Tìm hiểu pháp luật đầu tư của Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật đầu tư của Lào - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra ngày
càng sâu sắc mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài. Các quan hệ kinh tế
quốc tế trở nên sôi động hơn bao giờ hết và có tác động to lớn đến sự phát triển
của các quốc gia trên thế giới.
Trong bối cảnh đó, nền kinh tế của nước CHDCND Lào đang trên đà phát
triển và nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới .Tuy nhiên một
trong những thách thức không nhỏ đối với Lào đó là có xuất phát điểm từ một
nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu. Lào là một trong 20 nước kém phát triển trên thế
giới, người dân phần lớn cuộc sống gắn bó với nghề nông nghiệp. Công nghiệp
kém phát triển kéo theo trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ phát triển năng lực
thấp, nguồn lực con người có trình độ còn thiếu và yếu.... Để khắc phục những
khó khăn hiện tại, thay đổi bộ mặt cuộc sống, CHDCND Lào cần hết sức nỗ lực
tìm những hướng đi phù hợp với tình hình kinh tế của mình.
Vì vậy trong quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, Chính phủ Lào chú trọng mối
quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt là Việt Nam - quốc gia có mối quan hệ
lịch sử gắn bó tốt đẹp, nước láng giềng có sự tương đồng về nhiều mặt như chính
trị, kinh tế, xã hội, văn hoá... Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, quá trình hoàn
thiện pháp luật của Việt Nam luôn là những kinh nghiệm quý đối với CHDCND
Lào.
Việt Nam đang thiết lập các quan hệ hợp tác kinh tế – thương mại với nhiều
tổ chức kinh tế quốc tế và hầu hết các quốc gia trên thế giới, là thành viên mới nhất
(thứ 150) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Từ nhiều năm nay, hệ thống
pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư và kinh
doanh nói riêng đã không ngừng được hoàn thiện trên lộ trình cải cách, điều chỉnh
kịp thời cơ chế, chính sách, luật lệ của nước mình cho phù hợp “luật chơi” quốc tế,
chú trọng việc cải thiện môi trường đầu tư... nhằm thu hút vốn đầu tư, công nghệ và
khoa học kỹ thuật. Vì vậy việc tìm hiểu pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật
1

Website: Email : Tel : 0918.775.368
3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được viết trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà
nước và pháp luật, Tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng cộng sản Việt
Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình nghiên cứu đề tài,
tác giả đã sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp
duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp hệ thống...
Trong đó phương pháp chủ yếu là so sánh, phân tích tổng hợp.
4. Những đóng góp mới và bố cục của luận văn
Luận văn phân tích thực trạng hệ thống pháp luật đầu tư ở Việt Nam và
Lào. Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật đầu tư ở Lào.
Luận văn được thực hiện với quy trình, kết cấu, khối lượng phù hợp với
các quy định chung của Nhà nước, ngoài phần mở đầu và phần kết luận bố cục
chính của luận văn bao gồm:
Chương I: Những vấn đề chung về Luật Đầu tư Việt Nam và pháp luật đầu
tư Lào
Chương II: Những nội dung cơ bản trong pháp luật đầu tư Việt Nam và
pháp luật đầu tư Lào – Nhìn từ góc độ so sánh
Chương III: Một số kinh nghiệm đạt được và những giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật đầu tư của CHDCND Lào.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ VIỆT NAM
VÀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ LÀO
1. Khái quát về pháp luật đầu tư của Việt Nam
1.1. Pháp luật đầu tư Việt Nam trước khi ban hành Luật Đầu tư chung
Từ năm 1945, sau khi giành được chính quyền, Đảng cộng sản Việt Nam
