KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CCNN: cải cách ngôn ngữ
KTGT: kỳ thị giới tính
QHNN: quy hoạch ngôn ngữ
TGLA: tác giả luận án
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích của luận án 1
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Đóng góp của luận án 2
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 3
6. Ngữ liệu 4
7. Cấu trúc luận án 4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
7
1.1. Về khái niệm KTGT trong ngôn ngữ 7
1.1.1. Về thuật ngữ kỳ thị giới tính (KTGT) trong ngôn ngữ 7
1.1.2. Khái niệm KTGT trong tiếng Anh 8
1.2. Cơ sở lý luận 9
1.2.1. Những quan điểm khác nhau về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và
thực tế xã hội 9
1.2.2. Những quan điểm khác nhau về sự cần thiết của tác động vào
ngôn ngữ 10
1.3. Lịch sử vấn đề 18
2.6. Sự KTGT, tình dục và giới. 85
2.7. Sự KTGT trong ngôn ngữ và vấn đề gọi tên, xƣng hô: tên, danh
hiệu và các cách xƣng hô.
91
2.7.1. Tên ngƣời là tƣợng trƣng của giới tính. 92
2.7.2. Họ thể hiện lợi ích của ngƣời cha và ngƣời chồng
97
2.7.3. Sự KTGT trong các danh hiệu 99
2.7.4. Sự KTGT trong cách xƣng hô giữa các giới 106
2.8. Sự rập khuôn về giới tính trong ngôn ngữ. 111
2.8.1. Khái niệm về sự “rập khuôn”. 111
2.8.2. Rập khuôn về giới tính trong ngôn ngữ. 111
Tiểu kết 117
CHƯƠNG 3: SỰ KỲ THỊ GIỚI TÍNH ĐỐI VỚI NAM GIỚI TRONG
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 121
3.1. Dẫn luận 121
3.2. Cách sử dụng lọai trừ về giống (gender-exclusive language)
124
3.3. Cách sử dụng hạn chế về giống (gender-restrictive language) 128
3.3.1. Lý luận chung về cách sử dụng hạn chế về giống
128
3.3.2. Cách sử dụng hạn chế về giống trong tiếng Anh 129
3.3.3. Cách sử dụng hạn chế về giống trong tiếng Việt 135
3.4. Những lối rập khuôn tiêu cực đối với nam giới (negative
stereotypes of males)
140
3.4.1. Nói thêm về khái niệm rập khuôn về giới trong ngôn ngữ 140
3.4.2. Những lối rập khuôn tiêu cực đối với nam giới trong tiếng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
F. d. Saussure đã từng nói “ngôn ngữ là một hiện thực xã hội”. Nói cách
khác, về cơ bản thì ngôn ngữ là một hiện tƣợng xã hội dùng để phục vụ các
mục đích xã hội hơn là các mục đích cá nhân. Chức năng cơ bản của một
ngôn ngữ là giao tiếp, đồng thời bản chất của ngôn ngữ và cách sử dụng ngôn
ngữ đƣợc định hình bởi xã hội sử dụng ngôn ngữ ấy, bởi những phƣơng tiện
giao dịch và các phạm trù xã hội tiêu biểu cho xã hội đó. Do đó không thể
nắm vững một ngôn ngữ và dùng nó làm phƣơng tiện giao tiếp hữu hiệu đƣợc
nếu không nắm đƣợc mặt xã hội của ngôn ngữ ấy. Nói cách khác, ngôn ngữ
có bản chất xã hội. Bản chất này, một mặt, đƣợc thể hiện ở chỗ: ngôn ngữ
phản ánh tồn tại xã hội. Trong mọi xã hội loài ngƣời, ở mức độ khác nhau,
đều tồn tại sự kỳ thị giới tính (KTGT). Ngôn ngữ, với tƣ cách là một thiết chế
xã hội, ắt phải phản ánh hiện tƣợng đó. Ngôn ngữ không chỉ thuần tuý phản
ánh xã hội một cách thụ động, mà đến lƣợt nó, ngôn ngữ còn có tác động nhất
định đối với sự phát triển của xã hội. Ngôn ngữ đã đóng một vai trò không
nhỏ trong việc làm gia tăng hay suy giảm sự KTGT trong thực tế.
2. Mục đích của luận án
Luận án có mục đích là đề cập đến hiện tƣợng KTGT trong ngôn ngữ.
