Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 1 Lớp Cao học K52
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
PHẠM THỊ THU BÌNH
NHỮNG TÍN HIỆU NGÔN NGỮ BÁO HIỆU
CHẤM DỨT CUỘC HỘI THOẠI TRONG TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội – 2012
Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 2 Lớp Cao học K52
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
PHẠM THỊ THU BÌNH
NHỮNG TÍN HIỆU NGÔN NGỮ BÁO HIỆU
1.1.5.2. Đoạn thoại 18
1.1.5.3. Lượt lời 19
1.2. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ (Speech act) 21
1.2.1. Hành vi tạo lời 21
1.2.2. Hành vi mượn lời 21
1.2.3. Hành vi tại lời (Illocutionary act) 22
Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 4 Lớp Cao học K52
1.2.3.1. Khái niệm 22
1.2.3.2. Tiêu chuẩn phân loại các hành vi tại lời 23
1.2.3.3. Các loại hành vi tại lời 24
CHƯƠNG 2: CÁC TỪ NGỮ BÁO HIỆU CHẤM DỨT CUỘC HỘI THOẠI
TRONG TIẾNG VIỆT 26
2.1. Đặc điển của các từ ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt
26
2.2. Vị trí của các từ ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt 33
2.1.2.1. Xuất hiện ở đầu câu 34
2.1.2.2. Xuất hiện ở giữa câu 36
2.1.2.3. Xuất hiện ở cuối câu 38
2.1.2.4. Xuất hiện một mình 39
2.1.2.5. Xuất hiện tại vị trí đầu câu và cuối câu 42
2.1.2.6. Xuất hiện tại vị trí giữa câu và cuối câu 43
2.3. Tiểu kết 45
CHƯƠNG 3: CÁC HÀNH VI NGÔN NGỮ BÁO HIỆU CHẤM DỨT CUỘC
HỘI THOẠI TRONG TIẾNG VIỆT 46
3.1. Đặc điểm của các hành vi ngôn ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại
trong tiếng Việt 46
3.1.1. Hành vi xác tín báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt 47
3.1.2. Hành vi điều khiển báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt
Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 6 Lớp Cao học K52
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ý định chọn đề tài này xuất phát từ thực tế nghiên cứu ngôn ngữ học trong
những năm gần đây. Trong lịch sử, ngôn ngữ nói ra đời sớm nhất, từ trước khi có
chữ viết, cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội loài người. Ngôn ngữ nói
trực tiếp phục vụ nhu cầu giao tiếp và trao đổi tư tưởng, tình cảm của con người.
Trong giao tiếp hội thoại, người nói và người nghe luôn tác động lẫn nhau. Đối
với người Việt, nếu đến một lúc nào đó một trong hai bên muốn chấm dứt cuộc
thoại thì người Việt ít khi nói thẳng, đại ý là "Tôi muốn kết thúc cuộc nói chuyện
tại đây", mà hay viện đến một lý do nào đó để kết thúc, và có những dấu hiệu
cho biết cuộc thoại đang đi đến chỗ chấm dứt. Tuy nhiên, các tín hiệu để nhận
biết dấu hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt lại chưa được một công
trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách sâu sắc. Đó là lí do chúng tôi chọn đề
tài này để nghiên cứu.
2. Đối tượng
Để thực hiện được đề tài luận văn này thì đối tượng mà chúng tôi quan
tâm nghiên cứu là các cuộc hội thoại giao tiếp trong tiếng Việt. Các hội thoại này
được thu thập qua các tác phẩm văn học, trong lời nói giao tiếp hàng ngày, phim
truyện, tác phẩm nước ngoài được dịch sang tiếng Việt.
3. Mục đích nhiệm vụ
Mục đích: Xác định, tìm hiểu, phân tích các tín hiệu chấm dứt cuộc hội
thoại trong tiếng Việt.
Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 7 Lớp Cao học K52
Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích trên, chúng tôi đặt ra một nhiệm
truyện ngắn, phim ảnh,… Đồng thời, luận văn còn sử dụng một số tư liệu mang
tính chất khẩu ngữ thường được sử dụng trong đời sống hàng ngày. Ngoài ra do
yêu cầu của luận văn, chúng tôi còn sử dụng một số tư liệu dịch từ truyện của
nước ngoài sang Việt Nam. Số lượng tư liệu trước hết được thu thập chung sau
đó phân chia ra theo từng phương tiện biểu hiện.
Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện được đề tài này, phương pháp mà
chúng tôi sử dụng đó là: Phương pháp phân tích cấu trúc, phương pháp phân tích
ngữ nghĩa - ngữ dụng với các thủ pháp quen thuộc trong ngôn ngữ học truyền
thống như thống kê, miêu tả, phân tích, so sánh,… nhằm làm nổi bật những vấn
đề mà luận văn quan tâm. Cách thức làm việc được xác định dựa trên phương
pháp nghiên cứu và được chúng tôi thực hiện nhất quán trong từng phần cũng
như trong toàn bộ luận văn.
Để thực hiện một cách có chiều sâu các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
này, luận văn thấm nhuần quan điểm ngữ pháp chức năng hiện đại về mối quan
hệ giữa hình thức và nội dung, theo tinh thần là chính nội dung quyết định hình
thức, tức đi từ nội dung đến hình thức, từ mục đích đến phương tiện, từ ý nghĩa
đến cấu trúc ngữ pháp (đi theo hướng từ trong ra ngoài rồi đi từ ngoài vào trong).
Nói tóm lại, trong khi nghiên cứu chúng tôi cũng chú ý tới mối quan hệ tương
tác qua lại giữa ba bình diện: Kết học - nghĩa học - dụng học.
Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 9 Lớp Cao học K52
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tư liệu tham khảo, nguồn ngữ liệu trích dẫn,
luận văn gồm ba chương được sắp xếp như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Các từ ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt
Chương 3: Các hành vi ngôn ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong
tiếng Việt.
Có rất nhiều yếu tố liên quan đến hội thoại. Theo Đỗ Hữu Châu, các cuộc
thoại có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh như: Thời gian, không gian, nơi chốn,
số lượng người tham gia, về cương vị với tư cách người tham gia cuộc thoại, về
tính chất cuộc thoại, về vị thế giao tiếp, về tính có đích hay không có đích, tính
hình thức hay không hình thức, về ngữ điệu hay động tác kèm lời,… Những yếu
tố này không tách rời nhau mà liên kết nhau, tạo thành một khối lượng thống
nhất hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hòa cuộc thoại để đạt đến đích
cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định.
1.1.2. Các quy tắc hội thoại
Theo tác giả C.K.Orecchioni, quy tắc hội thoại được chia thành 3 nhóm:
Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
Những quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại
Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 11 Lớp Cao học K52
Những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại
(Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, Đại cương Ngôn ngữ học, tập hai - Ngữ dụng
học, trang 225).
Luân phiên lượt lời (turn) là nguyên tắc của sự tương tác qua lại trong hội
thoại. Trong cuộc thoại mỗi lúc có một người nói và không đồng thời. Người nói
luân phiên nhau và đó là lượt lời. Sẽ không có lượt lời nếu nhiều người nói cùng
một lúc. Như vậy vai nói sẽ thường xuyên thay đổi, trật tự của những người nói
không cố định mà luôn thay đổi. Đồng thời lượt lời thứ nhất có chức năng định
hướng cho lượt lời thứ hai. Khi nói một điều, người ta dự đoán chờ một điều
khác sẽ xảy ra. Nghĩa là hai lượt lời có quan hệ mật thiết với nhau, liên kết chặt
chẽ với nhau. Hội thoại là một hình thức hoạt động xã hội, nên theo G.Yule lượt
lời hoạt động theo một “hệ thống điều hành cục bộ” (thuật ngữ của Diệp Quang
Ban) được hiểu theo lối quy ước giữa thành viên trong một nhóm xã hội. Đây
thực chất là quy ước nắm giữ lượt lời, giữ hoặc trao lượt lời cho người đối thoại
một cách uyển chuyển. Kiểm soát được quyền được nói, chủ động nắm giữ đề tài
bên tham gia cuộc thoại cần tuân theo ở mỗi loại hội thoại xác định.
Quan hệ giữa những người tham thoại cũng đóng vai trò đặc biệt trong quá
trình hội thoại. Cần phải kể tới các nhân tố như: Quan hệ thân - sơ, quan hệ vị
thế xã hội, tuổi tác, quyền lực,… được thể hiện khác nhau ở từng cộng đồng
người. Theo tác giả Nguyễn Đức Dân, quan hệ cá nhân được xem xét dưới các
góc độ: Quan hệ ngang (hay còn gọi là quan hệ thân sơ), quan hệ dọc (hay còn
gọi là quan hệ vị thế). (Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập một, trang 122).
Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 13 Lớp Cao học K52
1.1.3. Nguyên tắc hội thoại
1.1.3.1. Nguyên tắc cộng tác hội thoại
Theo P.Grice, nguyên tắc cộng tác hội thoại làm cho “cuộc hội thoại được
xem xét đúng như mục đích hay phương hướng mà cuộc thoại đòi hỏi”. Nguyên
tắc này đúng với cả người nói và người nghe. Khi nói, người tham gia hội thoại
phải quan sát và thực hiện nguyên tắc cộng tác theo phương châm nhất định.