chủ trương “kháng chiến kiến quốc”, bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn
và kiến thiết Quốc gia trên nền tảng dân chủ. Nhà nước Việt Nam đã hiện thực

trong đó nhiệm vụ quan trọng đặt ra là phải mở rộng quyền đầu tư cho các chủ thể
thuộc mọi thành phần kinh tế. Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định quan điểm
quản lý kinh tế bằng pháp luật, vì vậy Nhà nước Việt Nam đã ban hành và từng
bước xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp luật mới về đầu tư như: Luật Đầu tư
nước ngoài năm 1987 (sửa đổi bổ sung và ban hành mới vào các năm 1990, 1992,
1996, 2000), Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 (được thay
thế bởi Luật Doanh nghiệp năm 1999 và sau này là Luật Doanh nghiệp năm
2005); Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 (được thay thế bởi Luật Doanh
nghiệp Nhà nước năm 2003); Luật Hợp tác xã năm 1996 (đã được thay thế bởi
Luật hợp tác xã năm 2003); Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1994 (đã được
thay thế bởi Luật sửa đổi Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998); Nghị
định số 52/1999 NĐ - CP ngày 08/7/1999 ban hành kèm theo Quy chế quản lý
đầu tư và xây dựng... Các văn bản pháp luật này cùng với các văn bản hướng dẫn
thi hành và các văn bản pháp luật có liên quan, đã tạo thành một hệ thống pháp
luật về đầu tư với phương pháp, nội dung điều chỉnh mới, quy định các vấn đề
pháp lý về đầu tư trong nền kinh tế thị trường trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản
như tự do, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh... Điều này đã góp phần không nhỏ
vào việc tăng cường hiệu quả huy động vốn đầu tư trong thời gian qua.
Đặc điểm nổi bật của hệ thống pháp luật về đầu tư của Việt Nam ở thời kỳ
này là có sự phân chia thành hai lĩnh vực: Đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài để điều chỉnh. Cụ thể như sau:
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1.1. Pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Cùng với chủ trương huy động tối đa nguồn lực trong nước, Đảng và Nhà
nước Việt Nam đồng thời thực hiện chính sách tăng cường hợp tác kinh tế quốc
tế. Trong việc tăng cường các quan hệ kinh tế đối ngoại, việc mở rộng thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hướng ưu tiên quan trọng. Điều lệ đầu tư ban
hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 là văn bản pháp lý riêng
biệt đầu tiên được ban hành nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu tư

đó, môi trường pháp lý cho đầu tư nước ngoài nói chung còn tiềm ẩn của sự
thiếu ổn định.
Nhằm khắc phục hạn chế nêu trên ngày 30/6/1990 Quốc hội nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo hướng “khuyến khích và tạo thêm
điều kiện thuận lợi” cho các dự án đầu tư nước ngoài. Với những sửa đổi lần
này, các quy định của luật không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho người nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam mà còn cho các đối tác trong nước được hưởng
những điều kiện tương tự để mở rộng hợp tác với nước ngoài. Vấn đề về “mọi
thành phần kinh tế” trong đó có kinh tế tư nhân lần đầu tiên được quy định một
cách rõ nét: “Các tổ chức kinh tế tư nhân Việt Nam được hợp tác kinh doanh với
tổ chức, cá nhân nước ngoài trong lĩnh vực và điều kiện do Hội đồng bộ trưởng
quy định”. Luật cũng khẳng định chính sách của Nhà nước Việt Nam nhằm đáp
ứng lợi ích của các bên. Nhà nước Việt Nam không những đảm bảo an toàn cho
vốn đầu tư mà còn giảm thuế để bảo đảm lợi nhuận cho các nhà đấu tư khi tỷ
suất của họ thấp hơn so với các xí nghiệp khác trong ngành, khuyến khích các
nhà đầu tư chuyển giao công nghệ tiên tiến và đầu tư số vốn lớn vào Việt Nam,
khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu hoặc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu.
