1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
*****
LỮ TUYẾT CẦM
(LU XUE QIN)
TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG TỪ THUẦN VIỆT VÀ
HÁN VIỆT TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, tháng 11 năm 2011
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 3
CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHỤC VỤ CHO LUẬN VĂN 3
1.1. Cách hiểu về tục ngữ ở Việt Nam 3
1.1.1 Hiểu về tục ngữ 3
1.1.2. Phân biệt tạm thời giữa tục ngữ và thành ngữ hiện nay 5
1.2. Cách hiểu về từ ngữ thuần Việt và Hàn - Việt trong luận văn 8
1.2.1. Từ thuần Việt và nguồn gốc tiếng Việt 8
1.2.2. Từ Hán Việt 13
Chương 2 23
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT VÀ THUẦN VIỆT TRONG
TỤC NGỮ 23
2.1. Sơ bộ về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của tục ngữ 23
2.1.1. Cấu trúc của tục ngữ 23
2.1.2. Ngữ nghĩa của tục ngữ………………………………………………26
2.2. Tình hình sử dụng từ Hán Việt và thuần Việt trong tục ngữ Việt trên cứ
liệu thu thập tục ngữ Việt………………………………………………… 27
2.2.1. Tình hình sử dụng từ Hán Việt trong tục ngữ Việt 28
2.2.2. Tình hình sử dụng từ thuần Việt trong tục ngữ Việt 34
2.3. Tiểu kết. 42
Chương 3: 43
NHẬN XÉT VỀ NÉT VĂN HÓA DÂN TỘC QUA TỪ NGỮ HÁN VIỆT VÀ
TỪ NGỮ THUẦN VIỆT TRONG TỤC NGỮ TIẾNG VIỆT (SO SÁNH VỚI
TỤC NGỮ TIẾNG HÁN) 43
3.1. Hiểu biết văn hóa qua từ ngữ Hán Việt và từ ngữ thuần Việt trong tục
ngữ 43 2
3.1.1. Khái niệm văn hóa 43
3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHỤC VỤ CHO LUẬN VĂN
1.1 Cách hiểu về tục ngữ ở Việt Nam
1.1.1 Hiểu về tục ngữ
Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân
về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về
trí tuệ nên thường được ví von là "trí khôn dân gian". Trí khôn đó rất phong
phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc
tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu.
Với các đặc thù như ngắn gọn, dễ nhớ, giàu hình tượng, giàu nhịp điệu,
gần gũi với mọi người mà tục ngữ là một loại hình văn hóa dân gian có mối
quan hệ mật thiết nhất với lời ăn tiếng nói của nhân dân.
Đa số các câu tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các
kiểu ngắt nhịp thường dựa vào cơ sở: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở
đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp
nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý.
Thường thường tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể
gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.
1.1.2 Phân biệt tạm thời giữa tục ngữ và thành ngữ hiện nay
Tất cả các công trình sưu tập trên đã đóng góp vào việc bảo tồn và giới
thiệu được một phần quan trọng vốn tục ngữ cổ truyền của dân tộc Việt Nam.
Trước tiên quan sát phương pháp biên soạn của các công trình này, hầu hết
các tác phẩm giới thiệu trên đây đều không giới thiệu riêng biệt giữa tục ngữ
nhất những quan niệm nghiên cứu trước đây. Chúng tôi nhờ cách quan niệm 5
này để làm cơ sở lý luận và muốn nhấn mạnh hơn vào cái tiêu chí “thái độ của
người Việt”. Bởi vì, thật khó để chúng ta phân biệt được thế nào là một từ
thuần Việt nếu không dựa vào cảm quan của người bản ngữ. Trên thực tế, xử
lý tư liệu sẽ có một số trường hợp mà nếu xét một cách nghiêm ngặt thì đó là
từ ngoại lai (gốc Hán chẳng hạn) nhưng trong quá trình sử dụng chúng gần
gũi với người Việt, được người Việt coi như từ gốc, từ thuần Việt.
1.2.2 Từ Hán Việt
1.2.2.1 Những khái niệm liên quan đến từ gốc Hán
Theo Nguyễn Tài Cẩn, cách đọc Hán Việt “là một cách đọc bắt nguồn
từ tiếng Hán đời Đường và cụ thể là Đường âm dạy học ở Giao Châu vào giai
đoạn thế kỉ VIII, IX nhưng … đã bị biến dạng đi dưới tác động của quy luật
ngữ âm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt, tách xa hẳn cách đọc của người Hán để
trở thành một cách đọc riêng biệt của người Việt và những người thuộc khu
vực văn hóa Việt” [1,19]khảo sát chắc chắn.