Nguyên tắc cộng tác hội thoại có vai trò trung tâm trong lý thuyết hội thoại. Hai
bên tham gia giao tiếp cùng cố gắng để đối tác của mình hưởng ứng, phát triển
cuộc thoại. Nguyên tắc này bao gồm các phương châm: Lượng, chất, quan hệ và
cách thức.
Phương châm về lượng: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin
đúng như đòi hỏi của mục đích cuộc thoại. Đừng làm cho lượng tin của anh lớn
hơn yêu cầu mà nó đòi hỏi.
Phương châm về chất: Đừng nói điều gì mà anh tin là sai, đừng nói điều gì
mà anh tin là thiếu bằng chứng.
Phương châm về quan hệ: Hãy làm cho đóng góp của anh thích hợp với
cuộc thoại, tức là hãy nói vào đề.
Phương châm về cách thức: Tránh nói tối nghĩa, tránh nói mập mờ, ngắn
gọn, có trật tự.
(Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học Việt ngữ, trang 128)
vậy, tập hợp các hành vi ngôn ngữ được chia thành hai nhóm lớn: Nhóm có hiệu
quả tiêu cực và nhóm có hiệu quả tích cực. Phép lịch sự tiêu cực về căn bản có
Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 15 Lớp Cao học K52
tính chất né tránh hay bù đắp. Phép lịch sự chủ yếu tạo ra những hành vi có tính
chất giảm đe dọa đối với người nghe như biểu thị sự tán thưởng, cảm ơn, đề cao
người cùng đối thoại,… trong lời từ chối.
Trong quan điểm của mình, hai tác giả B.Rown và S.Levinson cho biết
phép lịch sự tiêu cực có tính chất bù đắp hay né tránh các FTA hoặc giảm nhẹ
một số biện pháp khi buộc lòng phải dùng một FTA nào đó để từ chối như:
Dùng từ xưng hô lịch sự (bác, ngài, ông, bà,… có ngôi thứ hai khi đối
thoại trực tiếp).
- Sử dụng dạng giả định.
- Dùng hành vi xin lỗi, thanh minh.
- Yếu tố giảm nhẹ.
- Yêu cầu thông cảm.
Nhìn chung, mỗi người tham gia giao tiếp phải có trách nhiệm thực hiện
nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên tắc lịch sự. Một bên vi phạm nguyên tắc
hội thoại, hoặc giữa những người tham gia hội thoại không có sự đồng cảm,…
đều có thể là nguyên nhân phá vỡ cuộc thoại.
1.1.4. Ngữ cảnh
Mỗi cuộc thoại đều được diễn ra vào một lúc nào đó, ở đâu đó, trong hoàn
cảnh nào đó. Các nhân tố ngữ cảnh có vai trò to lớn trong việc tạo lập và lĩnh hội
các phát ngôn trong hội thoại. Ngữ cảnh bao gồm tình huống ngôn ngữ và ngữ
cảnh tự nhiên xung quanh, đoạn thoại trước và sau đó, các quy tắc ứng xử, các
khía cạnh liên quan như quan hệ quyền lực hay hòa đồng, phục trang của những
người tham gia hội thoại, địa điểm, thời gian diễn ra cuộc thoại,… Tất cả các yếu
tố làm thành ngữ cảnh, hiểu theo nghĩa rộng nhất. Nó quy định cách thức tiến
hành cuộc thoại, giúp người tham dự vào cuộc thoại nắm diễn biến cuộc thoại và
có thể gia nhập vào (trừ trường hợp lưỡng thoại) mà không nhất thiết phải
chuyển qua một cuộc thoại khác. (Đỗ Hữu Châu, Đại cương Ngôn ngữ học, tập
hai - Ngữ dụng học, trang 312).
Tiêu chí thứ hai là tính thống nhất về thời gian và địa điểm. Tiêu chí này
cũng có chỗ hạn chế. Một cuộc thoại giữa hai người có thể chuyển chỗ hoặc có
thể được gác lại sang một ngày khác chừng nào mà họ thấy chưa thể kết thúc
được.