Đến năm 1992, sau hai năm triển khai thực hiện Luật, nhiều vấn đề pháp
lý đã phát sinh, phần nào làm cản trở hoạt động đầu tư nước ngoài. Vì vậy để đạt
được mục tiêu kinh tế – xã hội đã đặt ra Việt Nam cần phải tiếp tục sửa đổi và
hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài. Thực hiện chủ trương nêu trên, ngày
23/12/1992, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành
luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
nhằm mở rộng cho mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia hợp tác với nước
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngoài trong lĩnh vực đầu tư. Trong lần sửa đổi này, vấn đề tư nhân tham gia hoạt
động đầu tư với nước ngoài được nêu một cách cụ thể hơn, rõ ràng hơn và có
tính khả thi hơn. Bên Việt Nam là “một bên gồm một hoặc nhiều doanh nghiệp

và thế giới, ngày 09/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa, bổ sung,
đổi mới và hoàn thiện quy định của các luật đã ban hành, các nội dung sửa đổi,
bổ sung của Luật đã đem lại cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam sự ổn định và thông thoáng hơn so với nhiều quy định trước đây. Các quy
định này có tác dụng khuyến khích hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài cũng
như các đối tác trong nước tham gia đầu tư. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 được ban hành đã tháo gỡ
kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động kinh doanh, mở rộng tự
chủ trong tổ chức quản lý của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; bổ
sung một số ưu đãi về thuế đối với dự án đầu tư nước ngoài.
Qua gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật đầu tư
trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đã được hoàn thiện từng bước. Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung liên tục (từ năm 1987 –
2000). Trên cơ sở Luật Đầu tư nước ngoài, Chính phủ Việt Nam và các bộ, ban.
ngành đã ban hành một số lượng các văn bản hướng dẫn thi hành, tạo thành hệ
thống pháp luật về đầu tư nước ngoài, điều chỉnh khá toàn diện hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. So với pháp luật nhiều nước khác trong khu
vực, pháp luật hiện hành về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam được coi
là khá thông thoáng, cởi mở và có tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước
ngoài. Tuy nhiên, trước yêu cầu tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế,
mà trực tiếp nhất là thực hiện các thoả thuận trong Hiệp định đầu tư khu vực
ASEAN, Hiệp định thưong mại Việt Nam – Hoa Kỳ, pháp luật về đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã bộc lộ một số hạn chế cần phải khắc phục. Sự
chưa hoàn thiện và thiéu đồng bộ của hệ thống pháp luật đầu tư nói riêng và của
toàn bộ hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nói chung là trở
ngại lớn nhất đối với đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Việc tăng cường hợp tác
kinh tế quốc tế tạo ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức. Pháp luật về đầu
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368

10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuy nhiên qua quá trình thực hiện, Luật cũng đã bộc lộ một số hạn chế,
như môi trường đầu tư chưa thông thoáng, thủ tục còn nhiều phiền hà, mức độ
khuyến khích và ưu đãi chưa thật hấp đẫn, các nhà đầu tư chưa thật yên tâm nên
chưa mạnh dạn bỏ vốn vào những lĩnh vực, ngành, nghề và địa bàn, nhất là ở
những vùng còn nhiều khó khăn cũng như đối với các dự án đầu tư chiều sâu,
mở rộng quy mô sản xuất, chế biến nông sản, thực phẩm.... Điều này đã hạn chế
việc phát huy nội lực để phát triển kinh tế – xã hội, tăng thêm nguồn thu cho
ngân sách Nhà nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo tinh thần các
văn kiện, nghị quyết của Đảng.