Như vậy, cách đọc Hán Việt là một sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng
Việt và tiếng Hán, là một sáng tạo của người Việt trong cách thức tác động
làm biến đổi hàng loạt các từ mượn Hán về mặt ngữ âm.
1.2.2.2. Từ Hán Việt.
Khi nghiên cứu về từ ngoại lai của tiếng Việt, GS. TS Nguyễn Văn
Khang nói như sau: “ Từ ngoại lai trong tiếng Việt, cụ thể là từ mượn Hán
(gồm từ Hán Việt, từ Hán Việt cổ, từ Hán Việt Việt hóa, từ Hán Việt phỏng
âm phương ngữ Hán) ”. Như vậy, theo ông trong những từ gốc Hán trong
tiếng Việt có một bộ phận là từ Hán Việt. Đây là những từ gồm những yếu tố
cấu tạo từ có cách đọc Hán Việt (tức ngữ âm Hán Việt). Lớp từ này được chia
ra thành:
7
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT VÀ THUẦN VIỆT TRONG TỤC
NGỮ
2.1. Sơ bộ về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của tục ngữ
Đây không phải là nhiệm vụ của chúng tôi khi thực hiện đề tài luận
văn. Nhưng là người nước ngoài học tiếng Việt nên chúng tôi trình bày lại
trên cơ sở những nghiên cứu đã có ở Việt Nam để giúp chúng tôi hiểu rõ hơn
về tục ngữ Việt Nam.
2.1.1. Cấu trúc của tục ngữ
2.1.1.1. Kết cấu tục ngữ một mệnh đề.
Đây là kiểu tục ngữ tồn tại dưới hình thức một câu tối giản. Đó là một
phán đoán hoặc một phát ngôn, có nội dung khẳng định. Kiểu cấu trúc gọi là
cấu trúc một vế hay kết cấu tục ngữ một mệnh đề và thường có độ dài từ 4 - 6
âm tiết.
Đôi khi câu tục ngữ cấu trúc một vế mang ý nghĩa so sánh mà không
cần xuất hiện từ so sánh ngang bậc.
2.1.1.2. Kết cấu tục ngữ hai mệnh đề
Phần lớn tục ngữ tiếng Việt thường có kết cấu hai vế. Hai mệnh đề
trong kiểu tục ngữ này thường rất cân đối nhau về số lượng các âm tiết. Kiểu
cấu trúc tục ngữ có hai vế như vậy thường có số âm tiết bằng nhau tạo nên
tính đối xứng cả về hình thức lẫn nội dung ngữ nghĩa. Loại này có cấu trúc
chủ yếu dựa vào hai vế so sánh ( còn gọi là cấu trúc so sánh).Tuy nhiên, sự
khác biệt cơ bản với thành ngữ so sánh là tục ngữ có cấu trúc so sánh thường
có nghĩa tường minh chứ không có kiểu so sánh dưới dạng ẩn dụ hay hoán dụ
như trong thành ngữ tiếng Việt.
2.1.1.3. Kết cấu tục ngữ ba mệnh đề 8
Kết cấu tục ngữ gồm 3 mệnh đề có số lượng đứng thứ hai sau kiểu tục
Việt trên cứ liệu thu thập tục ngữ Việt.
Ở phần này, chúng tôi chỉ khảo sát trong những câu tục ngữ mà chúng
tôi tập hợp ở phần Phụ lục. Lý do là, nếu khảo sát hết các câu tục ngữ trong
tiếng Việt thì quá nhiều. Cho nên, chúng tôi chỉ chú ý đến một số chủ đề nội
dung của tục ngữ.
2.2.1. Tình hình sử dụng từ Hán Việt trong tục ngữ Việt
Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, tiếng Hán và văn hóa Hán có ảnh
hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội người Việt, trong đó có văn học dân
gian nói chung và tục ngữ nói riêng. Tiếng Hán vào Việt Nam đã được nhân
dân “Việt hóa” thành từ Hán Việt. Bởi vậy, một số câu tục ngữ Việt đã sử
dụng một lượng từ Hán Việt.
2.2.1.1 Kết quả thống kê
Theo thống kê của chúng tôi, trong 388 câu tục ngữ được chúng tôi
khảo sát thì có 56 từ Hán Việt. Chẳng hạn, những từ in đậm trong những ví dụ
dưới đây đều là những từ Hán Việt (Chúng đã được chúng tôi tra cứu để
kiểm tra lại trong từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh).
Sau đây là bảng thống kê những từ Hán Việt đã được sử dụng trong
388 câu tục ngữ được chúng tôi khảo sát.
