Nghiên cứu đối chiếu trật tự từ trong câu đơn tiếng Anh-Việt - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU TRẬT Tự TỪ
■ ■
TRONG CÂU ĐƠN TIẾNG ANH - VIỆT
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 5.04.08
LUẬN VĂN THẠC SỶ KHOA HỌC NGÔN NGỮ
Học viên: Nguyễn Thị Hoàng Oanh
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Ngọc Tú
Hà Nội, 10/2001
MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU J
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích và ý nghĩa của luận văn 1
3. Đối tượng nghiên cứu. 2
3. Tư liệu và phương pháp nghiên cứu. 2
CHƯƠNG 1
Cơ SỞ LÝ THUYẾT VỂ NGHIÊN CÚtJ TRẬT Tự TỪ 4
1.1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu trật tự từ. 4
1.1.1. Một số quan niệm về trật tự từ của các nhà Anh ngữ học. 6
1.1.2. Quan niệm về trật tự từ của các nhà Việt ngữ học. 10
1.1.3. Khái niệm về trật tự từ. 29
1.1.4. Khái niệm về câu, câu đơn và cụm từ. 30
CHƯƠNG 2
TRẬT T ự TỪ TRONG CÂU ĐƠN TIENG a n h 34
2.1. Các thành tố của câu được xác định theo chức năng cú pháp. 34
2.1.1. Chủ ngữ (Subject) và trật tự của chủ ngữ. 35
2.1.2. Tân ngữ (trực tiếp và gián tiếp) Object (direct - indirect) và trật tự 35
của tân ngữ.
2.1.3. Bổ ngữ (chủ ngữ và tân ngữ) Compliment (Subject - object) và trật 35


\ Q r T < ■ — - -
‘jV jju yễ n ỈĨĨÙ 'JCoang 0 a n ầ ĐỐI CHIẾU TRẬT Tự TỪ TRONG CÂU ĐƠN TIẾNG ANH - VIỆT
mmữềr • ■ - AL*tầaẩlÊÊất*.+%M rmr*m *.4 ■•«•**. . .
_ _ _
J .

___
Ạv
PHẨN MỞ ĐẨU
1. Lý do chọn đề tài.
Hiện nay tiếng Anh được coi là ngôn ngữ của truyền thông quốc tế, nó
được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, ở Việt nam, việc dạy, học và sử
dụng ngoại ngữ không còn là một vấn đề mới lạ nữa, tầm quan trọng của nó
cũng đã được khẳng định trong “Chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước
ta” (Viện ngôn ngữ học 2000), đặc biệt tiếng Anh đã được sử dụng trong
nhiều lĩnh vực và nó đã trở thành đề tài bắt buộc trong Nhà trường. Tiếng
Anh cũng như mọi ngôn ngữ khác, nó luôn luôn đặt ra nhiều vấn đề cho mỗi
chúng ta khi nghiên cứu về nó, cũng như vậy, chúng tôi thấy rằng trật tự từ là
vấn đề quan trọng trong cấu trúc ngữ pháp đã được nhiều nhà Anh ngữ học
và Việt ngữ học quan tâm. Tuy nhiên, cũng chưa có nhiều công trình xem xét
vấn đề này một cách có hệ thống và tỉ mỉ nhất là trong phương pháp đối
chiếu. Hơn nữa, việc giảng dạy tiếng Anh cũng như việc dạy tiếng Việt cho
người nước ngoài ngày càng được mở rộng, phần nào có thể dựa trên phương
pháp đối chiếu các cấu trúc cú pháp, các phạm trù ngữ pháp nhằm nâng cao
hiệu quả trong việc giảng dạy.
2. Mục đích và ý nghĩa của luận vãn.
Hiện nay trong các trường đại học, không chỉ đơn thuần dựa vào các tài
liệu dịch vì con số này còn ít và chưa đáp ứng đủ được trong yêu cầu của mỗi
công việc cụ thể, các sinh viên là thế hệ trẻ của mỗi quốc gia, hơn ai hết họ

