1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THANH HƯƠNG
NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH NGUYÊN HỒNG QUA
CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội - 2013
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ THANH HƯƠNG
1.2.3. Các lớp từ vựng tiếng Việt về mặt mức độ sử dụng 20
1.3. Phong cách văn học giai đoạn 1930 - 1945 25
1.3.1. Khái niệm phong cách và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 23
1.3.2. Phong cách văn học giai đoạn 1930 - 1945 28
1.4. Khái quát về thể loại truyện ngắn trong tác phẩm văn học 29
1.4.1. Khái niệm truyện ngắn 29
1.4.2. Đặc trưng của truyện ngắn hiện đại 29
1.5. Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyên Hồng 31
Chương 2 34
CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYÊN HỒNG
34
2.1. Đặt vấn đề 34
2.2. Từ gốc Hán trong truyện ngắn của Nguyên Hồng 35
2.2.1. Từ gốc Hán đơn âm tiết 35
2.2.2. Từ gốc Hán song âm tiết 39
4
2.3. Từ gốc Ấn - Âu trong truyện ngắn của Nguyên Hồng 48
2.4. Từ lịch sử trong truyện ngắn của Nguyên Hồng 51
2.5. Tiếng lóng trong truyện ngắn của Nguyên Hồng 54
2.6. So sánh sự khác biệt về sử dụng các lớp từ trong truyện ngắn của Nguyên
Hồng giai đoạn trước và sau năm 1942 58
Chương 3 67
ĐẶC ĐIỂM PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN QUA
CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYÊN HỒNG
67
3.1. Đặt vấn đề 67
3.2. Nghệ thuật sử dụng các lớp từ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng 68
3.2.1. Lớp từ gốc Hán 68
3.2.2. Lớp từ gốc Ấn - Âu 69
Một trong những lĩnh vực sáng tác có nhiều thành công của Nguyên Hồng là
truyện ngắn. Khác với các thể loại văn xuôi khác, truyện ngắn là một thể loại khó,
đòi hỏi sự cô đọng. Trong truyện ngắn, người viết không thể lan man, dàn trải
những quan sát, suy ngẫm trong miêu tả tình huống, khắc họa tính cách nhân vật mà
phải hết sức cô đọng. Ở những người viết truyện ngắn có nghề, người đọc thường
thấy việc chọn lọc những chi tiết trong sáng tác của họ rất đắt, đặc biệt là lối dùng
câu chữ khá chuẩn mực.
Vì thế, để góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng,
chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu các lớp từ vựng tiếng Việt trong tác phẩm
của ông và hi vọng sẽ góp thêm một tiếng nói nhỏ bé đối với nhà văn Nguyên Hồng
– một trong những cây bút xuất sắc trong giới văn học nghệ thuật Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài "Nghiên cứu phong cách Nguyên Hồng qua các lớp từ
trong truyện ngắn của nhà văn", mục đích chủ yếu của luận văn này là khảo sát và
miêu tả các lớp từ vựng trong truyện ngắn của ông để phục vụ cho việc tìm hiểu
phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn Nguyên Hồng. Cụ thể như sau:
6
- Khái quát một số vấn đề lí luận để làm cơ sở lí thuyết cho việc nghiên cứu
nội dung của đề tài luận văn.
- Miêu tả và phân tích các lớp từ vựng tiếng Việt trong truyện ngắn của
Nguyên Hồng.
- Phân tích các lớp từ được sử dụng trong truyện ngắn của Nguyên Hồng để
làm nổi bật phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số lớp từ vựng được sử dụng
nhiều và thành cộng ở trong các truyện ngắn của Nguyên Hồng như: lớp từ gốc
Hán, lớp từ gốc Ấn - Âu, từ lịch sử và tiếng lóng. Những lớp từ này được chúng tôi
rằng từ trong các ngôn ngữ khác nhau, sẽ khác nhau …, và không thể có được một
khái niệm về từ nói chung. Tuy thế, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên cứu, người
ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy không có sức bao quát
toàn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngoài phạm vi của nó một số lượng không nhiều
các trường hợp ngoại lệ. [3 ; 135]
Theo GS Nguyễn Thiện Giáp: Từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có
những đặc trưng sau:
+ Chúng đều là những cấu trúc vừa có tính hoàn chỉnh, không thể xen thêm
một đơn vị nào vào giữa, vừa có tính độc lập, có thể tách rời khỏi những đơn vị
khác một cách dễ dàng.