Hiện tƣợng KTGT chắc chắn là có thể tìm thấy đƣợc trong nhiều ngôn ngữ
tuy mức độ và hình thức thể hiện có thể khác nhau. Trong khuôn khổ luận án
này, chúng tôi chủ trƣơng nghiên cứu sự KTGT với tƣ cách là một hiện tƣợng
thuộc ngôn ngữ học xã hội chủ yếu dựa trên cơ sở cứ liệu từ 2 ngôn ngữ: tiếng
4. Đóng góp của luận án
3
Về lý luận, đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu vấn đề sự
KTGT trong ngôn ngữ một cách có hệ thống và toàn diện. Kết quả nghiên cứu
sẽ đóng góp về phƣơng diện lý luận ngôn ngữ học đại cƣơng nói chung và
ngôn ngữ học xã hội nói riêng. Luận án cũng sẽ đóng góp vào việc nghiên cứu
so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ Anh – Việt từ một góc độ mới – góc độ
KTGT, qua đó nêu bật đƣợc những đặc trƣng về văn hóa đƣợc thể hiện qua
hai ngôn ngữ này. Luận án cũng góp phần nghiên cứu và làm sáng tỏ vai trò
của ngôn ngữ trong tiến trình dân chủ hoá trong xã hội loài ngƣời nói chung
và trong xã hội Việt Nam nói riêng. Kết quả nghiên cứu đề tài này sẽ có tác
dụng tích cực đối với việc giữ gìn sự trong sáng đồng thời hiện đại hoá tiếng
Việt theo hƣớng dân chủ hoá của quá trình chuẩn hoá ngôn ngữ nói chung.
Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ giúp vào việc nâng cao ý thức về biểu
hiện KTGT trong ngôn ngữ, đồng thời bƣớc đầu định hƣớng các hành động
tích cực của cá nhân trong việc sử dụng ngôn ngữ và gợi ra các ý tƣởng nhằm
loại trừ dần sự KTGT trong ngôn ngữ. Kết qủa nghiên cứu có thể là tài liệu
tham khảo trong việc hoạch định chính sách ngôn ngữ cũng nhƣ QHNN. Đối
với giáo dục, kết quả nghiên cứu cũng sẽ là một đóng góp vào việc dạy tiếng,
cả tiếng Anh và tiếng Việt. Kiến thức về sự KTGT trong ngôn ngữ sẽ đóng
góp vào việc hoàn thiện dần mặt năng lực văn hóa xã hội và chiến lƣợc giao
tiếp của ngƣời học.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp chủ yếu là quy nạp và diễn dịch. Trên cơ sở lý luận chung về
mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thực tế xã hội mà khẳng định sự tồn tại của
hiện tƣợng KTGT trong ngôn ngữ. Đồng thời xuất phát từ lý luận chung về sự
cần thiết và tính khả thi của sự can thiệp có chủ ý của con ngƣời vào ngôn
ngữ mà đi đến khẳng định tính cấp thiết của đề tài.
5
- Các phƣơng tiện thông tin đại chúng
- Lời nói giao tiếp hàng ngày
7. Cấu trúc luận án
Luận án có những phần sau đây:
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Phần này gồm 4 chƣơng là:
Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài. Chƣơng
nàygồm những mục:
1.1. Khái niệm KTGT trong ngôn ngữ. Mục đích của mục này là
làm rõ khái niệm KTGT trong ngôn ngữ. Định nghĩa của các học giả phƣơng
tây cùng một vài ví dụ trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng đƣợc dẫn ra để làm
rõ khái niệm này.
1.2. Cơ sở lý luận. Mục này nhằm thông qua những quan niệm
khác nhau về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thực tế xã hội, về sự cần thiết và
tính khả thi của sự can thiệp của con ngƣời vào ngôn ngữ để chứng minh
rằng: sự KTGT trong ngôn ngữ là có thực và việc tác động của con ngƣời vào
ngôn ngữ để khắc phục tình trạng đó là cần thiết và có thể làm đƣợc.
1.3. Lịch sử vấn đề. Mục này nhằm dựa trên cơ sở những nghiên
cứu đã có mà khái quát thành một khung lý thuyết – những đặc điểm của hiện
tuợng KTGT trong ngôn ngữ.