Từ đòi hỏi của thực tiễn, nhằm tiếp tục tạo môi trường pháp lý thuận lợi,
khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ doanh nghiệp và nhân dân phát huy nội lực,
đẩy mạnh đầu tư có hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội
của Nhà nước; bảo đảm thực hiện bình đẳng, đồng bộ các chính sách, biện pháp
khuyến khích ưu đãi đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tạo
động lực mới thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc huy động các nguồn trong nước, góp
phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, đổi mới công
nghệ và tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, ngày 20/5/1998, Quốc
hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Khuyến khích
đầu tư trong nước (sửa đổi)
Trong lần sửa đổi này, Luật bổ sung cam kết của Nhà nước Việt Nam đối
với tài sản và vốn hợp pháp của nhà đầu tư không bị tịch thu bằng biện pháp
hành chính, quy định lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư được “bảo lưu” trong
trường hợp thay đổi quy định của pháp luật không có lợi cho nhà đầu tư; sửa
đổi, bổ sung quy định về hỗ trợ đất đai cho các nhà đầu tư, hỗ trợ tín dụng, một
số hình thức hỗ trợ khác...; bổ sung hình thức đầu tư trong nước thông qua hợp
đồng hợp tác kinh doanh, bổ sung quy định chuyển quyền sở hữu trí, bí quyết kỹ
thuật, quy trình công nghệ và dịch vụ - kỹ thuật là tài sản để góp vốn đầu tư xây
dựng dây chuyền sản xuất, cải thiện môi trường sinh thái, di chuyển cơ sở sản

Việc ban hành và thực thi Luật Doanh nghiệp Nhà nước cùng các chương
trình hành động của chính phủ, các đề án sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao
hiệu quả của Doanh nghiệp Nhà nước, đã khẳng định vai trò Doanh nghiệp Nhà
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nước đã và đang tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển các
ngành và lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Trong năm 2001-2005
vốn đầu tư thuộc khu vực Nhà nước là 526 ngàn tỷ đồng, chiếm 53,3% tổng vốn
đầu tư toàn xã hội, (bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước chiếm 22,8%; vốn tín
dụng Nhà nước chiếm 13,3%; vốn đầu tư doanh nghiệp Nhà nước chiếm
17,7%).
Luật Doanh nghiệp năm 1999 được đánh giá như một bước đột phá như
cả về tư duy kinh tế lẫn xây dựng và thực thi luật. Theo đó, người dân, doanh
nghiệp được tự do kinh doanh trong tất cả những ngành nghề mà pháp luật
không cấm. Cùng với sự ra đời và thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong
nước, cho tới nay có 150 ngàn doanh nghiệp dân doanh mới được thành lập góp
phần nâng tỉ trọng vốn đầu tư của khu vực tư nhân trong nước lên mức 26,7%
tổng vốn đầu tư phát triển năm 2004; tạo ra hàng triệu việc làm mới.
Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành năm1987 và đã dược sửa đổi bổ
sung vào các năm 1990, 1992, 1996 và năm 2000 đã tạo môi trường pháp lý
ngày càng hấp dẫn cho việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài. Tính đến hết năm 2004, trên địa bàn cả nước có trên 5300
dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng kí trên 47 tỷ USD, vốn
đầu tư hiện thực đạt 31 tỷ USD. Năm 2004, khu vực đầu tư nước ngoài
chiếm17% tổng vốn đầu tư xã hội, tạo ra trên 14,5% GDP của cả nước chiếm
gần 37% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp và gần 54,6% kim ngạch xuất
khẩu (số liệu của Bộ Kế hoạch - Đầu tư năm 2005)
Tuy nhiên, do văn bản quy định về đầu tư được ban hành một cách riêng
rẽ, có nhiều vấn đề còn thiếu nhất quán, trong các quy định còn có sụ phân biệt
đối xử giữa các nhà đầu tư và các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần

thách trong giai đoạn tới; điều đó một mặt đòi hỏi phải xây dựng đồng bộ và
hoàn thiện cơ bản thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa;
mặt khác cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và các giải pháp
đồng bộ nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; trong đó có việc
phải xây dựng một Luật Đầu tư áp dụng thống nhất nhằm đảm bảo quyền bình
đẳng, tự do đầu tư kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh và tạo sự hấp dẫn
các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hai là - Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật về đầu
tư,kinh doanh không ngừng được cải thiện theo hướng phù hợp việc xây dựng
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình đó,
môi trường kinh doanh tại Việt Nam cũng không ngừng được hoàn thiện, thay
đổi theo hướng bình đẳng, không phân biệt, tạo lập “cùng một sân chơi chung”
cho các hình thức đầu tư, các thành phần kinh tế, thể hiện qua hàng loạt các đạo
luật mới được ban hành, hoặc sửa đổi , bổ sung. Những khác biệt về điều kiện
đầu tư, kinh doanh như điều kiện gia nhập thị trường, các yếu tố đầu vào, đầu ra
và hoạt động quản lý doanh nghiệp giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
đã được thu hẹp đáng kể, thậm chí nhiều chính sách đã được hoà đồng.
