Nhận xét sách giáo khoa ngữ văn các lớp 6,7,8,9 năm học 2008 2009 ( phần văn xuôi) - Pdf 10

Nhận xét sách giáo khoa ngữ văn các lớp
6,7,8,9 năm học 2008 - 2009 ( Phần văn xuôi) Đoàn Thị Huệ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Cao Đàm
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Đưa ra những nhận xét, đánh giá về các bài văn xuôi của sách Ngữ văn 6,
7, 8, 9 năm học 2008-2009 một cách khách quan nhất. Đối chiếu, so sánh thêm với
sách cũ để tìm hiểu những ưu điểm, những hạn chế của sách năm học 2008-2009.
Đưa ra được một số ý kiến đóng góp, kiến nghị để giúp một phần cho người soạn
sách hoàn thiện bộ sách hơn, và là cứ liệu xác đáng nhất cho những người nghiên
cứu sau này đi sâu hơn nữa về việc tìm hiểu, đóng góp ý kiến cho việc xây dựng bộ
sách giáo khoa Ngữ Văn Trung học cơ sở được hoàn thiện và phù hợp nhất cho học
sinh.

Keywords. Ngôn ngữ học; Ngữ văn; Tiếng Việt

Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau khi bộ sách Ngữ văn 6, 7, 8, 9 mới cải cách ra đời, đã có nhiều ý kiến tranh luận
khen chê về bộ sách này. Trước đây môn Ngữ văn được chia làm 3 phần học (Văn, Tiếng
Việt, và Tập làm văn) với 3 bộ sách tách biệt hẳn là Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn,
nhưng hiện nay theo chủ trương của Bộ Giáo dục thì cả 3 phần học này được gộp lại thành

văn, chúng tôi chỉ mong muốn đóng góp phần nhỏ ý kiến của mình có thể giúp ích cho người
biên soạn sách. Và cũng là cứ liệu xác đáng nhất cho những người nghiên cứu sau này đi sâu
hơn nữa về việc tìm hiểu, đóng góp ý kiến cho việc xây dựng bộ sách giáo khoa Ngữ Văn
Trung học cơ sở được hoàn thiện và phù hợp nhất cho học sinh.

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN XUNG QUANH ĐỀ TÀI
1.1 Đặc điểm của học sinh THCS (lớp 6, 7, 8, 9)
1.1.1 Đặt vấn đề tâm sinh lý.
Học sinh THCS (từ lớp 6 - 9) có tuổi đời ứng với tuổi thiếu niên là giai đoạn phát
triển của trẻ từ 11 - 15 tuổi. Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời
kỳ phát triển của trẻ, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được
phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “tuổi khó bảo“,“tuổi bất trị”, “tuổi khủng
hoảng”.
Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, giúp chúng ta có cách
đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn diện.
1.1.2 Đặt vấn đề về quá trình nhận thức
Quá trình nhận thức của các em Học sinh Trung học cơ sở cao hơn các em ở bậc tiểu
học rất nhiều cả về sách vở lẫn kiến thức ngoài cuộc sống.
Môn Ngữ Văn có nhiều lợi thế để hình thành tư duy hình tượng cho học sinh vì chữ
viết được xem là một biểu tượng. Học chữ là một trong những con đường để hình thành biểu
tượng. Việc tích hợp dạy Ngữ Văn được xem là biện pháp để hình thành và phát triển tư duy
hình tượng văn học cho các em. Các em được rèn luyện sẽ biết cách xử lý mọi tình huống và
độc lập trong suy nghĩ, tự phát triển mình cả trong nhà trường và ngoài xã hội.
1.1.3 Đặt vấn đề về nhân cách
Một trong những đặc điểm quan trọng của sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi Trung
học cơ sở là sự hình thành tự ý thức. Mức độ tự ý thức của các em cũng có sự khác nhau về
nội dung và về cách thức.
Nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con
người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên
trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc. Vì lí do đó mà môi trường giáo dục, cách