Chương 2: Sự kỳ thị giới tính đối với nữ giới trong tiếng Anh và tiếng
Việt. Đây là một trong những chƣơng quan trọng nhất của luận án. Trên cơ sở
khung lý thuyết đã có, chƣơng này xem xét những biểu hiện của những đặc
điểm KTGT đối với nữ giới trong tiếng Anh với những tƣơng đồng và dị biệt
trong tiếng Việt. Chƣơng này gồm những mục:
6
cách xác định tính KTGT trong sử dụng ngôn ngữ, dẫn ra một giải pháp trong
tiếng Anh, đƣa ra để bàn bạc một giải pháp đối với hiện trạng KTGT trong
tiếng Việt, đồng thời khẳng định vai trò của giáo dục ngôn từ không KTGT.
KẾT LUẬN
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Về khái niệm kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ.
1.1.1. Về thuật ngữ kỳ thị giới tính (KTGT) trong ngôn ngữ.
Khái niệm “kỳ thị” có thể đƣợc hiểu là sự coi thƣờng ngƣời này và coi
trọng ngƣời kia về một mặt nào đó. Trong xã hội loài ngƣời có nhiều hình
thức kỳ thị nhƣ: kỳ thị về tuổi tác, tình trạng sức khỏe, tình trạng hôn nhân,
tín ngƣỡng, hoàn cảnh kinh tế hoặc hoàn cảnh xuất thân, nơi cƣ trú, chủng
tộc, trình độ học vấn, địa vị chính trị vv Tất cả những hình thức kỳ thị đó
đều có thể đƣợc biểu hiện trong ngôn ngữ. Ví dụ, những cách nói nhƣ: Mặt
non choẹt, biết gì! là thể hiện sự kỳ thị về tuổi tác; Thổ mừ mà không biết
điều! là thể hiện sự kỳ thị chủng tộc, KTGT là sự coi thƣờng giới này và
coi trọng giới kia. Tƣ tƣởng trọng nam khinh nữ chính là một biểu hiện của sự
KTGT. KTGT trong ngôn ngữ là biểu hiện bằng ngôn ngữ sự coi thƣờng/ coi
trọng về giới.
Ví dụ:
a. Đúng là đàn bà, nhát như cáy!
b. Đàn ông đàn ang gì mà đo lọ nước mắm đếm củ dưa hành!
8
Ví dụ a. tuy biểu đạt sự đánh giá đối với phẩm chất của một ngƣời đàn bà
cụ thể nào đó nhƣng lại thể hiện rõ phẩm chất ấy là do giới tạo nên: đàn bà là
nhát gan.
Tuy vậy, theo định nghĩa nói trên thì sự KTGT là nhằm vào cả nam giới,
không riêng gì nữ giới. Do vậy, ngoài việc đề cập đến sự KTGT chống nữ
giới, luận án này cũng đề cập đến sự KTGT nhằm vào nam giới trong ngôn
ngữ.
1.2. Cơ sở lý luận.
Sự KTGT là hiện tƣợng có thực trong xã hội. Vấn đề có tồn tại hiện tƣợng
đó trong ngôn ngữ hay không là tuỳ thuộc vào quan niệm về mối liên hệ giữa
ngôn ngữ và tƣ duy hay thực tế xã hội. Hơn nữa, quan niệm này còn quy định
sự cần thiết và tính khả thi của sự can thiệp có chủ ý của con ngƣời vào ngôn
ngữ nhằm mục đích cuối cùng là gián tiếp tác động nhằm thay đổi thực tế
KTGT trong xã hội. Dƣới đây là tóm tắt các quan điểm khác nhau về mối liên
hệ đó:
1.2.1. Những quan điểm khác nhau về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và
thực tế xã hội:
1.2.1.1. Quan điểm cho rằng không hề có một mối quan hệ đặc
biệt nào giữa ngôn ngữ và thực tế xã hội.
Quan điểm loại này cho rằng ngôn ngữ thuần tuý chỉ là một hệ thống võ
đoán các tín hiệu đựơc sử dụng để biểu đạt thực tế mà thôi. Quan điểm này
phủ nhận sự tồn tại của sự KTGT trong ngôn ngữ, phủ nhận sự liên hệ giữa
10
khái niệm giới – phạm trù ngoài ngôn ngữ – với khái niệm giống – phạm trù
ngữ pháp (trong ngôn ngữ).
1.2.1.2. Những quan điểm khẳng định sự tồn tại của mối quan hệ
qua lại nào đó giữa ngôn ngữ và thực tế xã hội.
