Những phương tiện nối kết trong văn bản nghệ thuật (Dựa trên cứ liệu thơ Nguyễn Bính - Pdf 26


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đỗ Anh Vũ Những phương tiện nối kết trong văn bản nghệ
thuật (Dựa tren cứ liệu thơ Nguyễn Binh) Luận văn ThS. Ngôn ngữ học: 60 22 01


Nguyễn Bính thời tiền chiến……………………………………
1. Những biểu hiện của lớp bề mặt
2. Hệ thống các phương tiện từ vựng như những tín hiệu
thẩm mĩ
3. Chủ đích của chủ thể sáng tạo văn bản
Chương 3: Nguyễn Bính và các nhà thơ cùng phong cách
1. Nguyễn Bính và các nhà thơ tiền chiến
2. Nguyễn Bính và các nhà thơ đồng quê
3. Nguyễn Bính và các nhà thơ sở trường lục bát
PHẦN KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Liên kết văn bản là một lĩnh vực còn mới mẻ trong những nghiên
cứu về ngôn ngữ học. Giói nghiên cứu ngữ pháp đã sớm nhận ra rằng,
không thể thoả mãn với việc xem câu là đơn vị cơ bản và trung tâm của
những nghiên cứu ngữ pháp mà cần phải đặt nó trong những trường đoạn
lớn hơn. Thế nhưng, còn cần phải hướng đến việc chỉ ra những liên kết
trong một chỉnh thể văn bản, thậm chí là liên văn bản, nói cho cụ thể hơn
là khi những văn bản ấy thuộc cùng một chủ thể sáng tạo thì chúng có sự
liên kết với nhau như thế nào? Những nghiên cứu về ngữ pháp văn bản
nói chung và nối kết nói riêng của các tác giả đi trước ở Việt Nam thường
chỉ tập trung vào những cứ liệu văn xuôi chứ ít để ý đến cứ liệu thơ.
Đứng trước tình hình trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: Những
phƣơng thức nối kết trong văn bản nghệ thuật (dựa trên cứ liệu thơ
Nguyễn Bính) với mong muốn đề ra một hướng tiếp cận mới cho nghiên
cứu nối kết văn bản nói chung và đặc biệt là văn bản thi ca nói riêng.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: NHỮNG XUẤT PHÁT ĐIỂM
I. Nối kết là gì?
1.Nối kết trong mối quan hệ với ngữ pháp học
Như ta đã biết, ngữ pháp học truyền thống coi câu là đơn vị cơ bản,
có ý nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp, có tính chất độc lập, có chức
năng thông báo và tạo lập văn bản. Nói cách khác, giới ngữ pháp tập
trung vào nghiên cứu câu như một đơn vị mang đặc tính tột cùng trong
các thang bậc đơn vị của ngành học. Tuy nhiên, dần dần người ta đã nhận
thấy, việc nghiên cứu ngữ pháp học theo cách chỉ tập trung vào đơn vị
câu sẽ không thể giải quyết được nhiều vấn đề nảy sinh mà ngôn ngữ học
hiện đại đã chỉ rõ. Các vấn đề đó là:
- Tính mơ hồ của câu
- Ý định tham chiếu của người nói
- Chủ đích giao tiếp mà người nói gửi gắm
- Thông tin phi nguyên văn
- Dung lượng thông tin lớn hơn nghĩa câu
- Nghĩa tham chiếu của các đơn vị lời nói đặc biệt
- Câu không chỉ có chức năng giao tiếp
Như vậy, người ta phải tiến tới việc nghiên cứu câu trong một cái