hành trong các mối quan hệ xã hội giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm chiếm
lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người”.
1.2.2 Dạy học
Dạy học là một hình thức giáo dục đặc biệt quan trọng và cần thiết cho sự phát triển
trí tuệ, hoàn thiện nhân cách học sinh.
Sách giáo khoa cụ thể hóa về yêu cầu nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong
chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp. Tuy nhiên đối với môn Ngữ Văn cần phải
đạt ba tiêu chuẩn sau cho học sinh: Trí dục, Đức dục và Mỹ dục.
Các văn bản của nội dung dạy học là Kế hoạch giảng dạy; chương trình môn học;
giáo trình, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo.
1.2.3 Bản chất và đặc điểm của hành động dạy học ở THCS
Hoạt động dạy học ở Trung học cơ sở là theo từng môn học được chỉ đạo, hướng dẫn
trực tiếp của giáo viên bộ môn tương ứng. Điều này khác với hoạt động dạy học ở tiểu học,
mỗi môn học được hướng dẫn bởi một giáo viên có phong cách, phương pháp, trình độ, …
dạy học riêng nên tạo ra sự đa dạng trong dạy học. Vấn đề này cũng ảnh hưởng đến nhân
cách của học sinh. Giáo viên cần cải tiến phương pháp cho phù hợp với đặc điểm môn mình
đảm nhiệm cũng như đặc điểm từng học sinh.
Trong quá trình dạy học giáo viên nên tìm hiểu tâm lý của học sinh, cảm giác, tri giác,
tư duy, trí nhớ, tưởng tượng, xúc cảm, tình cảm, nhu cầu, hứng thú, chú ý, trạng thái tâm lý.
Đây là đặc điểm cơ bản của hoạt động dạy học ở trường Trung học cơ sở.
1.3 Sách giáo khoa Ngữ văn
1.3.1 Sách giáo khoa lớp 6
Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 6 (gồm: Văn học, Tiếng Việt, và Tập làm văn)
so với sách Văn học 6, Tiếng Việt 6, và Tập làm văn 6 có thay đổi như sau:
- Thay đổi cách gọi từ “Tiết” sang “Bài”.
- Thay đổi Cấu trúc bài giảng.
- Thay đổi cách chia phần: Văn học có 03 phần (Văn học Dân gian; Văn học từ sau
cách mạng tháng 8-1945 đến nay; và Văn học nước ngoài). Sách Ngữ văn 6 đã bỏ cách chia
này.
- Thêm nhiều bài mới và bỏ một số bài cũ để phù hợp với tâm lí học sinh và xã hội

- Thay đổi cách gọi từ “Tiết” sang “Bài”.
- Thay đổi Cấu trúc bài giảng.
- Thay đổi cách chia phần: Văn học có 02 phần (Văn học Việt Nam và Văn học nước
ngoài). Sách Ngữ văn 9 đã bỏ cách chia này.
- Chuyển một số bài ở lớp 9 xuống và từ lớp dưới lên và ngược lại; Thêm nhiều bài mới và
bỏ một số bài cũ để phù hợp với tâm lí học sinh và xã hội ngày nay.
- Thêm Chương trình địa phương và Bảng tra yếu tố Hán Việt.

CHƢƠNG 2: SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 6, 7, 8, 9 NĂM HỌC 2008-2009.
2.1 Về chủ trƣơng của Bộ Giáo Dục đào tạo
Bộ sách giáo khoa Ngữ văn bậc Trung học cơ sở (THCS) được biên soạn theo chương
trình THCS ban hành kèm theo Quyết Định số 03/2002/QĐ – BGD & ĐT, ngày 24 tháng 1
năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào tạo, cụ thể theo hướng “tích hợp” ba phân môn
Văn học, Tập làm văn và Tiếng Việt gộp làm một bộ sách là Ngữ văn.
Theo “Chương trình Trung học phổ thông môn Ngữ văn - Bộ GD&ĐT, năm 2002” về
quan điểm “Tích hợp”: “Quan điểm tích hợp cần được hiểu toàn diện và phải được quán triệt
trong toàn bộ môn học: từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của
quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương
trình, tích hợp trong sách giáo khoa, tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và
tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo.
Quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm” đòi hỏi thực hiện việc tích cực hoá hoạt động học
tập của học sinh trong mọi mặt, trên lớp và ngoài giờ; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học
của học sinh, phát huy tinh thần dân chủ, bồi dưỡng lòng tin cho học sinh thì các em mới tự
tin và tự học, mới xem tự học là có ý nghĩa và như vậy đào tạo mới có kết quả”.
2.2 Nhận xét về chủ điểm và nội dung các bài học
2.2.1 Nhận xét về cách đặt tiêu đề và phân đoạn bài học
a) Cách đặt tiêu đề
Những bài văn xuôi ở sách Ngữ Văn THCS đều được lấy của các tác giả là nhà văn
hoặc những bài văn học của tác giả có uy tín. Vì vậy để đặt được những tiêu đề này, bản thân
tác giả cũng phải cân nhắc rất kỹ. Tiêu đề của các bài văn xuôi được đặt theo 06 kiểu (K)