Về mặt ngữ âm, chúng đều là những âm tiết cấu tạo theo đúng nguyên tắc
ngữ âm của tiếng Việt hiện đại.
Về mặt chính tả, chúng được viết liền thành một khối theo đúng quy tắc
chính tả hiện hành.
+ Chúng đều biểu thị những sự vật, hiện tượng và những quan hệ của thực
tại. Có những đơn vị vừa có chức năng định danh, lại vừa có chức năng dẫn xuất,
vừa có chức năng biểu niệm như: nhà, cây, đi, cười, đẹp,…
Có những đơn vị vừa có chức năng dẫn xuất và chức năng biểu niệm mà
không có chức năng định danh như: và, với, tuy, nhưng,…
Lại có những đơn vị chỉ dẫn xuất tình thái, cảm xúc nào đó trong thực tại chứ
không có chức năng định danh như: à, ôi, ối, ái,… Những đơn vị như: tôi, nó, đấy,
đó, nọ, kia,… tự thân không biểu thị khái niệm, cũng không dẫn xuất, định danh cái
gì cả, những chúng vẫn có ý nghĩa và ý nghĩa đó chỉ bộc lộ trong những hoàn cảnh
nhất định.
8
+ Các đơn vị như vừa nêu trên đều tham gia cấu tạo câu nói. Tùy theo tính
chất, ý nghĩa của mình, chúng có thể đảm nhận những chức năng ngữ pháp khác
nhau ở trong câu. Những đơn vị như: bàn, nhà, đi, đẹp, tốt,… có thể làm chủ ngữ, vị
ngữ, bổ ngữ,…Những đơn vị như: của, để, vì, bởi, nên, và, với, mà, thì,… làm chức
hình sau:
Lớp từ vựng
tiếng Việt
Về mặt nguồn gốc
Các từ thuần Việt
Các từ ngữ gốc Hán
Các từ ngữ gốc Ấn - Âu Về mặt phạm vi sử dụng
Từ vựng toàn dân
Từ địa phương
Tiếng lóng
Từ ngữ nghề nghiệp
Thuật ngữ
Về mặt mức độ sử dụng
Từ vựng tích cực và từ vựng tiêu cực
Từ ngữ cổ và từ ngữ lịch sử
Từ ngữ mới và ý nghĩa mới
Về mặt phong cách học
Từ vựng trung hòa
kêu, còi, mặc, nhắm, bếp, chổi, đọi,…
- Tương ứng với nhóm Việt - Mường và các ngôn ngữ Môn - Khmer khác: sao, gió,
sông, đất, nước, lửa, đá, người, tóc, mặt, mắt, mũi răng, lưỡi, cổ, lưng, tay, chân,
máu, xương, cằm, đít, con, cháu,…
- Tương ứng với nhóm Việt Mường và Tày Thái: bão, bể, bát,dao, gạo, ngà voi,
than, phân, cày, đen, gạo, giặt,…
- Tương ứng Việt - Inddooneexxia: bố,ba, bu, mẹ, bác, ông, cụ, đất, trâu, sông, cái,
cây, núi, đồng, mất, nghe, đèn, đêm, trắng, tuổi, ăn, cướp, bướm, sáng, rất, nấu,
này, là, rằng, ngày,…
[3 ; 218]
1.2.1.2. Các từ ngữ gốc Hán
a. Quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán trong lịch sử
Tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời. Sự tiếp
xúc giữa hai ngôn ngữ này bắt đầu khi phong kiến nhà hán của Trung Quốc xâm
chiếm nước ta, biến nước ta thành những quận, huyện của chúng.
Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ, tiếng Việt đã tiếp nhận một khối
lượng từ ngữ rất lớn của tiếng Hán để làm giàu thêm kho từ ngữ của mình. Hiện
tượng tiếp nhận này diễn ra không giống nhau trong các thời kì, Nếu hiện tượng tiếp
nhận từ ngữ Hán của tiếng Việt ở giai đoạn đầu chỉ có tính chất lẻ tẻ, rời rạc, chủ
yếu bằng con đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc trực tiếp của người Việt với người
11
Hán thì đến đời Đường, tiếng Việt đã tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ
thống bằng con đường sách vở.
Tuy nhiên, chỉ được phép coi là từ Việt gốc Hán những từ Hán nào thực sự
nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm,
ngữ nghĩa và ngữ pháp của tiếng Việt. Như vậy, từ gốc Hán trong tiếng Việt sẽ gồm
hai bộ phận chính:
+ Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - Việt, gọi tắt là các từ Hán - Việt.
thể tìm thấy một từ ngữ nào tương ứng trong tiếng Hán hiện nay. Cần phân biệt 2
loại nhỏ:
Thứ nhất: Những đơn vị do các yếu tố gốc Hán tạo thành.
Hãy so sánh:
Từ tiếng Việt
Từ gốc Hán
An tri
Đại đội
Náo động
Thiếu tá
Tiểu đoàn
Câu cấm
Liên
Tao động
Thiếu hiệu
doanh
Thứ hai: Những đơn vị do các yếu tố gốc Hán và thuần Việt tạo thành. Ví dụ:
binh lính, cướp đoạt, đói khổ, kẻ địch, súng trường, tàu hỏa, tàu thủy,…
Thực ra, tính ngoại lai của các đơn vị từ vựng được cấu tạo ở Việt Nam là có
mức độ. Chúng chỉ có tính ngoại lai ở chất liệu cấu tạo còn cách cấu tạo là của Việt
Nam. Đối với những từ loại thứ hai (yếu tố Hán - Việt kết hợp với yếu tố thuần
Việt) thì tính ngoại lai lại càng ít hơn nữa.
c. Các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán - Việt
Ngoài các từ ngữ Hán - Việt đã nói ở trên, trong tiếng Việt còn có một số từ
gốc Hán nhưng không đọc theo âm Hán - Việt. Những từ này chiếm một số lượng
ít, lẻ tẻ, không làm thành hệ thống như các từ Hán - Việt. Những từ gốc Hán không
đọc theo âm Hán - Việt có thể gồm:
- Những từ vào Việt Nam trước đời Đường - Những từ Hán cổ. Từ đời Hán
In
Bảo
Báu
Bích
Biếc
Bổ
Vá
Bổn
Vốn
d. Từ Việt gốc Hán và từ Hán đọc theo âm Hán - Việt
Như trên đã nói, người ta có thể dùng cách đọc Hán - Việt để đọc bất cứ chữ
Hán nào. Vì vậy, không phải bất cứ từ nào đọc theo âm Hán - Việt cũng là từ gốc
Hán trong tiếng Việt. Ngược lại không phải bất kì từ gốc Hán nào cũng phát âm
theo cách đọc Hán - Việt. Hai khái niệm này bắt chéo lẫn nhau, chứ không trùng
nhau. Có thể hình dung mối quan hệ của chúng như sau:
I - Từ gốc Hán trong tiếng Việt
II - Từ Hán đọc theo âm Hán Việt
a
I b
c
II
14
Vòng tròn thứ nhất (I) biểu thị các từ gốc Hán, vòng tròn thứ hai (II) biểu thị
những từ Hán đọc theo âm Hán - Việt. Bộ phận giao nhau của hai vòng tròn biểu thị
các từ gốc Hán trong tiếng Việt được đọc theo âm Hán - Việt. Phần còn lại của vòng
tròn thứ nhất gồm: những từ gốc Hán cổ (a), những từ Hán - Việt được Việt hóa về
ngữ âm (b), những từ gốc Hán tiếp nhận qua khẩu ngữ địa phương nào đó (c). Phần
Việt. Sau khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước ta mở rộng quan hệ
ngoại giao với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, cho nên tỉ lệ các từ tiếng
Việt tiếp nhận của tiếng Nga cũng tăng thêm.