tục lại phải xây dựng hàng loạt các luật chế định để gạt bớt các câu trong
thực tế không bao giờ dùng , thì đó chỉ là một “thứ ngữ pháp vứt đi”.
Tương tự như vậy, việc tin rằng có thể dựa vào các đặc điểm ngữ cảnh và
các giả định có cơ sở của người tiếp nhận mà giải ra các thông điệp cũng
là một điều không có tính khả thi. Bởi lẽ, trên thực tế, người nhận thông
tin không thể nào làm một cách máy móc là lần lượt điểm qua tất cả các
đặc điểm của ngữ cảnh rồi cân nhắc từng đặc điểm ấy để cuối cùng mới
rút ra được một phương án giải mã cho một phát ngôn cụ thể có trong
thực tế giao tiếp.
Như vậy, trong nhiều sự kiện giao tiếp, nội dung quan trọng nhất
của một hành vi ngôn ngữ không nằm ở một hình thức thể hiện như thế
nào mà ở cái ngụ ý nằm dưới cái hình thức giao tiếp đó. Ở đây, có thể
dùng mức độ giao tiếp thành công (successful communication) để đánh
giá hiệu quả thông hiểu một hành động ngôn từ cụ thể, tức là mức độ hiểu
được nghĩa phát ngôn từ phía người tiếp nhận. Khái niệm này được quy
định bởi sự thông đạt chủ đích từ phái nguồn đến phía đích và được đích
nhận ra do vốn kinh nghiệm và niềm tin chung giữa nguồn và đích.
Như vậy, việc tri nhận nghĩa của văn bản phải được dựa vào ngôn
cảnh và được nhận ra qua các hành động ngôn từ kế tiếp, qua các phát
ngôn (môi trường hội thoại) hay qua các câu (môi trường văn bản). Để
liên tục thể hiện được các hành động ngôn từ như vậy, ta cần đến các nối
kết hay các phƣơng tiện của nối kết.
2. Những nghiên cứu về nối kết ở Việt Nam.
2.1 Các quan điểm đi trƣớc
Ở Việt Nam từ trước đến nay, chưa có nhiều lắm những công trình
nghiên cứu về ngữ pháp văn bản nói chung và nối kết nói riêng. Xin nói
ngay rằng, thay vì cách dùng thuật ngữ “nối kết”, các nhà ngữ pháp ở
Việt Nam trước đến nay đa số sử dụng thuật ngữ liên kết. Vì lẽ đó, sau
đây xin được điểm lại những công trình nghiên cứu về liên kết văn bản ở
Việt Nam.

8. Phép nối lỏng
9. Phép tỉnh lược mạnh
10. Phép nối chặt
Liên kết nội dung bao gồm hai bình diện là liên kết chủ đề và liên
kết logic. Liên kết chủ đề bao gồm liên kết duy trì chủ đề và liên kết phát
triển chủ đề. Liên kết logic bao gồm liên kết logic bên trong một câu và
liên kết logic giữa câu với câu.
Khác với Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban (DQB) phân biệt hai
thuật ngữ “liên kết” và “mạch lạc”. Với DQB, mạch lạc có hai cấp độ.
Cấp độ 1 được hiểu là: “cái tầm rộng mà ở đó các lời nói được tiếp nhận
là có mắc vào nhau, chứ không phải là một tập hợp câu nói không có liên
quan đến nhau". Ở cấp độ 2, mạch lạc được hiểu là “ sự nối kết có tính
chất logic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt truyện, một
truyện kể v.v…, lệ thuộc vào việc tạo ra những sự kiện được kết nối với
nhau, hơn là những dây liên hệ thuộc ngôn ngữ”. DQB còn phân biệt ra 3
loại mạch lạc lớn là: mạch lạc trong quan hệ nghĩa – logic giữa các từ ngữ
trong văn bản, mạch lạc trong quan hệ từ ngữ trong văn bản với cái được
nói tới trong tình huống bên ngoài văn bản và mạch lạc trong quan hệ
thích hợp với các hành động nói. Còn liên kết được hiểu là “quan hệ giữa
hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu theo kiểu giải thích nghĩa cho
nhau (…)muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa
của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu chứa chúng liên kết được với
nhau”. Nói tóm lại, theo DQB, mạch lạc là yếu tố bao trùm lên liên kết.
DQB đưa ra 5 phép liên kết chủ yếu như sau:
1. Phép quy chiếu, gồm:
- Quy chiếu chỉ ngôi
- Quy chiếu chỉ định
- Quy chiếu so sánh
2. Phép thế
3. Phép tỉnh lược