Trong các sách Ngữ Văn lớp 6, 7, 8, 9 đều có Bảng tra yếu tố Hán Việt ở cuối trang
sách trong phần Phụ Lục ở tập II của các lớp.
Ví dụ: Sách Ngữ văn 6 tập II
BẢNG TRA CỨU YẾU TỐ HÁN VIỆT
Thứ
tự
Yếu tố
Hán Việt
Bài
Nghĩa
Từ chứa yếu tố Hán Việt
1
Biệt
22
Xa cách nhau
Tạm biệt, tiễn biệt (bài 14), từ biệt (bài
1), vĩnh biệt…
2
Chiến
27
Đánh nhau
Chiến đâu (bài 26), chiến lợi phẩm,
chiến mã (bài 27), chiến thắng, chiến
tranh (bài 27), kháng chiến…
Dưới Phụ lục có ghi chú rất rõ về Chữ in nghiêng chỉ Yếu tố Hán Việt cần ghi nhớ và
Phần mở rộng chủ yếu dựa vào cuốn “Từ điến từ Hán Việt” của Phan Văn Các, NXB Giáo
dục, 1994.
b) Từ Ấn Âu
Để khảo sát tình hình sử dụng từ Hán Việt trong các bài văn xuôi sách Ngữ Văn
Trung học cơ sở, chúng tôi dựa vào quan niệm về loại từ này của sách “Cơ sở ngôn ngữ học

Nói trổng; Vô; Chén; Lòi tói; Anh Sáu; Chị Sáu; Thẹo; Miền Đông; Té…
2.2.3 Nhận xét về câu
Các bài văn xuôi trong sách Ngữ Văn 6, 7, 8, 9 có câu đơn dễ hiểu, ngắn gọn ít sai cú
pháp. Tuy nhiên, các câu phức cũng khó và phức tạp hơn, thậm chí còn dài nữa.
Trong các sách Ngữ Văn 6, 7, 8, 9 có rất nhiều câu đơn chỉ có một thành phần không
dài, không rườm rà giúp các em học sinh dễ hiểu:
Ví dụ: “Cuộc chia tay đột ngột quá. Thủy nhƣ ngƣời mất hồn, mặt tái xanh nhƣ
tàu lá. Em chạy vội vào trong nhà mở hòm đồ chơi của nó ra. Hai con búp bê đặt gọn
vào trong đó.”.
(Cuộc chia tay của những con búp bê, Ngữ Văn 7 tập I)
Ngoài ra còn có các câu đơn có nhiều thành phần, chứa đựng nhiều thông tin giúp học
sinh dễ dàng liên tưởng trong quá trình nhận thức một vấn đề nào đó:
Ví dụ: “Càng đổ dần về hƣớng mũi Cà Mau thì sông ngòi, kênh rạch càng bủa
giăng chi chit nhƣ mạng nhện. Trên thì trời xanh, dƣới thì nƣớc xanh, chung quanh
mình cũng chỉ toàn một sắc xanh cây lá…”.
(Sông nước Cà Mau, Ngữ Văn 6 tập II)
Những câu phức trong các bài văn xuôi ở bậc Trung học cơ sở khó dần lên, ngoài
những câu phức ngắn, có vế câu đơn giản thì còn có những câu phức rất dài, chứa đựng nhiều
thông tin một lúc.
- Ví dụ câu phức ngắn, có vế đơn giản dễ hiểu:
“Ông Hai hì hục vỡ một vạt đất rậm ngoài bờ suối từ sáng đến giờ, ông tính để
trồng thêm vài trăm gốc sắn ăn vào những tháng đói sang năm. Có một mình, ông phải
làm cố, hai vai ông mỏi nhừ.”
(Làng, Ngữ Văn 9 tập I)
- Ví dụ những câu phức dài, có vế câu phức tạp, khó hiểu, chứa nhiều thông tin:
“Nhƣng chúng ta đọc các dòng cuối cùng rồi, chúng ta biết hết đầu đuôi câu
chuyện rồi, chúng ta biết nàng Kiều mƣời lăm năm đã chìm nổi những gì, hay là An-na
Ca-rê-nhi-na đã chết thảm khốc ra sao, chúng ta không còn cần biết gì thêm, mà vẫn
còn ngồi mãi trƣớc trang sách chƣa muốn gấp, đầu óc bâng khuâng nặng những suy
nghĩ, trong lòng còn vƣơng vất những vui buồn không bao giờ quên đƣợc nữa: chúng ta

