văn xuôi
của sách Ngữ văn 6, 7, 8, 9 năm học 2008-2009 một cách khách quan nhất. Dựa vào
đó chúng tôi cũng muốn đối chiếu, so sánh thêm với sách cũ để tìm hiểu những ưu
điểm, những hạn chế của sách năm học 2008-2009. Đồng thời, chúng tôi cũng

“tuổi khó bảo“,“tuổi bất trị”, “tuổi khủng hoảng”. Hiện nay do được ăn uống đầy đủ
nên tuổi dậy thì của các em đã “kéo xuống” ở đầu bậc Trung học cơ sở.
Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có ý
nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, nhiều biến động
nhất nhưng cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành
sau này. Các em không còn trẻ con nữa, nhưng chưa hẳn người lớn, tâm trạng tồn
tại song song kiểu “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”. Các em đòi hỏi mình cần
được tôn trọng nhân cách, cần được phát huy tính độc lập nhưng cũng rất cần đến
sự chăm sóc chu đáo và đối xử tế nhị. Thiếu niên dễ có phản ứng mãnh liệt trước sự
đánh giá, nhất là sự đánh giá thiếu công bằng của người lớn. Đặc điểm nổi bật ở lứa
tuổi này là dễ xúc động, vui buồn chuyển hóa dễ dàng, tình cảm còn mang tính chất
bồng bột, hăng say, sôi nổi dễ bị kích động và dễ thay đổi. Tuy nhiên các em học
sinh Trung học cơ sở cần phát triển mọi mặt từ tình cảm, thể chất,… hơn các em
học sinh tiểu học.
Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, giúp
chúng ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn
diện. Những đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng ở lứa tuổi thiếu niên được mô tả ở trên
cho thấy, lứa tuổi này là lứa tuổi khó dạy, đặc biệt với các em nam. Với tư cách là
nơi giáo dục chính thống cho trẻ - nhà trường, mà cụ thể là các thầy cô giáo cần biết
về sự phát triển của học sinh, để có cách cư xử đúng đắn nhất với các em cũng như
trong giải quyết các vấn đề liên quan đến các sản phẩm giáo dục của mình. Có như 4
vậy, quan hệ thầy – trò mới trở thành nền tảng vững chắc, và các trò sau này cũng
trở thành những người tri thức góp phần xây dựng xã hội ngày càng giàu đẹp hơn
sánh ngang với các cường quốc năm châu.
1.1.2 Đặt vấn đề về quá trình nhận thức
Quá trình nhận thức của các em Học sinh Trung học cơ sở cao hơn các em ở
bậc tiểu học rất nhiều cả về sách vở lẫn kiến thức ngoài cuộc sống. Về sách vở,

cấu trúc của tư duy; Các em hiểu các dấu hiệu bản chất của đối tượng nhưng không
phải bao giờ cũng phân biệt được những dấu hiệu đó trong mọi trường hợp. Khi
nắm khái niệm các em có khi thu hẹp hoặc mở rộng khái niệm không đúng mức; Ở
tuổi thiếu niên, tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, các em biết lập luận
giải quyết vấn đề một cách có căn cứ. Các em không dễ tin như lúc nhỏ, nhất là ở
cuối tuổi này, các em đã biết vận dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều
quan sát được, những kinh nghiệm riêng của mình để minh họa kiến thức.