STT
Từ Hán Việt
Từ
Danh
từ
Động
từ
Tính
từ
Số lần
xuấthiện
Ghi chú
5
Gia
/ 1
6
Hậu /
1
7
Hoàng /
1
8
Huyền /
1
9
1
14
Mộc
/ 1
15
Môn
1
16
Mùi
/ 1
17
Nghiệp
/
22
Nhập
/
3
23
Nhất
/ 4
24
Nhị
/ 1
25
Nhũ
/ 1
26
Phong
1
31
Sương
/ 1
32
Tam
/ 2
33
Tây
/ 2
34
Tha
1
1
39
Thu
/ 2
40
Thủ
/ 2
Tay
41
Thủ
/ 1
Đầu
42
Thực
/
1
/ 4
48
Tử
/ 1
Con người
49
Tuần hà
/ 1
50
Túc
/ 2
51
Tửu
/
56
Xuất
/
1 2.2.1.2. Nhận xét
- Thứ nhất là về mặt số lượng. Như vậy, thông qua bảng thống kê
chúng tôi nhận thấy rằng: Số lượng từ Hán Việt được sử dụng trong tục ngữ
Việt là rất ít, chỉ chiếm 10 % (56/560) so với lượng từ thuần Việt. Từ Hán
Việt gồm: danh từ là 35 từ; động từ là 7 từ; tính từ là 14 từ. Hơn nữa, số lần
xuất hiện từ Hán Việt không nhiều. Chỉ có ba từ xuất hiện 4 lần (là từ “an”
với nghĩa “bình an”, từ “nhất” với nghĩa là “một, thứ nhất” và từ “tứ” với
nghĩa là “bốn” ), còn lại chỉ xuất hiện với tần xuất là 3 lần (có 2 từ là “nhập”
với nghĩa là “vào” và “huyền đề” và 2 lần hay 1 lần. 12
- Thứ hai là về nội dung.
+ Từ Hán Việt trong tục ngữ diễn đạt cho sắc thái trang trọng, nhưng
lượng câu diễn đạt ý nghĩa này khá ít ỏi.
+ Từ Hán Việt xuất hiện ở một số lĩnh vực đời sống như kinh nghiệm
nông nghiệp (về trồng trọt, chăn nuôi); kinh nghiệm liên quan đến trang phục
(việc ăn mặc, y phục, trang điểm); mối quan hệ (giữa con người với con
người, con người với xã hội); kinh nghiệm về các hiện tượng tự nhiên, (thời
tiết, mưa gió); kinh nghiệm về văn hóa ẩm thực… Như vậy, các từ Hán Việt
xuất hiện ở nhiều chủ đề cuộc sống khác nhau và các từ Hán Việt xuất hiện
nhiều: gió, bão, sấm, chớp, cầu vồng, nước lên, nước ròng… cùng với cách
kết hợp các động từ hoặc tính từ rất thú vị ở người Việt.
Sau đây là một số ví dụ về từ ngữ thuần Việt trong bảng thống kê liên
quan đến hiện tượng thời tiết. (Chi tiết xem ở bảng 2 phần phụ lục )
1
Gió bấc
/ 2
2
Gió nam
/ 1
3
Gió nồm
/ 1
4
Gió tây
/ 1
5
Hè
/ 3
11
Mưa
/ 12
12
Nắng
/ 11
13
Nhay nháy
/
1
14
Nực /
1
15
Nước
1
20
Ròng
/
1
21
Sương muối
/ 1
2.2.2.2. Từ thuần Việt liên quan đến chủ đề “trồng trọt và chăn nuôi, ăn
uống”
Gần 80% người Việt Nam là cư dân nông nghiệp nên tục ngữ nói về
công việc nhà nông chiếm đa số trong mảng tục ngữ Việt nói về lao động sản
xuất. Nhiều câu tục ngữ ghi lại những kinh nghiệm trong nghề nông (trồng
trọt, chăn nuôi), ăn uống. Vì vậy mà từ là thuần Việt chiếm phần lớn trong
tổng số lượng từ mà chúng tôi khảo sát.
Về kinh nghiệm chăn nuôi, từ thuần Việt chiếm 129 từ trong tổng số 56
câu, trong đó danh từ là 60 từ, động từ là 37 từ, tính từ là 32 từ, chiếm 23%
tổng số từ.
Về kinh nghiệm trồng trọt, từ thuần Việt chiếm 104 từ trong tổng số 81
câu, trong đó danh từ là 60 từ, động từ là 32 từ, tính từ là 12 từ, chiếm 18.6%
tổng số từ.
Về văn hóa ẩm thực, từ thuần Việt chiếm 100 từ trong tổng số 68 câu,
trong đó danh từ là 82 từ, động từ là 10 từ, tính từ 8 từ, chiếm 17.8% tổng số
từ
phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến những tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối
sống và lao động" [44, 21].