2.3 Tiểu kết
- Về tiêu đề: Hầu như các bài Văn bản đều là của những tác giả có tên tuổi, nên việc
đặt tiêu đề của bài văn xuôi đó được coi là chính xác, xác thực với nội dung của bài.
- Về câu, từ: Các bài văn xuôi trong sách Ngữ Văn 6, 7, 8, 9 có câu đơn dễ hiểu, ngắn
gọn ít sai cú pháp. Tuy nhiên, các câu phức cũng khó và phức tạp hơn, thậm chí còn dài.
- Về từ ngữ Hán Việt, Ấn Âu: Cung cấp không nhỏ những từ này, có sự giải thích rõ
ràng theo từ điển. Ngoài ra trong mỗi lớp cuối sách đều có Bảng tra cứu yếu tố Hán Việt rất
rõ ràng.
- Về từ ngữ địa phương: Trong các bài văn xuôi hầu như đều dùng từ ngữ chuẩn, ít bài
dùng từ địa phương. Ngoài ra mỗi lớp đều có bài “Chương trình địa phương”.
- Về các chú thích, giải nghĩa và cách đặt câu hỏi: + Người biên soạn nên chú ý nhiều
hơn đến từ là điển tích, điển cố, Hán Việt để giải thích cặn kẽ cho học sinh dễ tiếp thu.
+ Về cách đặt câu hỏi, sách sau cải cách đã tập trung đến dạng câu hỏi mở, giúp học
sinh phát huy được trí tưởng tượng cũng như sự tìm hỏi hiểu sâu vấn đề.

CHƢƠNG 3: CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM VỀ SÁCH GIÁO KHOA 6, 7, 8, 9
NĂM HỌC 2008-2009
3.1 Phần trả lời câu hỏi trắc nghiệm với giáo viên
3.1.1 Vể sách giáo khoa lớp 6
Phần trả lời của giáo viên có kinh nghiệm dạy 21 năm môn Văn cho thấy đòi hỏi học
sinh phải nhớ kiến thức từ lớp dưới lên lớp trên và thông suốt trong quá trình học. Chương
trình sách sau cải cách dùng phương án “tích hợp” cả ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và
Tập làm văn là hợp lí đối với giáo viên và học sinh hiện nay.
3.1.2 Về sách giáo khoa lớp 7
Theo kết quả điều tra cho thấy, đối với giáo viên có kinh nghiệm dạy 14 năm Đỗ Thị
Hằng, chương trình sách sau cải cách khá phù hợp đối với học sinh và giáo viên. Tuy nhiên
về phần câu, soạn giả nên chú trọng hơn, không nên đưa câu quá dài, quá nhiều thông tin vào
văn bản. Ngoài ra, thơ Đường đối với các em học sinh lớp 7 là quá tầm nhận thức của các em.
3.1.3 Về sách giáo khoa lớp 8
Theo phần trả lời của cô giáo Nguyễn Thị Thủy có 17 năm kinh nghiệm. Học sinh lớp