Tuy nhiên, do các luật liên quan đến đầu tư được ban hành riêng lẻ, lại
chưa có sự nhất quán về nội dung, phạm vi điều chỉnh nên trên thực tế chưa thực
sự tạo được “một sân chơi” bình đẳng như chủ trương của Đảng và yêu cầu hội
nhập. Những khác biệt như vậy đã và đang tiếp tục làm cho hệ thống pháp luật
về đầu tư, kinh doanh thiếu nhất quán, minh bạch; tình trạng phân biệt đối xử
giữa các nhà đầu tư và các loại hình doanh nghiệp khác nhau đang tồn tại, đã
hạn chế việc phát huy các nguồn lực. Thêm vào đó, sự phát triển năng động, đa
dạng của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đã càng làm bộc lộ những
bất cập của hệ thống pháp luật tách biệt theo thành phần kinh tế.
Do đó, việc xây dựng Luật Đầu tư áp dụng thống nhất cho các nhà đầu tư
là yêu cầu thiết yếu và bức xúc nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh

cấu kinh tế, nhất là trong việc hình thành hệ thống kết cầu hạ tầng kinh tế xã hội,
trong các ngành, lĩnh vực, sản phẩm quan trọng của nền kinh tế và thu hút đầu tư
của các thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên công tác quản lý đầu tư nói chung,
đặc biệt là quản lý các dự án đầu tư bằng nguồn vốn của Nhà nước còn nhiều
yếu kém, thiếu sót đã dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, hiệu
quả sử dụng nguồn vốn đầu tư còn thấp, cơ cấu đầu tư còn nhiều điểm chưa hợp
lý, sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển, vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà
nước còn kém hiệu quả, công tác giám sáp, thanh tra chậm được chú ý và còn
lúng túng trong hướng dẫn triển khai thực hiện. Một trong những nguyên nhân
quan trọng của tình trạng nói trên là chưa có văn bản pháp luật có đủ hiệu lực để
điều chỉnh hoạt động đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Như vậy việc ban hành Luật Đầu tư chung đã trở thành đòi hỏi tất yếu
khách quan của việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ chủ trương đường lối của Đảng, từ thực
tiễn hoạt động đầu tư, đòi hỏi của hội nhập và cạnh tranh quốc tế nhằm huy
động nhiều hơn, sử dụng có hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí các nguồn
lực đầu tư trong nước và nước ngoài của mọi thành phần kinh tế.
1.2.2. Nguyên tắc của việc ban hành Luật Đầu tư
- Thể chế hóa sâu sắc đường lối đổi mới và các chủ trương chính sách đã
được khẳng định tại Đại hội lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam và các nghị
quyết của Ban Chấp hành TW Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9
của Ban Chấp hành TW Đảng Khóa IX (tháng 02/ 2004), như chính sách phát
triển kinh tế nhiều thành phần trong đó các thành phần kinh tế đều là bộ phận
cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
phát huy tối đa nội lực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế , đẩy mạnh cổ phần
hóa, sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, xóa bỏ sự phân biệt đối xử bất
hợp lý giữa các nhà đầu tư.
- Kế thừa các phát huy những tư duy mới, kinh nghiệm tốt từ những nhân

Việt Nam.
1.2.3. Giới thiệu khái quát về Luật Đầu tư (2005) và những văn bản liên
quan
Luật Đầu tư được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, gồm có 10 chương, 89 điều
quy định về bảo đảm đầu tư, quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư, hình thức hoạt
động đầu tư và các lĩnh vực, địa bàn đầu tư, ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư. Luật
Đầu tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 và có nội dung cơ bản của từng chương như
sau:
Chương I - Những quy định chung (gồm 5 điều, từ Điều 1 đến Điều 5).
Chương nay quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các chính sách
về đầu tư, việc áp dụng pháp luật về đầu tư, điều ước quốc tế, pháp luật nước
ngoài và tập quán quốc tế và giải thích một số thuật ngữ có liên quan.
Chương II - Bảo đảm đầu tư (gồm 7 Điều, từ Điều 6 đến Điều 12).