- 2 -
- Miêu tả, xác định cách nhận biết các thành tố trong cấu trúc câu đơn,
sau khi có được cách xác định đó chúng tôi mới tạo nên những cấu
trúc của từng ngôn ngữ để nghiên cứu.
- Đối chiếu và rút ra nhận xét về một số cấu trúc cơ bản thường gặp
trong câu đơn tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra những nét tương đồng
và dị biệt về trật từ của cấu trúc trong câu .
Trật tự từ là một phương thức ngữ pháp quan trọng, trong khi đối chiếu
chúng tôi bắt đầu từ tiếng Anh, lấy tiếng Anh là ngôn ngữ của điểm xuất phát
để tiến hành miêu tả và đối chiếu, và việc chọn tiếng Anh và tiếng Việt làm
đề tài đối chiếu bởi vì nó liên quan chặt chẽ đến công việc chuyên môn của
chúng tôi còn tiếng Việt là bản ngữ.
z t y n y e t i 7 /ụ ■ M 'o a n g ĐỐI CHIẾU TRẬT Tự Từ TRONG CÂU ĐƠN TIỂNG ANH - VIỆT
- 3 -
- ' _• HW W í
■ À ỳtip ển 3 7 ự ăC oàng 0 a n A ĐỐI CHIẾU TRẬT Tự Tử TRONG CÂU ĐƠN TIẾNG ANH - VIỆT
Chương 1
C ơ SỞ LÝ THUYẾT VỂ NGHIÊN cứu TRẬT T ự TỪ
1.1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu trật tự từ:
Bất cứ loại hình ngôn ngữ nào cũng có quy tắc của trật từ từ riêng của
nó. Quy tắc đó được coi là ngữ pháp. Từ đó, mối quan hệ giữa từ và từ
quyết định ý nghĩa, mối quan hệ trong cụm từ và mối quan hệ giữa cụm
với cụm từ cũng quyết định ý nghĩa và để cuối cùng chúng trở thành một
câu có nghĩa. Nghiên cứu trật từ từ là làm sáng tỏ các lớp trong cụm từ và
cấu tạo câu.
Ngay từ thế kỷ 19, việc nghiên cứu các cấu trúc ngữ pháp hình thức và
trật tự đã được đặt ra . Điều này có thể dẫn ra từ một loại hình ngôn ngữ
biến tố điển hình, ngôn ngữ rất khác với tiếng Anh và tiếng Việt, đó là
tiếng Nga. Trong ngôn ngữ này, việc sử dụng trật tự từ như một phương
thức ngữ pháp đã được nhiều tác giả quan tâm và đề cập tới đó là lý