b. Quá trình Việt hóa các từ ngoại lai gốc Ấn - Âu
Theo quy luật chung, tất cả các từ ngoại lai trong tiếng Việt đều có sự biến
đổi về ngữ âm sao cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt.
Mức độ Việt hóa các từ ngoại lai gốc Ấn - Âu không giống nhau. Những từ
tiếp nhận bằng con đường khẩu ngữ thường được Việt hóa nhiều hơn các từ tiếp
nhận bằng con đường sách vở.
Đặc điểm của tiếng Việt là mỗi từ một âm tiết có thanh điệu nhất định, trong
từ, không có phụ âm kép, không có âm câm. Nhiều từ Ấn - Âu, vốn là đa âm tiết,
không có thanh điệu, có phụ âm kép hoặc âm câm khi vào tiếng Việt đã biến đổi đi
cho giống với diện mạo của từ tiếng Việt. Ví dụ:
êquipe
-
kíp
créme
-
kem
cric
-
kích
dame
-
đầm
drap
-
dạ
gram
-
từ mượn, thậm chí có khi ghi luôn bằng chữ tiếng nước ngoài. Hiện tượng chuyển
tự thường thấy trong các trường hợp dịch các tên riêng, tên người, tên thành phố,
sông hồ, núi non, của nước ngoài. Ví dụ: Gorki, Puskin, Moskva,
[19 ; 236]
1.2.2. Các lớp từ vựng tiếng Việt về mặt phạm vi sử dụng
1.2.2.1. Từ vựng toàn dân
Theo Nguyễn Thiện Giáp: Từ vựng toàn dân là những từ toàn dân hiểu và sử
dụng. Nó là vốn từ chung cho tất cả những người nói tiếng Việt, thuộc các địa
phương khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau. Đây chính là lớp từ vựng cơ bản,
lớp từ vựng quan trọng nhất trong mỗi ngôn ngữ. Có thể nói từ vựng toàn dân là hạt
nhân từ vựng, làm cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ, không có nó, ngôn ngữ không
thể có được và do đó cũng không có sự trao đổi giao tiếp giữa mọi người.
Về mặt nội dung, từ vựng toàn dân biểu thị những sự vật, hiện tượng hay
khái niệm quan trọng và cần thiết nhất trong đời sống. Chẳng hạn, những từ chỉ hiện
tượng thiên nhiên: mưa, nắng, núi, sông,… ; những từ chỉ bộ phận cơ thể con người:
đầu, mắt, mũi, chân, tay,… ; những từ chỉ các sự vật, hiện tượng gắn liền với đời
sống: cày, cuốc, kim, chỉ,…
17
Về mặt nguồn gốc, vốn từ toàn dân của tiếng Việt có thể bao gồm các từ có
quan hệ với các tiếng Môn - Khơme như: sông, núi, bắn, lớp,…
Từ vựng toàn dân là bộ phận nòng cốt của từ vựng văn học. Nó là vốn từ cần
thiết nhất để diễn đạt tư tưởng trong tiếng Việt. Từ vựng toàn dân cũng là cơ sở để
cấu tạo các từ mới, làm giàu cho từ vựng tiếng Việt nói chung.
Nói chung, tuyệt đa số các từ thuộc lớp từ vựng toàn dân là những từ trung
hòa về phong cách, tức là chúng có thể được dùng trong các phong cách chức năng
khác nhau.