Chương này quy định về bảo đảm vốn và tài sản của nhà đầu tư, bảo hộ quyền
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư; mở cửa thị trường đầu tư liên quan đến
thương mại; về việc chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài; bảo đảm đầu tư trong
trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách và giải quyết tranh chấp.
Chương III – Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư ( gồm 8 Điều, từ Điều 13
đến Điều 20). Chương này quy định về quyền của nhà đầu tư như quyền tự chủ đầu
tư, kinh doanh, tiếp cận, sử dụng nguồn lực đầu tư; xuất khẩu, nhập khẩu, quảng
cáo, tiếp thị, gia công và gia công lại liên quan đến hoạt động đầu tư; mua ngoại tệ;
chuyển nhượng, điều chỉnh vốn hoặc dự án đầu tư; thế chấp quyền sử dụng đất, tài
sản gắn liền với đất và các quyền khác của nhà đầu tư theo đúng nội dung đăng ký
đầu tư, nội dung quy định tại giấy chứng nhận đầu tư; các nghĩa vụ của nhà đầu tư.
Chương IV - Hình thức đầu tư ( gồm 6 Điều, từ Điều 21 đến Điều 26).
Chương này quy định các hình thức đầu tư trực tiếp bao gồm đầu tư thành lập tổ
chức kinh tế, đầu tư theo hợp đồng, đầu tư phát triển kinh doanh, đầu tư thông

đánh giá hoạt động đầu tư; thanh tra về hoạt động đầu tư và việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo, khởi kiện. xử lý các vi phạm về pháp luật đầu tư.
Chương X - Điều khoản thi hành (gồm 2 Điều, Điều 88 và Điều 89).
Chương này quy định về việc áp dụng pháp luật đối với các dự án đang thực
hiện đầu tư trước khi Luật này có hiệu lực; hiệu lực thi hành và Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư.
Ngoài việc ban hành Luật Đầu tư chung năm 2005, Việt Nam còn ban
hành những Đạo luật và các văn bản pháp luật liên quan như Luật Doanh nghiệp
năm 2005, việc đó tạo bước đột phá về cải cách kinh tế xây dựng và phát triển
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy tối đa nội lực
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tôn trọng và đảm bảo quyền tự do kinh
doanh.... Đồng thời, tiếp thu và kế thừa những tư duy mới, kinh nghiệm tốt từ
những nhân tố mới trong cuộc sống xã hội. Nội dung của Luật không xóa đi
hoặc đi ngược lại những cải cách, đổi mới và tiến bộ đã đạt được trong thành
lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp đã được quy định trong các
văn bản pháp luật có liên quan. Đó là, Nghị định số 101/2006/NĐ-CP
ngày21/9/2006 quy định việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi giấy chứng
nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư; Nghị định số 108/2006/ NĐ-CP ngày
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư;
Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 quy định về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài...
2. Khái quát về pháp luật đầu tư của CHDCND Lào
2.1. Quá trình phát triển pháp luật về đầu tư tại CHDCND Lào
Trước xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa diễn ra mạnh mẽ, các nước
XHCN đã có sự chuyển đổi quan trọng để làm hoàn thiện mình cho phù hợp với
tình hình mới và phù hợp với nền kinh tế của các quốc gia. Trong bối cảnh đó,
Chính phủ Lào đã có chính sách hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế

tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư kinh doanh có sự hài hòa thông thoáng,
đảm bảo sự an toàn, lành mạnh và có tính cạnh tranh cao so với khu vực. Phát
triển kinh doanh có quy mô trung bình và nhỏ, làm cho tài chính kinh doanh có
sự ổn định vững chắc, từng bước giải quyết và tiến tới việc giải quyết các khoản
nợ nước ngoài. Tăng vốn cho việc đầu tư phát triển KTXH, lập dự án đầu tư phù
hợp, tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng của quan hệ kinh tế với nước
ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu, thu hút vốn KHKT nước ngoài
và thực hiện ký kết các hiệp định song phương và đa phương ở phạm vi cấp Nhà
nước, cấp địa phương và trong phạm vi các doanh nghiệp với nhau.”.