bản, người phân tích thường chú ý đi tìm tất cả những dấu hiệu liên kết
hình thức có trong văn bản. Nhưng trên thực tế, ta sẽ bắt gặp nhiều trường
hợp mà trật tự các phát ngôn trong một văn bản có thể thay thế được cho
nhau. Nói cách khác, trật tự các phát ngôn câu nọ kế tiếp câu kia trên mỗi
ngôn bản không phải là một trật tự nhất thành bất biến. Ta sẽ quan sát
đoạn văn sau đây của Tô Hoài nói về cái mâm chõng:
Cái mâm chõng ở mỗi nhà được dọn ăn hàng ngày (1). Mặt phẳng
như cái chõng, mặt đan tre cật có bốn cái chân chắp hoặc sáu ống tre,
mua cái mâm chõng về gác bếp ít lâu, mặt tre cật ngả màu bồ hóng,
người ghế ngồi ăn hai bên (2). Ngày ngày đến bữa ăn ngả ra làm mâm
(3). Trên mâm chõng bày bát đĩa thức ăn, bát canh, nồi cơm thì đặt ở đầu
mâm(4). Cả nhà ngồi quanh mâm chõng, người ngồi xổm hay ngòi gộc
tre, ngồi ghế nứa ống vầu (5). Ăn cơm xong, cái mâm chõng lại gác lên
vách nhà bếp (6).
Đoạn văn trên có thể sắp xếp lại theo nhiều trật tự khác nhau mà ý
toàn đoạn không thay đổi:
Cách 1: Cái mâm chõng ở mỗi nhà được dọn ăn hàng ngày (1).
Ngày ngày đến bữa ăn ngả ra làm mâm (3). Cả nhà ngồi quanh mâm
chõng, người ngồi xổm hay ngòi gộc tre, ngồi ghế nứa ống vầu(5). Mặt
phẳng như cái chõng, mặt đan tre cật có bốn cái chân chắp hoặc sáu ống
tre, mua cái mâm chõng về gác bếp ít lâu, mặt tre cật ngả màu bồ hóng,
người ghế ngồi ăn hai bên (2). Trên mâm chõng bày bát đĩa thức ăn, bát
canh, nồi cơm thì đặt ở đầu mâm(4). Ăn cơm xong, cái mâm chõng lại
gác lên vách nhà bếp (6).
Cách 2: Cái mâm chõng ở mỗi nhà được dọn ăn hàng ngày (1). Ăn
cơm xong, cái mâm chõng lại gác lên vách nhà bếp (6). Ngày ngày đến
bữa ăn ngả ra làm mâm (3). Cả nhà ngồi quanh mâm chõng, người ngồi
xổm hay ngòi gộc tre, ngồi ghế nứa ống vầu(5). Trên mâm chõng bày bát
đĩa thức ăn, bát canh, nồi cơm thì đặt ở đầu mâm(4). Mặt phẳng như cái
chõng, mặt đan tre cật có bốn cái chân chắp hoặc sáu ống tre, mua cái