Từ những đặc điểm trên, cả gia đình và nhà trường nhất là các thầy cô giáo là
những người gần gũi trực tiếp dạy dỗ các em nên chú ý tới các em hơn, cần phải
biết nên dạy các em cái gì, điều gì, ví dụ: Phát triển tư duy trừu tượng cho học sinh
Trung học cơ sở để làm cơ sở cho việc lĩnh hội khái niệm khoa học trong chương
trình học tập. Dạy cho học sinh phương pháp ghi nhớ lôgic nhưng phải chính xác
những định nghĩa, những qui luật, nếu ghi nhớ thiếu một từ nào đó thì ý nghĩa của
nó không còn chính xác nữa. Ngoài ra cần chỉ dẫn cho các em những biện pháp để
rèn luyện kỹ năng suy nghĩ có phê phán và độc lập. Và cần chỉ cho các em thiết lập
các mối liên tưởng ngày càng phức tạp hơn, gắn tài liệu mới với tài liệu cũ, giúp
cho việc lĩnh hội tri thức có hệ thống hơn, đưa tài liệu cũ vào hệ thống tri thức…
Bài Ngữ Văn có nhiều lợi thế để hình thành tư duy hình tượng cho học sinh
vì chữ viết được xem là một biểu tượng. Học chữ là một trong những con đường để
hình thành biểu tượng. Việc tích hợp dạy Ngữ Văn được xem là biện pháp để hình
thành và phát triển tư duy hình tượng văn học cho các em. Các em được rèn luyện
các em sẽ biết cách xử lý mọi tình huống và độc lập trong suy nghĩ, tự phát triển
mình cả trong nhà trường và ngoài xã hội. 6
1.1.3 Đặt vấn đề về nhân cách
Một trong những đặc điểm quan trọng của sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi
Trung học cơ sở là sự hình thành tự ý thức. Mức độ tự ý thức của các em cũng có sự
khác nhau về nội dung và về cách thức.

Trẻ có năng khiếu thường có ý chí, tình cảm đặc biệt với hoạt động đặc biệt
nào đó. Năng khiếu tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành năng lực và tài năng.
Nghĩa là không phải trẻ nào có năng khiếu cũng là thiên tài. Một em có năng khiếu
đối với hoạt động nào đó không nhất thiết sẽ trở thành tài năng trong lĩnh vực ấy và
ngược lại.
Trẻ có năng khiếu không nhất thiết là chỉ có năng khiếu về âm nhạc, hội họa
mà ngoài ra các em còn có năng khiếu về toán học, văn học, sử học… những năng
khiếu này phải đến cấp Trung học cơ sở các em mới được bộc lộ rõ ràng. Nếu trẻ có
năng khiếu về lĩnh vực nào thì giáo dục theo hướng phát triển về lĩnh vực đó đúng
phương pháp, đúng sở trường của các em chỉ khi đó năng khiếu của các em mới
được phát triển tối đa.
Khi phát hiện ra trẻ có năng khiếu cả nhà trường và gia đình nên tạo điều
kiện cho các em được phát triển theo đúng sở trường của mình, để lớn lên các em sẽ
trở thành người tài giỏi giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
1.1.5 Đặt vấn đề về sự lĩnh hội, hình thành kỹ năng, kỹ xảo ở học
sinh Trung học cơ sở.
Những kiến thức học sinh Trung học cơ sở học càng ngày càng khó và
những kiến thức này có ảnh hưởng quan trọng trong các cấp sau này nên học sinh
càng phải nhớ nhiều và lâu hơn. Để có thể giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức
một cách hiệu quả nhất, người giáo viên cần truyền thụ những tri thức về phương
pháp để học sinh biết cách học, biết cách suy luận, biết cách tìm lại những điều đã
quên, và biết cách tìm tòi phát hiện kiến thức mới.
Kỹ năng, kỹ xảo lĩnh hội tri thức được hình thành từ nội dung giáo dục quy
định trong chương trình học như kĩ năng đọc, viết, tính toán,… Mỗi môn học đều
tiềm ẩn một kĩ năng riêng, giáo viên phải hướng dẫn các em hiểu và khám phá được
hướng đi đúng cho riêng mình. Các kĩ năng, kĩ xảo được học sinh vận dụng tri thức
trong quá trình học tập lấy kiến thức bài hôm trước vận dụng bài hôm sau hoặc kiến
thức trong sách vở được học sinh vận dụng vào trong cuộc sống đem lại kết quả tốt.

9
Sách giáo khoa cụ thể hóa về yêu cầu nội dung kiến thức và kỹ năng quy
định trong chương trình giáo dục của các bài học ở mỗi lớp. Tuy nhiên đối với bài
Ngữ Văn cần phải đạt ba tiêu chuẩn sau cho học sinh: Trí dục, Đức dục và Mỹ dục.