cứu có thể được nhìn thấy từ hai phương diện. Nếu nhìn tiếng Anh như
một ngôn ngữ Tây Âu, từ quan điểm của ngôn ngữ học Châu Âu, thì có
thể nói ngôn ngữ học Anh cũng phản ánh một hiện tượng nghiên cứu khá
giống với các nền ngôn ngữ học Tây Au từ thế kỷ 17 đến nay.
Trong sự cải tiến của ngữ pháp Anh hiện đại thì khuynh hướng nghiên
cứu được tách ra làm hai nhánh: một nhánh vấn tiếp tục hoà nhập với
ngôn ngữ học Châu Au, còn một nhánh khác thì ngả theo ngôn ngữ học
miêu tả Mỹ. Nếu được nhìn từ bình diện khác, tiếng Anh lại là đối tượng
nghiên cứu của ngôn ngữ học Bắc Mỹ. Chính vì tiếng Anh — Mỹ mà các
- 5 -
^ A ỵ i y ễ n ! ĩ/ú .yCoàtiy f'nnJi ĐỐI CHIẾU TRẬT Tự Từ TRONG CÂU ĐƠN TIẾNG ANH - VIỆT
|tòí LÍ34«.: w » .'■■ttÌÌỄẾiiMiỂã' fcUIUI .
nhà ngôn ngữ học Mỹ từ L. Bloomfield đến z. Harris w đã xây dựng
nên các lý thuyết nổi tiếng về miêu tả luận và ngôn ngữ học tạo sinh.
Có lẽ người đầu tiên xem xét trật tự từ tiếng Việt trong cả hệ thống là
Lê Văn Lý (1948). Khi Ông vận dụng lý thuyết về khả năng kết hợp của
từ để mô tả ngữ pháp tiếng Việt, ông đã nhìn thấy vai trò kết hợp quan
trọng của phương thức trật tự ngữ pháp. Ông cũng cho rằng sự thay đổi
các trật tự trong câu tiếng Việt tất sẽ dẫn đến quá trình tạo nghĩa mới. Như
vậy, vai trò của trật tự từ trong tiếng Việt rất to lớn và vị trí đứng trước vị
ngữ của chủ ngữ có tính chất ổn định cao.
Sau đó là các nhà nghiên cứu Việt ngữ như: F. Martini (1950); Nguyễn
Tài Cẩn (1960); L. Thompson (1965); Nguyễn Kim Thản (1963/1964);
Hoàng Trọng Phiến (1980); Lý Toàn Thắng (1981/1984); Cao Xuân Hạo
(1992) w đã quan tâm nhiều về vấn đề trật tự trong câu tiếng Việt.
Trong khi nghiên cứu theo hướng đối chiếu, chúng tôi muốn dựa vào
hai khái niệm cơ bản mà L. Bloomfield đã đưa ra vì nó giúp chúng ta
nhìn nhận khá rõ những quy tắc về trật tự của các thành tố ngữ pháp trong
các loại ngôn ngữ mà cụ thể ở đây là tiếng Anh và tiếng Việt. Sau đây
chúng tôi xin dẫn ra một số quan niệm về trật từ từ của các nhà nghiên

các mối quan hệ về mặt ngữ pháp. Các mối quan hệ ngữ pháp tồn tại trong
các thành phần/ nguyên liệu của các ngôn ngữ khác nhau và sự phân loại theo
các mối quan hệ ngữ pháp chủ yếu nhất là sự phân chia thành ngôn ngữ tổng
hợp tính và các ngôn ngữ phân tích tính. Trong các ngôn ngữ tổng hợp tính,
mối quan hệ giữa các từ được diễn tả bằng các dạng thức của từ hoặc các biến
thể. Trong khi đó, ở các ngôn ngữ phân tích tính, mối quan hệ giữa các từ
được diễn tả bằng các từ phụ trợ/ bổ sung và các vị trí của các từ. Nói cách
khác, các ngôn ngữ phân tích thường sử dụng các phương tiện hay hình thức
- 7 -
ĐỐI CHIỂU TRẬT T ự Từ TRONG CÂU ĐƠN TIẾNG ANH - VIỆT
ngữ pháp bên ngoài của từ như: các từ chức năng, trật tự từ và giọng điệu.
Chính vì vậy, trật tự từ được sử dụng như là một phương tiện ngữ pháp quan
trọng trong các ngôn ngữ phân tích tính như tiếng Anh và tiếng Việt.
R. Galperin [ 39: 203 ] cũng cho rằng trật tự từ là một vấn đề mấu chốt
trong nhiều ngôn ngữ. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt, Diệp Quang Ban
[ 2: 23 ] khẳng định rằng trật tự từ là một công cụ/ phương tiện ngữ pháp
quan trọng bởi vì tiếng Việt là một điển hình của các ngôn ngữ phân tích và
cô lập, trong các ngôn ngữ đó thì ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện chủ yếu
thông qua trật tự từ và các thay đổi trong trật tự từ thường dẫn đến sự thay
đổi trong các chức năng ngữ pháp trong cụm từ.
Trong tiếng Anh cũng như trong tiếng Việt, vị trí của một từ trong câu
thường được đánh giá theo chức năng ngữ pháp của nó trong mối quan hệ với
các từ khác trong câu.
Trong câu (1) và (2), John và Bắc là chủ ngữ; Mary và Nam là tân ngữ
trong khi đó ở câu (3) và (4) John và Bắc là tân ngữ; Mary và Nam là chủ
ngữ. Và chính vì thế nghĩa của câu (1) hoàn toàn khác với câu nghĩa của câu
(3); và nghĩa của câu (2) hoàn toàn khác với nghĩa của câu (4).
Như vậy, sự thay đổi trật tự từ của câu không chỉ dẫn tới sự thay đổi trong
các quan hệ ngữ pháp của các từ mà còn ảnh hưởng tới nghĩa của toàn bộ
câu.