Theo những quan điểm này thì ngôn ngữ là một nguồn lực có khả năng cải
thiện đời sống xã hội. Tuy nhiên, nếu cụ thể hoá hơn nữa thì những quan điểm
vào ngôn ngữ:
Ngƣời ta thƣờng nói tới cái gọi là sự thay đổi ngôn ngữ (language
change). Những sự thay đổi đó có thể do nhiều nguyên nhân. Một trong
những nguyên nhân ấy có thể là do con ngƣời chủ động tạo nên. Đây chính là
vấn đề “thay đổi ngôn ngữ có chủ ý” (intended language change). Song, liệu
con ngƣời có nên chủ động thay đổi ngôn ngữ hay không là một trong những
vấn đề hiện còn gây nhiều tranh cãi. Sự cần thiết phải có sự tác động của con
ngƣời vào hiện tƣợng KTGT trong ngôn ngữ cũng nằm trong nội dung tranh
cãi đó. Quan niệm về sự cần thiết phải có sự tác động vào ngôn ngữ là xuất
phát từ các quan điểm khác nhau về bản chất của mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và thực tế nhƣ đã trình bày ở trên. Xuất phát từ các quan niệm khác nhau về
mối liên hệ giữa ngôn ngữ và thực tế mà các quan niệm về vấn đề này cũng
rất khác nhau:
1.2.2.1. Những quan điểm phản đối việc tác động vào ngôn ngữ
(còn được gọi là cải cách ngôn ngữ - CCNN).
a. Quan điểm phủ nhận mối liên hệ giữa ngôn ngữ và thực tế.
Nhƣ đã trình bày trong phần trên, có những quan điểm phủ nhận mối quan
hệ giữa ngôn ngữ và thực tế xã hội. Theo quan điểm này thì mặc dù trong
12
thực tế xã hội có hiện tƣợng KTGT nhƣng trong ngôn ngữ không hề có hiện
tƣợng đó và do đó không cần phải tác động vào ngôn ngữ hay CCNN.
b. Quan điểm 'ngôn ngữ phản ánh thực tế xã hội‟.
Quan điểm cho rằng ngôn ngữ chỉ thuần tuý phản ánh thực tế là một quan
điểm rất thƣờng đƣợc vận dụng để phản đối CCNN. Những ngƣời theo quan
điểm này thƣờng có thiên hƣớng ít ủng hộ hơn đối với việc tác động vào ngôn
ngữ hay cải cách ngôn ngữ (CCNN) vì họ không tin rằng ngôn ngữ lại có khả
năng tạo ra đƣợc những thay đổi trong xã hội nhƣ mong muốn (loại bỏ sự
KTGT trong xã hội). Đáng kể nhất trong số những ngƣời chủ trƣơng nhƣ vậy
Trên thực tế, đã có không ít những ngƣời theo quan điểm này lại lập luận ủng
hộ cho tác động vào ngôn ngữ hay CCNN. Tuy vậy, cơ sở của thái độ ủng hộ
ấy lại hoàn toàn khác. Theo những học giả này thì sự thay đổi trong ngôn ngữ
luôn 'tụt hậu' so với sự thay đổi về tập quán xã hội và văn hoá. Nói cách khác,
theo quan điểm này thì sự khắc họa bằng ngôn ngữ hiện nay đối với hình ảnh
của nam giới và nữ giới đã trở nên lỗi thời và không phản ánh đƣợc sự thay
đổi về vị trí cũng nhƣ vai trò của phụ nữ trong xã hội mới.
Trong số những tác giả ủng hộ cho quan điểm ngôn ngữ bị 'tụt hậu' so
với xã hội, đáng chú ý nhất là hai biên tập viên ngƣời Mỹ: Casey Miller và
Kate Swift (1980, 1991), kế đó là nhà ngôn ngữ học ngƣời Mỹ Bobbye
Sorrels (1983). Các tác giả này đều có chung quan điểm cho rằng ngôn ngữ
mang tính kỳ thị giới tính cần phải đƣợc cải cách để phù hợp với xã hội hiện
tại.
b. Quan điểm cho rằng ngôn ngữ mang tính KTGT là nguyên nhân gây
nên sự áp bức đối với phụ nữ:
14
Quan điểm 'quyết định luận ngôn ngữ' về mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và thực tế đã xem ngôn ngữ là một sức mạnh áp đảo, nếu không muốn nói là
một sức mạnh trung tâm trong việc tạo nên cũng nhƣ duy trì sự KTGT trong
xã hội. Đây chính là sự áp dụng phiên bản mạnh của giả thuyết Sapir-Whorf.