(1) Trí dục: Có nhiệm vụ làm cho học sinh nắm được một cách vững chắc hệ
thống những tri thức phổ thông cơ bản, những tri thức khoa học kĩ thuật thực tiễn,
hiện đại; nắm được các kĩ năng vận dụng, có thói quen thực hành các tri thức để giải
quyết những nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn; hình thành được những cơ sở của thế
giới quan khoa học và phương pháp tư duy biện chứng duy vật; phát triển những
năng lực nhận thức và hình thành các phẩm chất tư duy tích cực; hình thành nhu cầu
và hứng thú nhận thức, học tập tiếp tục, suốt đời, phương pháp tự học và những cơ
sở của văn hóa lao động trí óc.
(2) Đức dục: Có nhiệm vụ làm học sinh tiếp thu được những cơ sở của thế
giới quan khoa học; nắm được những vấn đề chủ yếu trong đường lối, chính sách
của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; giác ngộ và
thấm nhuần các chuẩn mực và quy tắc đạo đức, các phẩm chất tốt đẹp của truyền
thống dân tộc; tham gia tích cực, tự giác và có hiệu quả các hoạt động chính trị, xã
hội, có bản lĩnh để đấu tranh chống các tư tưởng thù địch, phản động, chống lối
sống lạc hậu, bài trừ hủ tục, mê tính dị đoan.
(3) Mĩ dục: Có nhiệm vụ làm cho học sinh phát triển cảm xúc thẩm mĩ, năng
lực cảm thụ cái đẹp; hình thành thị hiếu thẩm mĩ, năng lực đánh giá thẩm mĩ; có
thái độ thẩm mĩ tích cực, có nhu cầu và năng lực biểu hiện và sáng tạo cái đẹp.
Chức năng hoạt động của người giáo viên là chức năng giáo dục và chức
năng dạy học.
(1) Chức năng giáo dục: Thông qua hoạt động giảng dạy, giáo viên có trách
nhiệm truyền thụ cho học sinh lí tưởng và đạo đức cách mạng, bồi dưỡng những
phẩm chất cao quý, năng lực, trí tuệ và năng lực hành động của con người trong xã
hội mới.
(2) Chức năng dạy học: Thông qua hoạt động giảng dạy, người giáo viên trực

2002” về quan điểm “Tích hợp”: “Quan điểm tích hợp cần được hiểu toàn diện và 11
phải được quán triệt trong toàn bộ bài học: từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn;
quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của
hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình, tích hợp trong sách giáo khoa, tích
hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập
của học sinh; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo. Quan điểm “lấy học
sinh làm trung tâm” đòi hỏi thực hiện việc tích cực hoá hoạt động học tập của học
sinh trong mọi mặt, trên lớp và ngoài giờ; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học
của học sinh, phát huy tinh thần dân chủ, bồi dưỡng lòng tin cho học sinh thì các em
mới tự tin và tự học, mới xem tự học là có ý nghĩa và như vậy đào tạo mới có kết
quả”. 12
CHƯƠNG 2:

Tuy nhiên, khung chương trình Văn học của Ngữ Văn 6 tập I và Ngữ Văn 6
tập II đều được soạn thảo rất khác so với khung chương trình Văn học của Văn học
6 tập I và Văn học 6 tập II.
+ Nhìn chung, khung chương trình Văn học 6 (trước cải cách) như trên đã
nói được soạn thảo dạy cho học sinh ở cả 02 học kỳ, và mỗi học kỳ đều có đủ 03
phần: Phần một: Văn học dân gian; Phần hai: Văn học Việt Nam từ sau cách mạng
tháng 8 năm 1945; Phần ba: Văn học nước ngoài.
Văn học dân gian ở Văn học 6 tập I có 06 bài học, gồm 11 truyện, chia theo:
“Thần thoại (02); Những truyền thuyết về thời các vua Hùng (03 truyện); Những
truyền thuyết sau thời các vua Hùng (02 truyện); 04 truyện đọc thêm; 01 bài mở
đầu; 01 bài Văn học dân gian là gì? Và 01 bài Ôn tập về thần thoại, truyền thuyết.
Văn học dân gian ở Văn học 6 tập II, có 03 bài học, gồm 16 truyện chia theo:
“truyện cổ tích (06 truyện); và 01 bài “Ôn tập về truyện cổ tích – truyện ngụ ngôn”.