thành tố này xuất hiện nối tiếp nhau trong dòng ngôn ngữ. Việc kết hợp dựa
vào chuỗi này được gọi là "Syntagmas". Chính vì vậy, "Syntagmas” thường
bao gồm ha- hoặc nhiều thành tố được kết hợp liên tiếp với nhau. Theo F. D.
Saussure [ 6:215] khái niệm "Syntagmas" không chỉ áp dụng cho các từ mà
còn cho các cụm từ, các mệnh đề và các câu. Bất cứ cụm từ nào đều là một
chuỗi ký hiệu và chuỗi này có thể được xem như là một mối quan hệ hình
tuyến - đó là mối quan hệ theo đường nằm ngang giữa các kí hiệu trong cụm
tính từ sau đây "very proud of her achievement". Trong cụm tính từ này có
mối quan hệ hình tuyến, bao gồm ba kí hiệu trong một trật tự rất điển hình.
Adverb + Adjective + Preposition + Prepositional Complement.
(Trạng từ + tính từ + giới từ + bổ ngữ của giới từ)
- 9 -
■ Yy'tije'i .T/ư lío^ui
1
- ~K>m -
ĐỐI CHIẾU TRẬT Tự Từ TRONG CÂU ĐƠN TIẾNG ANH - VIỆT
Tóm lại, khi một người nghe hoặc nhìn thấy một lời nói hoặc chữ viết,
phạm vi mà anh ta có thể nhận biết được là theo đường ngang, đường này
biểu thị trật tự theo đường ngang của các đơn vị ngôn ngữ. Có lẽ nguyên tắc
đường hướng của ngôn ngữ là tự nhiên và đơn giản. Tuy nhiên, nó lại chi
phối tất cả các cách mà ngôn ngữ biểu hiện [6; 126 ].
Trật tự từ có chức năng xác định ý nghĩa trong câu. Việc thay đổi trật tự từ
có những hiệu quả nhất định, có tác dụng nhấn mạnh một bộ phận nào đó
trong câu, thay đổi ý nghĩa của câu hoặc ý nghĩa của câu trở nên mơ hồ.
Ahn Kyong Hwan [ 10 ] đã chỉ ra trật tự chính là sự sắp xếp có tính chất
hình tuyến (trước - sau) các kí hiệu ngôn ngữ.
Trật tự bao gồm những loại khác nhau. Có thể nói đến một loại trật tự có
tính chất ngữ âm và cũng có thể nói đến một loại trật tự mang tính chất hình
thái học ( hay trật tự từ pháp). Tác giả cho rằng dù là trạng ngữ hay là mệnh
đề thì trật tự của các thành tố của chúng nhìn chung được quy định một cách

bổ ngữ [ 19: 413 ]. Định ngữ và bổ ngữ là hai thành phần phụ trong từ tổ,
được minh hoạ như sau:
Thể từ
Vị từ
Định ngữ
(Nòng cốt)
Định ngữ (Nòng cốt)
Bổ ngữ
Bổ ngữ
Tác giả cũng đề cập đến sự ảnh hưởng của ngữ pháp học Pháp: “Trong
ngữ pháp học Pháp, người ta cho rằng câu có ba thành phần: Chủ ngữ, động
từ và bổ ngữ. Bổ ngữ trong ngữ pháp học Pháp bao gồm cả hai thành phần gọi
là định ngữ và bổ ngữ.” [ 19: 414 ]
- 11 -
.
Y jjuyeti 3 ĩ ù MCoàng 0 a n / ị
í. ~

-
.
ĐỐI CHIỂU TRẬT Tự TỬ TRONG CÂU ĐƠN TIẾNG ANH - VIỆT
ế :
Tác giả cũng phân chia từ tổ thành: từ tổ động từ , từ tổ tính từ, từ tổ
số từ , từ tổ kiểu hán và từ tổ danh từ . Và tác giả đã trình bày các loại mô
hình trật tự của từ tổ theo từ loại như sau:
2.2.1. Từ tổ động từ
2.2.1.1. Từ tổ động từ + danh từ:
’ Từ tổ danh từ + động từ + danh từ.
Từ tổ danh từ + động từ + giới từ + danh từ.
Từ tổ danh từ + động từ + danh từ + danh từ.