[19 ; 255]
Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cho rằng: Trừ những từ
một bộ tộc phát triển thành tiếng địa phương mới.
Tiếng địa phương không có tính giai cấp. Nó phục vụ mọi giai cấp ở một địa
phương nhất định. Một trong những tiếng địa phương sẽ làm sở sở cho ngôn ngữ
dân tộc hình thành.
Mặc dù tiếng Việt về cơ bản thống nhất nhưng theo sự khác nhau về thanh
điệu, về từ vựng có thể có 4 nhóm:
- Tiếng địa phương miền Bắc: Bắc bộ + Thanh Hóa
- Tiếng địa phương Trung bộ, Nghệ An và Thừa Thiên
- Tiếng địa phương miền Nam Trung bộ: Quảng Nam, Phú Yên
- Tiếng địa phương Nam bộ từ Bình Thuận trở vào.
Theo Nguyễn Văn Tu, tác dụng của tiếng Việt đến các tiếng địa phương biểu
hiện nhiều nhất trong từ vựng. Tất cả những từ mới biểu thị các khái niệm chính trị,
kinh tế, văn hóa đều được các địa phương dùng. Các tiếng địa phương đều tiếp thu
các danh từ trừu tượng của tiếng phổ thông. Trong quá trình sát nhập vào ngôn ngữ
dân tộc, tiếng địa phương làm giầu thêm từ vựng của tiếng phổ thông.
[47 ; 127]
Theo Nguyễn Thiện Giáp: Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở
một hoặc một vài địa phương. Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của
ngôn ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng
của ngôn ngữ văn học. Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường
mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật,…
Có thể thấy một số kiểu từ địa phương như sau:
- Từ địa phương không có sự đối lập với từ vựng toàn dân: Đó là những từ
ngữ biểu thị những sự vật, hiện tượng, những hoạt động, cách sống đặc biệt chỉ có ở
địa phương nào đó chứ không phổ biến đối với toàn dân, do đó không có từ song
19
song trong ngôn ngữ văn học toàn dân. Các nhà ngôn ngữ học loại này là từ địa
phương dân tộc học. Ví dụ: chôm chôm, măng cụt, sầu riêng,
- Từ địa phương có sự đối lập với từ vựng toàn dân: Kiểu từ vựng địa
có chung một hoàn cảnh, một lối sống, có thể tạo ra một số từ ngữ riêng chỉ dùng
trong nội bộ tầng lớp mình, những từ ngữ như vậy đều có thể coi là tiếng lóng.
Cũng là hiện tượng ngôn ngữ, song dường như tiếng lóng chỉ là một hiện
tượng kí sinh vào tiếng Việt. Số phận của tiếng lóng gắn liền với cái môi trường, cái
hoàn cảnh và bản thân những tầng lớp xã hội đã sản sinh ra nó. Vì vậy, hơn lĩnh vực
nào khác, tiếng lóng thay đổi thường xuyên, không ngừng. Sự thay đổi này tùy
thuộc vào hai nhân tố:
(1). Sự thay đổi của bản thân cái môi trường, hoàn cảnh xã hội và những tầng
lớp sản sinh ra nó.
(2). Bản chất của tiếng lóng là muốn bí mật, muốn che giấu với mục đích nào
đó, trong phạm vi của giới mình, cho nên khi cái bí mật đã bị phát hiện thì cơ sở tồn
tại của tiếng lóng cũng bị mất.
Ví dụ: tiếng lóng của bọn phe phẩy: bắt mồi (tìm hàng), dính (mua), phảy
(bán), luộc (bán), tách bõ (chia phần); tiếng lóng của bộ đội: đi R (đi phép), đi xe
dép (đi bộ), lái F (có vợ), đi âm tần đi cao tần (tranh thủ),
[19 ; 261]
Theo Nguyễn Văn Khang, có thể nêu ra một nhận định chung là, từ ngữ lóng
tiếng Việt, tức là từ các vật liệu có sẵn và bằng các phương thức tạo từ vốn có để
tạo nên những từ ngữ lóng.