Qua đây, có thể nói, chương trình về Văn học dân gian ở Văn học 6 (trước
cải cách) có tính sư phạm và khoa học, phân chia tương đối rành mạch, cụ thể và
phong phú về nội dung nên học sinh chắc dễ tiếp thu và học tập được nhiều, nhất là
đối với việc phân loại và phân kỳ về Văn học dân gian theo tiến trình lịch sử của
vấn đề.
+ Ở khung chương trình Văn học của Ngữ Văn 6, sách sau cải cách thì khác.
Chương trình về Văn học dân gian chỉ dạy ở học kỳ I trong Ngữ Văn 6, tập I (Ngữ
Văn 6 tập I), gồm có 20 truyện cả thảy, được soạn thảo trong 16 bài, và cũng hoàn
toàn không phân loại và phân kỳ theo lịch sử của vấn đề như trong sách giáo khoa
Văn học 6, trước cải cách.
Về Văn học dân gian trong tổng số 47 truyện chỉ có khoảng 10 truyện giống
nhau giữa 2 khung chương trình của sách giáo khoa trước và sau cải cách (Văn học
6 và Ngữ Văn 6) – Đó là các truyện: “Con rồng cháu tiên; Sơn tinh Thủy tinh;
Thánh Gióng; Sự tích Hồ Gươm; Bánh chưng, bánh giày; Sọ Dừa; Em bé thông
minh; Thày bói xem voi; Đeo nhạc cho mèo; Chân, tay, tai, mũi, miệng”. 15
+ “Từ mượn”, sách giáo khoa trước cải cách, xếp ở tiết 8, còn ở sách giáo
khoa sau cải cách lại ở Bài 2, tiết thứ 2.
- Sách giáo khoa sau cải cách (Ngữ Văn 6 tập I) không có đến 08 bài học so
với sách trước cải cách (Tiếng Việt 6 tập I). Đó là: Từ đồng nghĩa; - Từ trái nghĩa; -
Từ đồng âm; - Cấu tạo từ ghép; - Nghĩa của từ ghép; - Cấu tạo của từ ghép Hán
Việt; - Nghĩa của yếu tố Hán Việt; - Mở rộng vốn yếu tố Hán Việt.
- Sách giáo khoa trước cải cách (Tiếng Việt 6 tập I) không có đến 09 bài học
so với sách giáo khoa sau cải cách (Ngữ Văn 6 tập I). Đó là: - Chữa lỗi dùng từ; -
Danh từ; - Cụm danh từ; - Số từ và lượng từ; - Chỉ từ; - Động từ, Cụm động từ; -
Tính từ và Cụm tính từ; - Chương trình địa phương; - Rèn luyện chính tả; - Ôn tập
tiếng Việt; - Kiểm tra tiếng Việt.
- Các bài học được sắp xếp theo trình tự từng tiết một như: Tiết 1, 2, 3, 5, 6,
7, 8, 9, 10, 11, 14, 16 ở sách giáo khoa trước cải cách (Tiếng Việt 6 tập I). Còn ở
sách giáo khoa sau cải cách (Ngữ Văn 6 tập I) lại được bố trí theo từng bài như: Bài
1, Bài 2, Bài 3, Bài 5, Bài 6, 7, Bài 8,10, Bài 11, Bài 12, Bài 13, Bài 14, Bài 15, Bài
16, Bài 17, mà phần tiếng Việt chỉ là những tiết học xen kẽ trong từng bài.
- Về cấu tạo nội dung bài học của Ngữ Văn 6 tập I so với Tiếng Việt 6 tập I.
- Ở sách Ngữ Văn 6 tập I sau cải cách, mục “Từ và cấu tạo từ” được xếp ở
Bài 1, tiết thứ 3, sau 02 văn bản có tên là “Con rồng cháu tiên” và “Bánh chưng
bánh dày”. Tiết cuối của Bài 1 là “Giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt”.
Mục “Từ và cấu tạo từ” gồm 04 nội dung được đánh số như sau: “I. Từ là gì”; “II.