Trên cơ sở phân tích các cách hiểu khác nhau về hiện tượng văn hoá,
GS- TSKH Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá như sau: 16
“Văn hoá là một hệ thống hữa cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trườ ng xã hội”.[44, tr.27]
Có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa, song theo như định nghĩa
trên, chúng tôi cho rằng văn hóa là những tài sản vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra, mang theo những đặc điểm đại diện cho một dân tộc, làm
cho dân tộc này khác với dân tộc khác.
3.1.2. Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
3.1.2.1. Nhận xét chung.
Văn hoá thể hiện qua nhiều cách thức, trong đó, ngôn ngữ là phương
tiện quan trọng để thể hiện văn hoá. Mọi nghiên cứu về văn hoá cũng không
thể không nghiên cứu chất liệu ngôn ngữ. Như thế, từ chất liệu ngôn ngữ để đi
tìm lịch sử dân tộc, văn hoá dân tộc là hoàn toàn có cơ sở khoa học. Chất liệu
đó càng cổ xưa thì chúng ta càng có điều kiện để thấy rõ hơn cội nguồn, nhất
là khi tìm về những giá trị văn hoá tinh thần truyền thống. Tất cả những gì
con người tạo ra đều có tính văn hoá, đều có dấu ấn của ngôn ngữ. Chính vì
vậy khi giải mã về văn hoá người ta có thể căn cứ vào nhiều thông số khác
nhau.
Ngôn ngữ là công cụ chuyển tải những thông tin văn hóa quan trọng
nhất, nó chính là hệ thống tín hiệu văn hóa của các dân tộc. Văn hóa mỗi dân
tộc thẩm thấu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội và được biểu hiện ra trên bề
mặt ngôn ngữ. Ngôn ngữ không chỉ gắn kết các cá nhân trong xã hội đương
thời, mà còn là một phương tiện để kết nối và kế thừa giữa các thế hệ khác
18
Những hiện tượng tự nhiên đi sâu vào tục ngữ của hầu hết các ngôn
ngữ. Vì thế, với những hiện tượng tự nhiên có tính phổ quát, chúng tôi tạm
thời không nhắc đến, ở đây chúng tôi chỉ chú trọng vào những hiện tượng tự
nhiên do đặc thù của vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên tạo nên nét văn hóa đó ở
tục ngữ của mỗi dân tộc.
3.2.2.2 Nét văn hóa trong tục ngữ được thể hiện qua hình ảnh thực vật
và động vật
Thế giới động vật và thực vật gắn bó với nhau như hình với bóng và
chúng có vai trò quan trọng trong đời sống con người. Những tên gọi của
chúng đã tồn tại từ lâu và sự xuất hiện của chúng gắn liền với đặc điểm nền
kinh tế nông nghiệp. Trong thực tế, quy luật liên tưởng của mỗi dân tộc đã
dẫn đến mối liên hệ gắn bó các con vật hay hệ thực vật với những đặc điểm,
thuộc tính nào đó không phải giống nhau giữa các ngôn ngữ và giữa các dân
tộc khác nhau. Đặc điểm thực tế của Việt Nam là một nước nông nghiệp lúa
nước, chăn nuôi và trồng trọt phát triển từ rất sớm, do đó các đặc điểm đó có
ảnh hưởng quan trọng đến ngôn ngữ.
3.3 Tiểu kết
Như vậy, bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện ở nhiều khía cạnh
trong tục ngữ Việt. Đó là mối quan hệ giữa con người với con người, tự nhiên
và xã hội, những tư tưởng, quan niệm cách nhìn v.v được thể hiện trong tục
ngữ.
Mặt khác, bản sắc văn hóa dân tộc còn được thể hiện ở chỗ: khi một tục
ngữ trong phát ngôn được chuyển tải đến người tiếp nhận thì lập tức được
tách riêng ra hình ảnh dân tộc đặc thù. Và cũng như vậy, khi tiếp nhận tục ngữ
Việt, người ta sẽ thấy một mô hình đặc trưng của một đất nước nông nghiệp
mà cuộc sống chủ yếu gắn bó với nghề trồng trọt và chăn nuôi, các phong tục,
thời đại hội nhập về mọi mặt như hiện nay mà văn hoá cũng không nằm ngoài
qui luật đó. Giữ gìn vốn văn hoá truyền thống cũng cần được thực hiện song
song với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cho thế hệ mai sau. Đây là
nhiệm vụ mà muốn hoàn thành được cần có sự đóng góp, xây dựng của cả các
nhà ngôn ngữ học và các nhà văn hoá học.