2.2.4.6. Từ tổ danh từ + đại từ chỉ định
2.2.5. Từ tổ thời vị từ.
Nguyễn Kim Thản định nghĩa định ngữ như sau: “Thành phần phụ
thuộc của thể từ gọi là định ngữ. Định ngữ có tác dụng hạn định phạm vi
khái quát của thể từ, và là thành phần của từ tổ.” [ 19: 484 ]
Về vị trí của các định ngữ, tác giả cho rằng: “Ta thấy một quy luật rất
chặt chẽ là định ngữ có tác dụng hạn chế về số lượng, khối lượng bao giờ
cũng đặt ở trước danh từ, còn những định ngữ có tác dụng biểu thị đặc
trưng, sở thuộc, chỉ định về phương diện của thể từ thì bao giờ cũng đặt ở
sau”. Tác giả nêu một biểu đồ giản đơn về cấu tạo của từ tổ danh từ như sau:
- 1 3 -
:ĩ/ụ òV í à t ư ỵ ( O a n h ĐỐI CHIẾU TRẬT Tự Từ TRONG CÁU ĐƠN TIẾNG ANH - VIỆT
Cấu tạo nội bộ của từ tổ danh từ:
-2
- 1
N
+ 1
+ 2
+ 3
+ 4
Tất cả
hai
thúng
gạo
đầy ắp ấy
của bà
Khối
lượng
toàn
thể.

Có thể chuyển
dịch cho nhau
Hai sơ đồ về vị trí N và vị trí + 2 được tác giả chỉ ra chi tiết hơn:
Cấu tạo nội bộ của N.
N
1
-
K
n
N
Trợ từ Phó danh từ
Danh từ trung tâm
Cái thằng
người
Cái thằng
hâm
- 1 4 -
Cấu tạo nội bộ của + 2
ĐỐI CHIẾU TRẬT Tự TỪ TRONG CÂU ĐƠN TIẾNG ANH - VIỆT
+ 2
a
b c d
Cái
bánh
rán
nhân thịt nóng mua ban
sáng
Định ngữ có tác dụng
phân biệt chủng loại của
danh từ được hạn định,

ngữ quan trọng hơn chủ ngữ.
Trong tiếng Việt, T được ký hiệu là trạng ngữ. Trạng ngữ biểu thị địa
điểm , thời điểm, nguyên nhân , mục đích
Ví dụ : Hồi ấy, tôi hai mươi tuổi
- 1 5 -
V
Vỳuiýễn M a 3Coà»tg 0 a n / ị
■ * tìSlít
ĐỐI CHIỂU TRẬT Tự Từ TRONG CÂU ĐƠN TIẾNG ANH - VIỆT
Mặt khác, trạng ngữ trong tiếng Việt cũng khác với những bổ ngữ của
động từ , biểu thị thời hạn hay điểm mục đích về trị trí của nó. Ở trong câu,
những bổ ngữ này chỉ có thể đặt sau động từ chứ không đảo lên đầu câu
được
Ví dụ: Tôi học ba tháng
Những từ biểu thị thời gian và địa điểm này đảo lên chủ ngữ và vị ngữ
sẽ trở thành danh từ trung tâm của từ tổ.
Ví dụ: Ba tháng tôi học
Cấu tạo câu trong tiếng Việt được tác giả phân chia thành 3 loại câu:
Câu song phần, câu đơn phần và câu danh xưng. Trong ba loại đó, câu song
phần là loại câu phổ biến nhất. Câu song phần gồm có hai bộ phận chủ yếu,
đó là chủ ngữ và vị ngữ.
1
2
Chủ ngữ
Vị ngữ
Tác giả giải thích về chủ ngữ và vị ngữ như sau:
Chủ ngữ: Từ loại thường dùng nhất để biểu thị chủ ngữ trong câu song
phần của tiếng Việt là thể từ và đại từ. Ngoài ra, thời vị từ như ngày mai,
trên, dưới, trong ngoài và vị từ như là, đi, làm, học có thể làm chủ ngữ.
Tác giả nói rằng, có khi bộ phận chủ ngữ được lặp lại từ hai lần trở