Từ đơn và từ phức”; “III. Luyện tập; Đọc thêm. Và tất cả các nội dung trên chỉ được
trình bày từ trang 13 đến nửa trang 15, trong đó có 02 phần “ghi nhớ”. Ghi nhớ thứ
nhất (trang 13) là: “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu”. Ghi nhớ thứ
hai (trang 14) là: “Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ. Từ gồm một tiếng là từ đơn. Từ
gồm hai tiếng hoặc nhiều tiếng là từ phức. Những từ phức ghép các tiếng có quan
hệ với nhau về nghĩa được gọi là từ ghép. Còn những tiếng có quan hệ láy âm giữa

việc sách này Tiếng Việt 6 tập I (trước cải cách) đã nói đến từ, từ đơn thì cũng chỉ
nói đến khái niệm của từ phức nói chung: “… Từ gồm có hai hay nhiều tiếng gọi là
từ phức” (trang 04), chứ chưa cho biết khi nào được gọi là từ ghép và khi nào là từ 17
láy. Phần được gọi là “ghi nhớ” cho toàn bài của sách được ký hiệu bằng 02 gạch
dọc song song, có nội dung như sau: “Từ là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa, dùng để đặt
câu. Từ chỉ có một tiếng là từ đơn. Từ có hai hoặc nhiều tiếng là từ phức” (trang 04).
- Mục “Từ mượn” ở Ngữ Văn 6, tập I (sau cải cách), được xếp ở Bài 2, tiết 2
(từ trang 24 đến trang 27), gồm: “I. Từ thuần Việt và tự mượn”, có phần “ghi nhớ”
khá cơ bản, tóm tắt như sau: “Ngoài từ Thuần Việt… chúng ta còn vay mượn nhiều
từ… mà tiếng Việt chưa có từ thật thích hợp để biểu thị. Đó là từ mượn. Bộ phận từ
mượn quan trọng nhất… là từ mượn tiếng Hán (từ gốc Hán và từ Hán – Việt), bên
cạnh đó còn mượn từ của tiếng Pháp, Anh, Nga… Các từ mượn đã được Việt hóa
thì viết như thuần Việt. Với những từ mượn chưa Việt hóa hoàn toàn… những từ
gồm trên hai tiếng nên dùng gạch nối…” (trang 25). Ở “Nguyên tắc mượn từ”, có
một đoạn trích bài viết của Hồ Chủ tịch về việc dùng từ mượn và phần “ghi nhớ”
ngắn, gọn: “Mượn từ là một cách làm giàu tiếng Việt. Tuy nhiên, để bảo vệ sự trong
sánh của ngôn ngữ dân tộc, không nên mượn từ nước ngoài một cách tùy tiện”
(trang 25). Phần luyện tập của sách này chú trọng đến mục đích cần đạt với học sinh
Trung học cơ sở là “hiểu được thế nào là từ mượn (đặc biệt là từ Hán Việt) và bước
đầu biết cách sử dụng từ mượn” (trang 26). Ngoài ra, còn bài “Bác Hồ nói về việc
dùng từ mượn” làm bài đọc thêm (trang 27).
Trong khi đó, “Từ mượn” ở sách Tiếng Việt 6 tập I (trước cải cách) lại được
bố trí mãi ở tiết thứ 8 (từ trang 17 đến trang 19), gồm 03 phần: “Tìm hiểu bài”, “Bài
học”, với phần ghi nhớ: “Về mặt nguồn gốc, từ tiếng Việt chia thành 02 lớp: Từ
thuần Việt và từ mượn. Trong từ mượn, từ Hán Việt (mượn của tiếng Hán) ? là một
bộ phận khá quan trọng. Ngoài ra, còn có những từ mượn của các ngôn ngữ khác,
như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga (trang 18). Phần “bài tập” bố trí ở trang 18,

lời giải thích của những người lớn, hiểu biết. Đặc biệt là nên tra từ điển (từ điển học
sinh)… Như vậy, sách đã quan tâm khá chu đáo, thiết thực trong hướng dẫn chỉ bảo
cho học sinh bậc Trung học cơ sở. Tuy vậy, ở phần “bài tập”, sách lại yêu cầu học
sinh giải thích nghĩa của từ được dùng trong một số đoạn văn được trích từ tác
phẩm của Tô Hoài (trang 07). Xin tóm lược vài câu làm ví dụ: “Mưa đã ngớt. Trời
rạng dần. Mấy con chim chào mào từ hốc cây nào đó bay ra hót râm ran. Mưa
tạnh…”. Rồi bài tập yêu cầu các em phải giải thích nghĩa của những từ có gạch 19
chân. Nhiệm vụ này, theo chúng tôi quả là hết sức khó, đối với học sinh, thậm chí
còn khá khó và khá phức tạp ngay cả đối với các nhà biên soạn từ điển chuyên
nghiệp! Quả thật, trong thực tế, có lẽ ai cũng hiểu được nghĩa của các từ như: nhà,
cửa, mây, núi, chạy, đứng, ngồi, xanh, đen, đỏ, v.v…, nhưng giải thích chúng thành
lời… thì quả thực đâu phải dễ. Hình như, từ càng có nghĩa dễ hiểu thì lại càng khó
định nghĩa! Vì vậy, phải chăng việc học sinh không giải thích được, không định
nghĩa được một từ nào đó thì chưa hẳn điều này đã chứng tỏ rằng các em đã không
hiểu nghĩa của từ ấy?