2.2. Hệ thống văn bản pháp luật về đầu tư của CHDCND Lào
Thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng nhân dân cách mạng Lào,
Chính phủ đã ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư, trong đó quy định
các cá nhân, tổ chức không chỉ là nhà đầu tư trong nước mà còn là các nhà đầu
tư nước ngoài có quyền đầu tư tại CHDCND Lào trên nguyên tắc các bên cùng
có lợi, hoạt động trên cơ sở của pháp luật CHDCND Lào, nhà đầu tư sẽ được
bảo vệ bởi pháp luật của CHDCND Lào.
Pháp luật đầu tư của Lào bảo đảm tính liên thông giữa các văn bản pháp
luật liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật phá sản ... trong đó Luật Doanh
nghiệp quy định việc thành lập công ty,hình thức, loại hình và kể cả việc góp
vốn của các nhà đầu tư. Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư
nước ngoài chỉ quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, quy định về việc
xem xét đơn xin phép đầu tư của các nhà đầu tư. Trong từng thời điểm cụ thể,
CHDCND Lào đã ban hành một số các văn bản pháp luật về công nhận đầu tư
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đối với hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài như: Pháp luật đầu tư nước
ngoài ngay 09/04/1988 được sửa đổi bổ sung bởi Luật Khuyến khích và quản lý
đầu tư nước ngoài số 01/1994-QH ngày 14/3/1994, được Chủ tịch nước công bố
áp dụng thông qua Sắc lệnh số 23/CTN ngày 21/4/1994; Luật Khuyến khích và
quản lý đầu tư trong nước số 03/95-QH ngày 14/10/1995 được sửa đổi, bổ sung

triển và nâng cao trình độ cho người lao động trong nước, tạo ra nhiều công ăn
việc làm cho người dân lao động, từ đó góp phần cải thiện và nâng cao đời sống
xã hội. Vì mục tiêu nêu trên mà nội dung cơ bản pháp luật đầu tư của Lào quy
định những nguyên tắc trong hoạt động đầu tư, các loại hình và ngành nghề đầu
tư, các biện pháp khuyến khích, bảo hộ và quản lý việc đầu tư trong nước và
nước ngoài. Và quan trọng nhất đó là việc quy định quyền và nghĩa vụ của các
nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Tuy nhiên, do qui định ở trong những văn bản pháp luật khác nhau nân
không tránh khỏi việc tồn tại những qui định khác nhau đối với nhà đầu tư trong
nước và nhà đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài. Đây cũng là bất cập, vướng mắc
mà Việt Nam gặp phải trong thời gian trước đây.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ VIỆ NAM
VÀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ LÀO - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ SO SÁNH
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương mở
cửa và hợp tác, làm bạn với các quốc gia có chế độ chính trị xã hội khác nhau.
Một trong những trở ngại của quá trình mở cửa và hội nhập là sự khác nhau về
pháp luật, đặc biệt là pháp luật thương mại. Sự khác nhau này đã cản trở giao
lưu hàng hóa, lưu chuyển vốn và đầu tư. Chính vì vậy sự mở rộng giao lưu quốc
tế phải đi kèm sự hợp tác về pháp luật.
Với CHDCND Lào điều đó càng cần thiết hơn vì Lào là một trong những
quốc gia kém phát triển, việc mở cửa học hỏi tiếp thu văn minh pháp lý nhân loại
thông qua sự sàng lọc sẽ góp phần không nhỏ trong việc tạo ra những điều kiện
giúp CHDCND Lào có được hệ thống pháp luật vừa phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội của mình, vừa tương thích với pháp luật quốc tế. Trong xu thế đoàn kết
đặc biệt và hợp tác trong mọi mặt Lào-Việt Nam 25 năm từ 18/7/1977 đến
18/7/2002 và 40 hợp tác Đại sứ quán từ 7/9/1962 đến 7/9/2002, đó chính là tiền
đề thúc đẩy hợp tác về nhiều mặt giữa Việt Nam và Lào nói riêng và việc mở cửa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status