Những từ lóng thường thấy nhất là những từ lóng sử dụng ngay các đơn vị từ
vựng vốn có của tiếng Việt và cấp cho chúng thêm một nghĩa mới: nghĩa lóng. Có
thể coi đây là hình thức tạo từ lóng cơ bản nhất, phổ biến nhất của tiếng Việt.
[27 ; 26]
Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: Tiếng lóng là
một bộ phận từ ngữ do những nhóm, những lớp người trong xã hội dùng để gọi tên
những sự vật, hiện tượng, hành động vốn đã có tên gọi trong vốn từ vựng chung,
nhằm giữ bí mật trong nội bộ nhóm mình.
Ở nước ta, trong bối cảnh xã hội mà chúng ta đang sống, trừ một nhóm rất ít
người buôn bán gian lận, làm ăn bất chính hoặc trộm cắp lưu manh, có vốn tiếng
nghiệp là một lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sử dụng phổ biến trong
phạm vi những người cùng làm một nghề nào đó. Ví dụ: các từ thìu, choòng, lò chợ,
lòa thượng, đi lò, là những từ thuộc nghề thợ mỏ. Các từ bó, vét, xịt, phủ, bay,
hom, thí một, thí hai, lót sống, là của nghề sơn mài.
Thật ra, nghề nào cũng có những từ ngữ riêng của nó để chỉ: đối tượng lao
động, động tác lao động, nguyên liệu sản xuất, sản phẩm làm ra, công cụ để lao
động, Tuy vậy, không phải là hễ người ngoài nghề thì không thể biết được từ nghề
22
nghiệp. Người ta (trong phạm vi rộng rãi toàn xã hội) vẫn có thể hiểu được chúng
nhiều hay ít tùy theo mức độ quen biết của xã hội đối với nghề đó.
Ví dụ, nghề làm ruộng ở Việt Nam, nói chung cả xã hội đều không xa lạ với
nó. Ai cũng biết và sử dụng rất tự nhiên các từ như: cày, bừa, ruộng, bón, gieo,
nhưng chắc chắn không phải ai cũng biết các từ: chia vè, cứt gián, nứt chanh, cắm
vè, lúa con, bông cài, đỏ đuôi, đứng cái,
Như vậy, lớp từ nghề nghiệp tập trung chủ yếu ở những nghề mà xã hội ít
quen như: nghề làm giấy, làm đồ gốm, làm sơn mài, nghề đúc đồng, nghề chài lưới,
nghề làm muối,
Ở một nước nông nghiệp như Việt Nam, Những nghề thủ công nghiệp hoặc
tiểu công nghiệp vốn phân tán và không tiếp xúc rộng rãi với toàn xã hội. Vì thế,
những từ nghề nghiệp thuộc phạm vi này có nhiều từ nghề nghiệp hơn cả.
Sự hoạt động của các từ nghề nghiệp là không đồng đều, có từ thì vô cùng
hạn chế, nhưng cũng có không ít từ ngữ đã đi vào vốn từ vựng chung. Chúng được
coi là một trong những nguồn cung cấp thêm từ ngữ để làm phong phú hơn cho vốn
từ vựng chung.
[3 ; 223]
1.2.2.5. Thuật ngữ
Theo Nguyễn Thiện Giáp: Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn
ngữ. Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái
Tính hệ thống về nội dung của thuật ngữ kéo theo tính hệ thống về hình thức
của nó. Muốn thuật ngữ "không cản trở đối với cách hiểu", lại thể hiện được vị trí
của nó trong hệ thống thuật ngữ thì qua hình thức của thuật ngữ phải có thể khu biệt
nó về chất với các thuật ngữ khác loạt, đồng thời có thể khu biệt nó về mặt quan hệ
so với những khái niệm khác cùng loạt.