muốn thông điệp. Hai truyện ngắn sau đây trong tập Cánh đồng bất tận
của Nguyễn Ngọc Tư sẽ là những ví dụ tiêu biểu cho vấn đề này.
Truyện ngắn Cải ơi nói về những nỗ lực vô vọng của người cha đi
tìm đưa con gái bó nhà đi từ lúc mới mười ba, tác giả đã rắc đều đặn lên
khắp bề mặt của văn bản hàng loạt từ ngữ có quy chiếu về việc đi tìm con
của ông Năm Nhỏ. Đó có thể là chuỗi các từ hợp thành những phát ngôn
trọn vẹn, giống như những lời gọi thảm thiết của ông:
- Cải ơi!
- Cải phải hôn con
- Cải ơi! Ba là Năm Nhỏ nè con…
- Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè, nhà mình ở Co Cháy đó, nhớ không?
- Về nhà đi con, tội má con vò võ một mình.
- Về nghe con, ơi Cải…
- Về đi con ơi
- Tía kiếm có con Cải rồi, dễ ợt mày ơi.
- Con Cải chắc chết ngắc rồi.
- Con Cải tui về đây nè, bà con coi, nó lớn quá chừng hen.
- Con không về ba nhớ đã đành, má con còn giận ba, không nhìn
mặt.
Cũng có khi là sự xuất hiện của các tổ hợp từ ngữ, tuy chưa trọn
vẹn những cũng đủ gợi ra ngữ nghĩa của đi, về, kiếm tìm - những động từ
cốt yếu tương hợp với việc đi tìm con của nhân vật:
- …tìm cho ra con Cải…
- …dứt khoát tìm dược con Cải về…
- …tiếp tục cuộc kiếm tìm…
- …nhắn tìm con…
- Đưa con nhỏ về nhà
- Con Cải có nhận ra ông không
- Con không về
- Diễm Thương về nhà bên này

+ Cương quyết chí chết vì già
+ vẻ mặt cố tỏ vẻ buồn nhưng hàm râu xuôi xị
+ đám trẻ cù lao đã được học hành nhưng chẳng đứa nào chịu
quay về
- Sản vật:
+ con cá ốm nhom, trắng dờ con mắt, lội vật vờ tới lui chờ hoá
kiếp
+ bữa thì cháo vịt, cháo rắn, bữa khác tôm nướng lươn um
+ khoai luộc
+ bí hầm dừa
- Sức khoẻ và bệnh tật:
+ bị đẹn mà chỉ được rơ miệng bằng co mực
+ những đứa trẻ xuất huyết chỉ chữa bằng cạo gió, uống nước mía
lau, rễ tranh
+ những đứa trẻ mắc thương hàn bị thủng ruột vì tự do chạy ra
vườn ổi chua, ổi chát
+ buổi sang người than nhức đầu, sổ mũi
+ buổi chiều thêm chứng chóng mặt đau mình
+ đau bụng kinh
+ nhậu xỉn là ói
+ bệnh đau bao tử
+ chim bị còng kẹp
Như vậy, trong một văn bản, mạng lưới ngữ nghĩa sâu chính là cơ
sở quan trọng cho những liên kết hình thức ở bề mặt văn bản. Sự phân bố
với mật độ dày đặc các cấu trúc ngôn từ cùng sự huy động những từ ngữ
có sức tạo nên một trường quy chiếu có chủ đích đã làm cho các phát
ngôn trên bề mặt được liên kết chặt chẽ lại. Chúng tôi cho rằng ngữ nghĩa
tầng nền này mới chính là cái tất yếu và cần yếu duy nhất cho mạch lạc
của một ngôn bản bất kỳ.
Đến đây, có thể hình dung rõ về bộ mặt nối kết trong một văn bản