Do đó ngôn ngữ sẽ nắm giữ vai trò then chốt trong việc giải phóng phụ nữ
trong xã hội. Tác giả tiêu biểu cho quan điểm này là nhà ngôn ngữ học ngƣời
Anh: Dale Spender (1980: 3)
c. Quan điểm cho rằng cần phải có một vị trí cho phụ nữ trong ngôn
ngữ.
Quan điểm này đƣợc xây dựng dựa trên quan niệm cho rằng: do đặc điểm
khác nam giới về mặt sinh vật học nên nữ giới đã không có một vị trí bình
Điều có liên hệ đến vấn đề bình đẳng nam nữ là ở chỗ: trên cơ sở lý thuyết
của Sigmund Freud, Lacan cho rằng chi phối “trình tự tƣợng trƣng” là cái mà
Lacan gọi là Luật của người cha và Quyền lực của dương vật, và rằng con trai
và con gái bƣớc vào giai đoạn này theo những cách thức rất khác nhau. Do đó
trai và gái có liên hệ khác nhau đối với ngôn ngữ.
Nữ giới, do sự khác biệt về mặt giải phẫu học, không thể chấp nhận hoàn
toàn sự chi phối “trình tự tƣợng trƣng” của Luật người cha. Do vậy, trên một
phƣơng diện nào đó, nữ giới đã bị loại trừ ra khỏi trình tự này hoặc bị đặt ra
ngoài lề của trình tự ấy. Chính vị trí „ngoài lề‟ ấy đã dẫn tới sự đối xử bất
công đối với nữ giới. Về mặt ngôn ngữ, trình tự tƣợng trƣng chỉ có thể duy trì
một loại ngôn ngữ. Đặc trƣng của loại ngôn ngữ này là những cặp nhị phân:
„có‟ hay + và „không có/ thiếu‟ hay - ). Trong lý thuyết này, ngôn ngữ gắn
liền với tính dục nên những cặp nhị phân bao gồm những từ và khái niệm nhƣ
„nam‟ và „nữ‟, „đực‟ và „cái‟ đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở cơ quan sinh dục
16
của ngƣời. Bởi vì cơ quan sinh dục nữ không có dƣơng vật nên nữ giới đƣợc
xem là cực âm của cặp nhị phân „nam-nữ‟. Hơn nữa, vị trí ngoài lề này của nữ
giới trong trình tự tƣợng trƣng còn có nghĩa là nữ giới đã bị lấy mất đi một
loại ngôn ngữ có thể diễn đạt tình cảm, kinh nghiệm và cái tôi của chính
mình. Nhƣ vậy, theo Lacan thì ngôn ngữ không thuộc về nữ giới. Nói cách
khác, nữ giới không có vị trí trong ngôn ngữ và đó là một thực tế cố hữu do
sự khác biệt của nữ giới về mặt sinh vật học. Nói tóm lại, theo Lacan sự
KTGT trong ngôn ngữ là tất yếu và điều đó không thể thay đổi.
Tuy nhiên, Hélène Cixous, Julia Kristeva và Luce Irigaray lại không hoàn
toàn nhất trí với Lacan về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và giới tính. Tuy nhất trí
với Lacan về sự hiện hữu của sự KTGT trong ngôn ngữ nhƣng những tác giả
này lại cho rằng: thay đổi ngôn ngữ là có tính khả thi cao. Do đó những tác
giả này còn chủ trƣơng một số hình thức tác động vào ngôn ngữ mà theo họ
sẽ có tác dụng tốt hơn đối với nữ giới.
tác động vào ngôn ngữ có thể sẽ tạo cho phụ nữ một cơ hội để thể hiện đƣợc
chân dung, và kinh nghiệm của mình; đồng thời tác động vào ngôn ngữ có
thể giúp ngƣời ta nâng cao đƣợc ý thức về một thực tế là: ngôn ngữ không
đơn thuần là một phƣơng tiện trung tính để chuyển tải ý nghĩ và giá trị.
Trong phần này chúng tôi đã đề cập đến những quan điểm khác nhau về
hiện tƣợng KTGT trong ngôn ngữ và sự cần thiết cũng nhƣ tính khả thi của sự
tác động vào ngôn ngữ nhằm khắc phục hiện tƣợng đó.
So với các quan điểm phủ nhận sự tồn tại của hiện tƣợng KTGT trong
ngôn ngữ, các quan điểm khẳng định sự tồn tại của hiện tƣợng đó trong ngôn
ngữ chiếm ƣu thế không những về định lƣợng mà còn cả về mặt định tính: bởi
18
chúng có cơ sở lý luận vững chắc hơn. Đó là các quan điểm “ngôn ngữ phản
ánh thực tế xã hội”, quan điểm “quyết định luận ngôn ngữ”, quan điểm
“tƣơng tác”.