- Mục “Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ” ở Ngữ Văn 6, tập
I (sau cải cách), được xếp trong Bài 5, tiết thứ 2 (trang 55, trang 56, trang 57, trang
58). Mở bài, soạn giả giới thiệu ngay một bài thơ ngắn của Vũ Quần Phương, nói về
“Những cái chân nhằm dạy cho học sinh về từ nhiều nghĩa”:
Tiếp đó, soạn giả dạy các em tra từ điển về từ “chân” (trong bài thơ) cũng
như cho một số từ chỉ gồm có 01 định nghĩa (com pa, kiềng). Ở cuối mục, có “ghi
nhớ”: “Từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa” (trang 56).
Còn ở sách tiếng Việt 6, tập I (trước cải cách) thì sao? Mục “Từ nhiều
nghĩa”, được xếp ở tiết 3 (trang 07, trang 08). Trong phần “Tìm hiểu bài” (trang
07), ngay đầu tiên soạn giả đã ra 02 câu mẫu dùng làm ví dụ và đã yêu cầu học sinh
“nói rõ nghĩa của từ “reo”… trong đó: a) “Thấy mẹ đi chợ về, em bé reo lên…” và
câu ví dụ thứ hai là một đoạn thơ ngắn của tác giả Lê Anh Xuân: b) “Tôi lớn lên đã

(xem bảng so sánh tên các bài học của sách giáo khoa trước và sau cải cách, trang
01).
- Bài học “So sánh” ở Tiếng Việt 6 tập II (trước cải cách)

được xếp ở tiết 23,
trong phần “Từ ngữ” (các trang 13, 14, 15, 16). Phần “Bài học” ở sách này, có đoạn
giải nghĩa: “So sánh gồm có hai vế. Vế A là vế được so sánh, vế B là về dùng để so
sánh. Giữa A và B có từ so sánh: như, giống, giống như, dường như, như thể, là,
v.v… Có khi lồng: bao nhiêu, bấy nhiêu,v…v… vào A và B để diễn tả so sánh”.
Sau đó, sách nêu các ví dụ (a), (b), và (c) (trang 14,15). Cuối phần “Bài học”, có
đoạn, được ký hiệu bằng hai đường dọc song song: “So sánh là đối chiếu hai hay
nhiều sự vật, sự việc cùng có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả một cách
hình ảnh (?), đặc điểm của một sự vật, sự việc”. 21
Trong khi đó, “So sánh” ở Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách)
)
, được dạy ở hai
bài: bài 19 và bài 21. Ở bài 19 (trang 24, 25, 26), cuối phần “So sánh là gì?”, có ghi
nhớ: “So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương
đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt”. Tiếp đến, ở cuối phần
“Cấu tạo của phép so sánh”, lại có đoạn “ghi nhớ” khá hoàn chỉnh:
+ Mô hình cấu tạo đầy đủ của một phép so sánh gồm:
Vế A (nếu tên sự vật, sự việc được so sánh).
Vế B (nếu tên sự vật, sự việc dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế A);
Từ ngữ chỉ phương diện so sánh; Từ ngữ chỉ ý so sánh (gọi tắt là từ so sánh).
+ Trong thực tế, mô hình cấu tạo nói trên có thể biến đổi ít nhiều:
Các từ ngữ chỉ phương diện so sánh và chỉ ý so sánh có thể được lược bớt.
Vế B có thể được đảo lên trước vế A cùng với từ so sánh (trang 25). Sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status