2.3. Nối kết trong văn bản nghệ thuật
Như đã tự giới hạn trong phần mở đầu của luận văn, chữ “nghệ
thuật” chúng tôi dùng ở đây có sở chỉ là thi ca, là các tác phẩm thơ - khối
dẫn liệu mà các nhà nghiên cứu ngữ pháp văn bản đi trước như Trần
Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Việt Thanh rất ít dùng.
Liên kết trong thơ, đứng ở góc độ nào đó có thể nói là khó hơn
nhiều so với liên kết trong văn xuôi nói chung, liên kết trong truyện ngắn
nói riêng. Khó bởi tác phẩm thi ca mang những đặc điểm riêng biệt sau
đây:
Một là, chức năng giao tiếp và chức năng tư duy thể hiện trong văn
bản thơ là "những giao tiếp" và "những tư duy" đầy tính bất thường,
không giống với ngôn ngữ giao tiếp thông tục. Một văn bản thơ có thể là
sự giao tiếp của nhà thơ với chính mình, không cần đến một người đọc
thứ hai. Tư duy trong thơ là sự phát triển tối đa lối tư duy hình tượng, kết
hợp ngôn từ theo cách "lạ hoá". Chính vì thế mà đằng sau hai chức năng
cơ bản của ngôn ngữ là chức năng giao tiếp và chức năng làm công cụ
cho tư duy, ở một thời kỳ sau, người ta phải ghi nhận thêm chức năng thứ
ba của ngôn ngữ là chức năng thi pháp. Đó là khi ta đặt ngôn ngữ vào
trong mối quan hệ với văn chương.
Hai là, hình thức cú pháp trong thơ cũng đi theo một lối riêng biệt
của nó. Đó là việc tạo ra nhiều trật tự mới giữa các thành phần câu, việc
thu hẹp tối đa dung lượng câu thơ/bài thơ cũng như mở rộng dung lượng
câu thơ/bài thơ ra đến vô cùng.
Ba là, không ở đâu như trong thơ, các biện pháp tu từ lại được phát
huy cao độ đến thế. Điều này vừa là cái dễ nhưng cũng vừa là cái khó đối
với những ai muốn tìm hiểu về liên kết trong thơ. Dễ ở chỗ nó là một dấu
hiệu đặc trưng và cũng là chìa khoá để căn cứ vào đó mà giải mã bài thơ
cũng như có một cái nhìn thấu suốt đối với mạch lạc và cấu tứ bài thơ.
Khó là ở chỗ không phải khi nào những kiến trúc tu từ cũng cho ta giải
mã một cách dễ dàng hoặc một cách trọn vẹn.

- lặp cấu trúc ngữ pháp:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
(Nguyễn Đình Thi)
- lặp ngữ âm: thể hiện qua việc gieo vần (lặp phần vần), lặp phụ
âm đầu, lặp thanh điệu và có thể cả lặp phụ âm cuối nữa:
Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều
(Xuân Diệu)
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
(Nguyễn Khuyễn)
Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương
(Tản Đà)
b) Phép nối
Những quan hệ từ, liên từ như: tuy, thì, và, nhưng, khi…có thể xuất
hiện ở những vị trí mở đầu hay kết thúc của mỗi câu thơ để làm nhiệm vụ
liên kết câu thơ trên với câu thơ dưới, liên kết các khổ thơ với nhau, cũng
có khi là liên kết văn bản thơ với một cái gì nằm ngoài văn bản. Đó là khi
các quan hệ từ, liên từ đó đồng thời xuất hiện ở cuối cùng của một câu
thơ và đó cũng là câu thơ kết thúc tác phẩm:
Ai hay tuy lặng bước thu êm
Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm
(Xuân Diệu)
Li khách! Li khách con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại

Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.
Hay trong bài thơ Bẽn lẽn của Hàn Mặc Tử, tác giả đã rải đều trên
bề mặt thi phẩm những động từ, tính từ, danh từ gợi về chuyện ân ái
(sóng soãi, lả lơi, ngây tình, hồi hộp, rào rạt, trần truồng, khuôn vàng,
đáy khe, hôn, bẽn lẽn, sợ, tiết trinh), một tập hợp các hình ảnh mà đặt
cạnh bên nhau sẽ làm lộ rõ sự hô ứng và tương ứng của chúng: trăng nằm
sóng soãi - hoa lá ngây tình – bóng nguyệt trần truồng – gió hôn lên má.
Tất cả nhằm làm nổi bật mục đích cuối cùng là khắc hoạ cho được tâm
trạng khao khát yêu đương của người con gái đang thì xuân sắc. Hãy
cùng đọc lại toàn bộ bài thơ này:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi…
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi…

Trong khóm vi lau rào rạt mãi:
Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?
Ô kia, bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe…