Tiêu chí tính thống nhất về đề tài diễn ngôn. Một cuộc thoại, nói theo
Grice phải theo một hướng nhất định từ đầu cho đến khi kết thúc (dẫn theo Đỗ
Hữu Châu, Đại cương Ngôn ngữ học, tập hai - Ngữ dụng học, trang 312). Đối
với những cuộc thoại chân thực, nghiêm chỉnh thì tiêu chí này là tiêu chí quyết
định. Nhưng thực ra không hiếm những cuộc thoại trong đó nhân vật đề nghị
“đổi đề tài đi”, nhưng cuộc “tán gẫu”, “đấu hót” đề tài diễn ra theo lối “cóc
nhảy”. Bởi vậy, tiêu chí “đề tài” nếu được hiểu là một vấn đề “nghị sự” nào đó
thì không phải là tiêu chí cần và đủ. Vấn đề có lẽ là mục đích tức là chủ đề hơn
là “đề tài” bề mặt.
Tiêu chí cuối cùng là tiêu chí về các dấu hiệu định ranh giới cuộc thoại.
Thông thường có những dấu hiệu mở đầu cuộc thoại (như ở cuộc họp người điều
khiển có thể tuyên bố khai mạc và tuyên bố đề tài) và dấu hiệu kết thúc (lời
tuyên bố bế mạc). Trong trò chuyện thông thường, giữa những người lạ, dấu hiệu
mở đầu có thể là những lời chào hỏi, dấu hiệu kết thúc có thể là những câu hỏi
kiểu như: Còn gì nữa không nhỉ? hoặc những lời như: Thế thôi nhé,… Tuy
nhiên, dấu hiệu này cũng không có gì là bắt buộc, đặc biệt trong những cuộc
thoại giữa những người quá thân quen.
Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 18 Lớp Cao học K52
Nói chung cho đến nay, việc xác định ranh giới cuộc thoại chưa có gì là
thực dứt khoát với những tiêu chí đủ tin cậy. Tuy nhiên, các tiêu chí là có thật và
yêu cầu nghiên cứu buộc người nghiên cứu phải có một sự phân chia nào đó ít
ta ở vị thế xã hội cao).
1.1.5.3. Lượt lời
Mỗi một lần hội thoại chí ít bao gồm một lượt lời của hai bên. Đây là sự
tương tác luân phiên qua lại trong hội thoại, trong cuộc thoại người nói sẽ luân
phiên nhau. Vai nói thường xuyên thay đổi và lượt lời thứ nhất có chức năng
định hướng cho lượt lời thứ hai. Hai lượt lời có quan hệ chặt chẽ, liên kết mật
thiết tạo thành cặp thoại. Lượt lời chứa các hành vi trong đó có hành vi hỏi và
hành vi đáp. Các lượt lời trong cuộc thoại phải đảm bảo tính thống nhất nội dung
phục vụ cho sự phát triển vấn đề, hướng tới đích của cuộc thoại. Sự hòa hợp giữa
các lượt lời cùng tính thống nhất nội dung trong cuộc thoại là điều kiện cho cuộc
thoại thành công. Lượt lời là một hình thức xã hội nó bị chi phối bởi một hệ
thống những quy ước đối với việc giành lời, giữ lời và nhường lời.
Theo quan niệm của Nguyễn Đức Dân, cơ chế của sự luân phiên lượt lời
đó là có sự phân biệt giữa tranh lời với chuyển giao lượt lời, còn gọi là sự trao
lời. (Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập một, trang 87).
Trao lời là sự chuyển lời tự nhiên, có ý thức chủ động của người đang giữ
lượt lời. Mỗi người có thể trực tiếp chuyển giao lượt lời cho một đối tượng xác
định. Tuy nhiên, trong hội thoại đặc biệt là trong song thoại, hiện tượng cướp lời,
lời chồng chéo lên nhau là không bình thường, là không lịch sự (trừ phi tranh
luận hoặc cãi nhau). Vì vậy, cũng thường xảy ra trường hợp một người đang nói
Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 20 Lớp Cao học K52
dở chừng, sau khi bị cướp lời, sau khi bị một người khác nói chen ngang, lại
“Tôi xin trình bày tiếp vấn đề đang nói dở chừng”. Như thế, về hình thức lượt lời
đã bị luân phiên, nhưng liên kết trực tiếp về nội dung vẫn được duy trì. Điều này
liên quan tới việc phân tích cấu trúc của đoạn thoại.
Lối nói xen ngang liên quan tới văn hóa, tập tục và những quy ước của
từng dân tộc, từng xã hội, chúng thường phản ánh những quan hệ tôn ti hay
những cương vị nào đó.
trong cùng một hành vi ngôn ngữ (hành vi ở lời, hành vi tạo lời và hành vi mượn
lời). Cụ thể như sau:
1.2.1. Hành vi tạo lời
Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như: Ngữ âm, từ,
các kiểu kết hợp thành câu,… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung.