chủ ngữ
a. danh từ
b. thời vị từ + danh từ
c. danh từ 1
tính từ
tính từ
tính từ + danh từ 2
(có thể đảo lên: danh từ 2 + danh từ 1 +
tính từ )
5
Danh từ động từ đặc chỉ biểu thị
2. Thể từ + là + vị từ:
3. Thể tù + là + thể từ:
4. Thể từ + thể từ:
5. Các kết cấu khác:
- 17 -
ŨẠI MVC .VwOC
Sỉ!
y ' u / - i i Ạ
_ - —
-
VguyỈH .Ĩ7ự đ& iàng (Oanh ĐÓI CHIẾU TRẬT Tự TỬ TRONG CÂU ĐƠN TIẾNG ANH - VIỆT
2
■ • r # i t n .
. . Jầ í .
Trong trường hợp đặc biệt, nó cũng có thể đứng giữa chủ ngữ và vị
ngư.
1 2
Chủ ngữ
Khởi ngữ Vị ngữ

(vị ngữ)
Ví dụ
1 Thể từ
vị từ
Nó/ ngủ
2 Thể từ
là vị từ
Nguyên vọng của tôi/ là học
3
Thể từ là Thể từ Cha tôi/ là công nhân
4 Thể từ
(là)
từ tổ, thể từ Anh ta/ người Hà nội
5
Thể từ
(là)
giới ngữ
Cái áo này/ bằng lụa
6
Thể từ
c — V
Bà ta/ khổ người thô
7
Thể từ là
c — V
Ý kiến của tôi / là mọi người cùng làm
8
Vị từ Vị từ Học tập/ đi đôi với tu dưỡng
9
Vị từ là Vị từ

2
Khởi ngữ Chủ ngữ
Vị ngữ
- 18 -
■ V y n y ỉ n . ĩ ỉ u . í ù à H Ị / f ì a n h ĐỐI CHIẾU TRẬT Tự Từ TRONG CÂU ĐƠN TIỂNG ANH - VIỆT
Trong trường hợp đặc biệt, nó cũng có thể đứng giữa chủ ngữ và vị
ngữ.
1
2
Chủ ngữ
Khởi ngữ
Vị ngữ
Trạng ngữ là thành phần thứ yếu của câu biểu thị các ý nghĩa thời
điểm, địa điểm, nguyên nhân, mục đích, phương tiện hay tình thái. Trạng
ngữ có khả năng biến đổi về vị trí trong câu tự do hơn các thành phần khác.
Hai vị trí thường thấy của nó là đầu câu (trước vị trí 1) và cuối câu (sau vị trí
2). Điều đáng chú ý ở đây là nếu đã có một khởi ngữ ở đầu câu thì không có
trạng ngữ nữa như là:
1 2
Trạng ngữ Chủ ngữ
Vị ngữ
Hoặc:
1
2
Chủ ngữ Vị ngữ
Trạng ngữ
Đôi khi chúng ta có thấy cấu tạo đã âu hoá như là:
1
2
Chủ ngữ

Vấn đề trái ngược nhau giữa quan hệ ngữ pháp và quan hệ ý nghĩa
trong danh ngữ ở một số trường hợp.
năm
ấy
——
về ngữ pháp
chính
phụ
về ý nghĩa
chính
phụ
-20-

Trích đoạn Vguyễtt 3ĩụ yCoàny fiunJi ĐỐI CHIẾU TRẬT Tự Từ TRONG CÁU ĐƠN TIẾNG ANH VIỆT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status