không giải thích ở phần chú thích.
3.1.4 Về sách giáo khoa lớp 9
Theo như phần trả lời của học sinh cho thấy, dạng câu hỏi mở và Bảng tra yếu tố
Hán Việt, các em đều thích. Vì từ “Hủi và “Cải chính” đều giải thích ở phần chú giả có
trong tác phẩm Người con gái Nam Xương, tác giả Nguyễn Dữ, sách Ngữ văn 9 tập một
(sau cải cách) nên các em cũng có giải thích và lấy ví dụ đúng.
3.3 Tiểu kết
Qua điều tra cho thấy, chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở soạn theo hướng “tích
hợp” nhìn chung khá phù hợp với học sinh và giáo viên, mặc dù sách có rất nhiều thay đổi
nếu như không nói hoàn toàn về Văn bản cũng như mô hình cấu trúc, câu hỏi,…
Học sinh và giáo viên đều thích hướng “tích hợp” của Ngữ văn Trung học cơ sở.
Hướng “tích hợp” giúp giáo viên dễ soạn bài và giúp học sinh dễ học bài hơn vì cả ba phân
môn Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn nội dung cả ba phân môn này đều có mối liên quan
đến nhau.
Sách sau cải cách có nhiều thay đổi như “Bảng tra Yếu tố Hán Việt” và “Chương
trình địa phương”, … đã giúp ích rất nhiều cho học sinh trong quá trình học và tiếp nhận
nghĩa của từ.
Phần chú thích, ý kiến của giáo viên, soạn giả nên chú thích những từ là điển tích,
điển cố… ở các văn bản rõ ràng để cho các em hiểu hơn trong quá trình học tập.

CHƢƠNG 4: CÁC THAY ĐỔI CỦA SÁCH GIÁO KHOA 6, 7, 8, 9 NĂM HỌC
2008-2009 SO VỚI NĂM 2000-2001.
4.1 Thay đổi cấu trúc bài học
Cấu trúc một bài học rất quan trọng đối với học sinh, vì chính cấu trúc bài học sẽ
hướng dẫn các em cần phải học cái gì trước cái gì sau và nên ghi nhớ, tìm hiểu điều gì trong
mỗi bài học. Do đó, thiết kế một cấu trúc bài học phù hợp với học sinh không phải là điều
đơn giản.
Trong chương trình sách giáo khoa môn Văn ở Việt Nam trước cải cách (năm 2002)
chủ yếu được cấu tạo theo hình thức bài học trên lớp, thuộc kiểu cấu trúc bài học truyền
thống và khác hẳn với kiểu cấu trúc của sách sau cải cách. Dưới đây là kết quả như sau:

những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh ra một cách giấu giếm trốn tránh như
một kẻ giết người lúng túng với con dao vấy máu của nó. Tôi cười dài trong tiếng khóc, hỏi
cô tôi”.
Bài “Trong lòng mẹ” của tác giả Nguyên Hồng, Ngữ văn 8 tập I (sau cải cách) trang
16 đã cắt bỏ “trốn tránh như một kẻ giết người lúng túng với con dao vấy máu của nó” rất
hợp lí đối với tâm lí học sinh cấp hai tâm sinh lí đang trong giai đoạn phát triển cũng như tìm
hiểu những vấn đề xã hội.
4.3.2 Thay đổi không hợp lý
Không có trường hợp nào.
4.4 Thay đổi về đoạn văn
Tác giả soạn sách Ngữ Văn Trung học cơ sở đã tách hoặc bớt đi một đoạn văn dài
trong bài học so với sách Văn học. Những đoạn văn này dù tách hoặc bớt đi nhưng không ảnh
hưởng đến nội dung và cấu trúc của bài. Vì mục đích của việc tách hoặc bớt đoạn văn này là
để phù hợp với nội dung bài hoặc đôi khi cũng là để phù hợp với chương trình dạy học.
4.4.1 Thay đổi hợp lý
Ví dụ 1: Trong bài “Tức nước vỡ bờ” trích tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, sách
Văn học 8 (trước cải cách), trang 21 có đoạn mà sách Ngữ văn 8 tập I (sau cải cách) đã cắt bỏ
đoạn đầu, phù hợp với ý nghĩa xã hội và nhận thức của học sinh hiện nay.
4.4.2 Thay đổi không hợp lý
Dù bỏ đoạn văn không ảnh hưởng đến nội dung hay cấu trúc bài học, tuy nhiên nếu bỏ
đi đoạn văn này thì câu chuyện đã mất đi phần nào giới thiệu về nhân vật cũng như nguyên
nhân của các nhân vật đến Sa Pa.
Ví dụ: Trong bài “Lặng lẽ Sa Pa” tác giả Nguyễn Thành Long, Ngữ Văn 9 tập I (sau
cải cách), đoạn đầu đã bị bỏ so với sách Văn học 9 tập II (trước cải cách)
4.5 Thay bài trong cùng chủ điểm
4.5.1 Thay đổi hợp lý
Bài “Tôi đi học” của tác giả Thanh Tịnh ở sách Văn học 8 tập I (trước cải cách) chỉ là
bài đọc thêm, tuy nhiên ở sách Ngữ văn 8 tập I (sau cải cách) đã được tác giả biên soạn thành
bài học chính và sắp xếp ở ngay bài học đầu tiên. Sự sắp xếp này phù hợp với tâm lí học sinh
và xã hội hiện nay lấy học sinh là trung tâm.

chú ý sau:
Phần “Văn bản” đã bỏ đi rất nhiều bài và thêm nhiều bài so với sách trước cải cách.
Có một số văn bản mới nếu chuyển lên lớp 9 học thì hiệu quả mang lại rất cao như bài “Cuộc
chia tay của những con búp bê”. Và một số văn bản nên để ở chương trình lớp 9 học sẽ phù
hợp với lực học của các em học sinh hơn như văn bản thơ đường không nên chuyển xuống
lớp 7 mà cứ để ở chương trình lớp 9.
Phần từ ngữ, không nên để câu phức quá dài, nên chia thành các câu đơn giản giúp
các em dễ hiểu hơn.
Phần chú thích, tìm và giải thích triệt để những từ là điển tích, điển cố, những từ Hán
Việt…
Nhìn chung sách Ngữ Văn trung học cơ sở lần cải cách này khá thành công trước mục
tiêu đặt ra, lấy học sinh làm trung tâm, xây dựng hệ thống sách nhằm phục vụ lợi ích cho học
sinh phù hợp với xã hội ngày nay. Mặc dù còn có một số điểm chưa hợp lí, nhưng những ý
kiến này chỉ mang tính chất đóng góp giúp người soạn sách hoàn thiện hơn. Chúng tôi không
có tham vọng sửa chữa những khiếm khuyết của bộ sách mà chỉ là góp một tiếng nói, một vài
ý kiến như viên gạch trong số hàng vạn viên gạch xây nên nền tảng tri thức cho học sinh. References
1. Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến,Cơ sở ngôn ngữ học
và Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội. 2001.
2. Nguyễn Cao Đàm, Ngữ pháp Tiếng Việt dưới ánh sáng của Loại hình học, Hà
Nội, 2003.
3. Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Minh Thuyết, Đoàn Thiện Thuật, Dẫn luận ngôn
ngữ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006.
4. GS. Nguyễn Minh Thuyết – PTS Nguyễn Văn Hiệp, Thành phần câu Tiếng
Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998.
5. Hoàng Phê (Chủ biên) (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
6. Bộ giáo dục – trung tâm biên soạn sách cải cách giáo dục (1998), Những vấn
đề ngôn ngữ sách giáo khoa (tập 2), NXB Giáo dục, Hà Nội.

Hà Nội, 2003.
22. Quyết định số 03/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/01/2002 của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT về việc ban hành Chương trình Trung học cơ sở.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status