- Tính quốc tế: Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái
niệm khoa học chung cho những người nói các tiếng khác nhau. Vì vậy, sự thống
nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích. Chính điều này đã tạo nên
tính quốc tế của thuật ngữ.
Nếu chú ý tới mặt nội dung của thuật ngữ, thì phải thừa nhận rằng, tính quốc
tế của thuật ngữ là một đặc trưng quan trọng, phân biệt thuật ngữ với những bộ phận
từ vựng khác: thuật ngữ biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những
người nói các thứ tiếng khác nhau, trong khi đó phạm vi biểu hiện của các lớp từ
khác nhau nằm trong khuôn khổ của từng dân tộc.
24
Nếu hiểu tính quốc tế của thuật ngữ chỉ ở khía cạnh hình thức biểu hiện thì
nó sẽ mâu thuẫn với yêu cầu về tính dân tộc, dễ hiểu trong hình thức cấu tạo của
thuật ngữ. Khi xây dựng thuật ngữ chẳng những phải bảo đảm tính chất riêng của
thuật ngữ mà còn phải bảo đảm cả những tính chất chung của thuật ngữ với những
lớp từ vựng khác.
[19 ; 270]
1.2.3. Các lớp từ vựng tiếng Việt về mặt mức độ sử dụng
1.2.3.1. Từ vựng tích cực và từ vựng tiêu cực
Theo Nguyễn Thiện Giáp: Căn cứ vào mức độ sử dụng của các từ trong quá
trình giao tiếp, có thể chia từ vựng tiếng Việt thành hai lớp: từ vựng tích cực và từ
vựng tiêu cực. Thực chất của các cách phân tích loại này là dựa vào tần số sử dụng
của các từ. Tất cả các từ ngữ đều tham gia vào quá trình giao tiếp, nhưng những từ
ngữ này có thể cần thiết hơn từ ngữ kia và được dùng nhiều lần hơn các từ ngữ kia.
nghiệp và ngay cả mỗi cá nhân… đều có từ vựng tích cực và tiêu cực của riêng
mình, bởi vì việc tích lũy, xây dựng và sử dụng từ ngữ ở các đối tượng đó không thể
đồng đều, như nhau được, và do rất nhiều nhân tố tác động, ảnh hưởng.
[3 ; 226]
1.2.3.2. Từ ngữ cổ và từ ngữ lịch sử
Theo Nguyễn Thiện Giáp: Căn cứ vào nguyên nhân làm cho lỗi thời có thể
chia các từ ngữ lỗi thời thành hai loại: từ ngữ cổ và từ ngữ lịch sử.
- Từ ngữ cổ: là những từ ngữ biểu thị những đối tượng trong tiếng Việt có
các từ đồng nghĩa tương ứng ở giai đoạn hiện nay làm cho chúng trở nên lỗi thời.
Có thể thấy những loại như sau:
+ Những từ ngữ cổ đã hoàn toàn biến khỏi ngôn ngữ văn học hiện đại. Chúng
chỉ được gặp trong các tác phẩm văn học cổ. Muốn xác định nghĩa của chúng đòi
hỏi phải nghiên cứu từ nguyên học. Ví dụ: am (nhà nhỏ của người ở ẩn), ầm
(nhiều), áo (sâu kín), âu (có lẽ), áy (héo), bát (gang), ca (hòm),…
+ Những từ còn để lại dấu vết trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa đã bị
lu mờ vì chúng không được dùng độc lập nữa. Ví dụ: bỏng trong bé bỏng, cả trong
kẻ cả, chèo trong chèo kéo, chiêu trong đăm chiêu, dấu trong yêu dấu,…
- Từ ngữ lịch sử là những từ ngữ trở nên lỗi thời vì đối tượng biểu thị của
chúng đã bị mất. Trong quá trình phát triển của lịch sử, nhiều sự vật, hiện tượng bị
mất đi, các tên gọi của các sự vật, hiện tượng này tự nhiên ít hoặc không được dùng
nữa.