Vô tình để gió hôn lên má,
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm…
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ đến cái tiết trinh em…
Như trên đã nói và qua một số ví dụ vừa trình bày, chúng ta có thể
xử lí một cách cơ giới việc chỉ ra những liên kết trong tác phẩm thi ca.
Thế nhưng trên thực tế, đối với một thế giới những văn bản được hình
thành do khả năng tư duy hình tượng, thật khó có thể tách biệt rạch ròi
đâu là liên kết hình thức, đâu là liên kết nội dung. Hơn nữa, việc tách biệt
ấy sẽ là vô nghĩa nếu như ta nghĩ đến mục đích cuối cùng cho việc tìm

giải khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn, một giải thưởng văn
chương danh giá đương thời. Tập thơ đầu tiên của Nguyễn Bính là tập Lỡ
bước sang ngang (Lê Cường, Hà Nội, 1940), tiếp theo đó ba năm (1940 –
1942), ông cho ra mắt liên tiếp 6 tập thơ: Tâm hồn tôi (Lê Cường, 1940),
Hương cố nhân (Asiatia, 1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Mười hai bến
nước (Mộng Hàm, 1942), Người con gái ở lầu hoa (Hương Sơn, 1942) và
Mây Tần (1942). Tính cho đến năm 1941, theo Hoài Thanh, Nguyễn Bính
đã làm được gần 1000 bài thơ. 7 tập thơ vừa kể trên đã tạo cho Nguyễn
Bính một vị trí vững vàng, không thể nhoà lẫn trong những khuôn mặt thi
ca sáng giá nhất của phong trào Thơ Mới. Cũng vẫn trong thời kỳ trước
1945, Nguyễn Bính còn đoạt Giải nhất văn học Nam Xuyên ở Sài Gòn
với truyện thơ Cây đàn tỳ bà (1944).
Trong Cách mạng tháng 8 và suốt cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp, Nguyễn Bính hoạt động ở Nam Bộ. Nhà thơ hăng hái tham gia
mọi công tác và được giao giữ những trách nhiệm trọng yếu: phụ trách
Hội văn nghệ cứu quốc tỉnh Rạch Giá, sau làm ở Ban văn nghệ thuộc
Phòng Tuyên huấn Quân khu Tám. Tháng 11 năm 1954, Nguyễn Bính tập
kết ra Bắc, công tác ở Hội nhà văn Việt Nam, năm 1956 làm chủ bút tuần
báo Trăm Hoa. Đầu năm 1964, sau một số sự vụ rắc rối xảy ra ở báo
Trăm Hoa, Nguyễn Bính chuyển công tác về Ty văn hoá Nam Hà (cũ).
Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30 Tết năm Ất Tỵ (tức ngày 20 tháng
1 năm 1966), sau một trận rượu đêm hôm trước với một cựu y sỹ thời cũ,
tên Hân, tại xã Hoà Lý (nay là xã Nguyên Lý), huyện Lý Nhân, tỉnh Hà
Nam.
Cũng giống như nhiều nhà thơ khác của văn học Việt Nam thế kỷ
20, chặng đường thi ca của Nguyễn Bính chia làm hai giai đoạn lớn:
trước 1945 và sau 1945.
Trong giai đoạn trước 1945, ngoài 7 tập thơ và một truyện thơ đã
nói đến ở phần trên, Nguyễn Bính còn có hai truyện thơ nữa là Cô gái Ba
Tư (1943) và Thạch xương bồ (1944), 2 tập kịch thơ Bóng giai nhân (viết

đã nói, tinh hoa thơ Nguyễn Bính chủ yếu nằm trong những sáng tác
trước cách mạng.
Cuộc đời Nguyễn Bính là điển hình cho một kiếp sống tài hoa và
đậm chất giang hồ lãng tử. Ông yêu nhiều, lấy vợ muộn và có lẽ cuộc
sống gia đình cũng không mấy hạnh phúc bởi cả cuộc đời Nguyễn Bính
sống trong nghèo túng. Nhưng những vần thơ ông để lại cho đời thì mãi
mãi thì mãi mãi là tài sản tinh thần vô giá, in sâu vào trí nhớ, vào trái tim
của bao thế hệ người Việt. Sau Nguyễn Du của thời kỳ trung đại, Nguyễn
Bính xứng đáng được coi là ông vua lục bát của nửa đầu thế kỷ XX.
Năm 2000, Nguyễn Bính được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh
về văn học nghệ thuật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status