Tuy nhiên, sẽ là không có sức thuyết phục nếu chỉ khẳng định đƣợc sự tồn
tại của hiện tƣợng KTGT trong ngôn ngữ mà lại chƣa chỉ ra đƣợc sự cần thiết
và tính khả thi của những tác động nhằm thay đổi hiện trạng đó. Nói cách
khác, nếu chỉ dừng lại ở việc thuần tuý nghiên cứu sự KTGT trong ngôn ngữ
mà không đề cập đến nỗ lực của con ngƣời nhằm khắc phục hiện tƣợng đó thì
giá trị thực tiễn của luận án này chắc chắn sẽ bị giảm sút. Do vậy, lý thuyết về
sự tồn tại của hiện tƣợng KTGT trong ngôn ngữ luôn đi kèm với lý thuyết về
sự cần thiết và tính khả thi của biện pháp khắc phục, của tác động của con
ngƣời vào ngôn ngữ. Bên cạnh một vài quan điểm phản đối CCNN là những
quan điểm ủng hộ CCNN mang tính thuyết phục hơn. Đó là những quan điểm
nhƣ: quan điểm cho rằng ngôn ngữ tụt hậu so với biến đổi xã hội, quan điểm
quyết định luận ngôn ngữ, quan điểm cho rằng cần có một vị trí bình đẳng
cho nữ giới trong ngôn ngữ, quan điểm tƣơng tác về mối quan hệ giữa ngôn
ngữ và thực tế xã hội.
đƣợc các học giả gọi là „vấn đề cũ‟ còn đối tƣợng nghiên cứu trong „làn sóng‟
thứ hai đƣợc gọi là „vấn đề mới‟. Để có cơ sở xem xét „vấn đề mới‟ cũng cần
phải điểm qua vài nét về „vấn đề cũ‟. „Vấn đề cũ‟ có những nét khái quát nhƣ
sau:
Đề tài sự phân biệt đối xử về giới tính trong ngôn ngữ không phải là một
vấn đề mới và cũng không phải là một mối quan tâm của riêng phong trào đấu
tranh của phụ nữ kể từ thập niên 1970. Trƣớc đó, ngƣời ta đã quan tâm đến
20
các vấn đề có liên quan đến đề tài nhƣ: việc phụ nữ sử dụng từ ngữ, sự biểu
đạt ngƣời phụ nữ trong ngôn ngữ, những tập quán đặt tên phụ nữ vv
Theo Stannard (1977) thì một đặc điểm đặc trƣng của tổ chức 'Lucy Stone
League' có trụ sở đóng tại tiểu bang Maine (Hoa kỳ) là sự vận động cho
quyền của phụ nữ đƣợc duy trì họ/ tên của mình sau khi kết hôn. “Lucy
Stone” là tên riêng của một ngƣời phụ nữ kết hôn vào năm 1855 đã quyết định
giữ nguyên họ của mình thay vào việc phải mang họ của chồng nhƣ truyền
thống. Mục đích của tổ chức này là nhằm đạt đƣợc quyền tự do lựa chọn tên
cho cả nam giới và nữ giới mà trọng tâm hƣớng vào hai lần đặt tên quan trọng
đó là lúc khai sinh và khi kết hôn. Tổ chức này cho rằng việc phụ nữ phải từ
bỏ họ của mình và mang họ chồng sau kết hôn và việc trẻ em phải mang họ
cha là một truyền thống thể hiện tính thiếu bình đẳng nam – nữ mà vẫn chiếm
ƣu thế trong xã hội Hoa Kỳ cũng nhƣ những nền văn hoá Anh – Mỹ khác.
Những truyền thống nhƣ vậy đã trở nên quen thuộc với xã hội Hoa Kỳ tới
mức ngƣời ta đã bỏ qua tính bất công và ảnh hƣởng xấu của những truyền
thống ấy đối với phụ nữ.
Tổ chức này chủ trƣơng những phƣơng cách sau đây nhằm đạt đƣợc điều
mà tổ chức này gọi là sự “bình đẳng trong lựa chọn tên riêng” khi kết hôn:
Vợ/ chồng vẫn giữ nguyên tên đặt lúc lọt lòng của mình.
Nối hai họ của vợ và của chồng để hình thành một tên mới.
Lồng ghép những phần khác nhau của tên riêng để tạo nên một tên duy