Theo Austin, có ba phương diện khác nhau của hành vi này. Quan sát một phát
ngôn, trước hết người ta có hành vi ngữ âm để tạo ra chuỗi âm thanh làm nên
phát ngôn đó. Tất cả mọi cách thức âm thanh để thực hiện một âm tố, một từ
thuộc lớp từ vựng hay ngữ pháp nào đó với những kiểu nhấn giọng, ngữ điệu xác
định được gọi là hành vi đưa giọng. (Dẫn theo Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học,
tập một, trang 17).
1.2.2. Hành vi mượn lời
Hành vi mượn lời là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ để gây ra
một hiệu lực ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc chính người
Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 22 Lớp Cao học K52
nói. Khi thực hiện một hành vi tại lời, chúng ta có hai hiệu quả khác nhau. Thứ
nhất, đó là giá trị tự tại của hành vi tại lời. Thứ hai, đó là hiệu quả mà người nói
chủ định gây ra đối với người nghe. Hành vi tại lời của một câu khuyên nhủ,
nhưng người nói có thể mượn lời khuyên nhủ này để tạo ra sự xúc động ở người
nghe qua thái độ ân cần, trìu mến khi nói, cũng một hành động và cũng có thể
bày tỏ sự quan tâm của người nói,… (Dẫn theo Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng
học, tập một, trang 19).
Trong số những hành vi ngôn ngữ được đề cập ở trên có lẽ hành vi tại lời
được chú trọng, quan tâm hơn cả và đây cũng là phần lý thuyết quan trọng được
chúng tôi sử dụng vào mục đích nghiên cứu của luận văn. Chúng tôi xin nêu rõ
hơn về loại hành vi ngôn ngữ này.
1.2.3. Hành vi tại lời (Illocutionary act)
1.2.3.1. Khái niệm
nghị, yêu cầu, mệnh lệnh,… là các loại hành vi mà ngôn từ có xảy ra trước và
hiện thực diễn ra như thế. Các loại hành vi như trần thuật, miêu tả, khẳng định,
hỏi,… là các loại hành vi mà hiện thực xảy ra trước, ngôn ngữ diễn ra sau và
phản ánh đúng hiện thực ấy.
Trạng thái tâm lý được thể hiện: Khi thực hiện một hành vi nào đó người
ta có thể biểu hiện lòng tin, mong muốn, điều đáng tiếc,… Tiêu chuẩn này cho
phép ta nhìn nhận nhiều hành vi khác nhau về bề ngoài dưới cùng một góc độ.
Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình
Khoa Ngôn Ngữ Học 24 Lớp Cao học K52
Chúng ta có thể dựa vào ba tiêu chuẩn cơ bản này để xác định một hành vi
cụ thể nào đó. Mặc dù khi đi vào thực tế chắc chắn chỉ với ba tiêu chí này chúng
ta có thể gặp khó khăn khi nhận diện một hành vi tại lời, song chúng vẫn là cơ sở
khoa học cho ta cái nhìn đầu tiên cơ bản về hành vi được nói tới.
1.2.3.3. Các loại hành vi tại lời
Việc phân loại hành vi ngôn ngữ căn cứ vào phản ứng qua lại của những
người tham gia giao tiếp. Đây cũng chính là căn cứ để nhận ra hành vi tại lời.
Cách phân loại của Austin: Austin đã đưa ra một bảng phân loại hành vi
tại lời bao gồm: Phán định (đánh giá trên cơ sở sự kiện và lý lẽ xác đáng), hành
xử (thể hiện quyền thế, luật lệ), cam kết (ràng buộc vào trách nhiệm), ứng xử
(phản ứng lại), bày tỏ (trình bày, thể hiện).
Cách phân loại của Searle: Tác giả này đã liệt kê 12 điểm được dùng làm
tiêu chí phân loại hành vi ngôn ngữ. Từ đó phân lập được 5 loại hành vi ở lời:
Lớp biểu hiện, lớp chi phối, lớp cam kết, lớp biểu cảm, lớp tuyên bố. (Dẫn theo
Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập một, trang 31).
Lớp biểu hiện (sau này Searle gọi là lớp khẳng định). Các hành vi tại lời
của lớp này như: Khẳng định, tường thuật, miêu tả, thông tin, giải thích,…
Lớp chi phối gồm những hành vi tại lời như: Mệnh lệnh, thách thức, hỏi,
yêu cầu, đề nghị, cho phép,…
Lớp cam kết gồm các hành vi tại lời như: Cam kết, thề, hứa, hứa hẹn, cho