lê quang sáng
Nghiên cứu trung Quốc
số 6(76)-2007
76
Lê Quang Sáng
NCS Thạc sĩ - Đại học Trung Sơn (Trung Quốc)
ự kỳ thị giới tính thực chất là
sự kỳ thị đối với phụ nữ. T
tởng trọng nam khinh nữ
trong xã hội phong kiến mấy ngàn năm
trớc đã ăn sâu vào tận gốc mỗi ngời
dân Trung Quốc. Chúng ta cũng thờng
nghe câu nói: Nhất nam viết nữ thập nữ
viết vô. Ngôn ngữ là phơng tiện chuyển
tải những t tởng đó, phản ánh một
cách tự nhiên trong từ ngữ tiếng Hán.
Trung Quốc có rất nhiều câu thành ngữ,
ngạn ngữ nói về sự miệt thị phụ nữ:
(phụ nữ và trẻ thơ đều biết, câu
thành ngữ có ý cho rằng nhận thức của
phụ nữ chỉ giống nh đứa trẻ),
(Nuôi con trai không nuôi
S
Sự kỳ thị giới tính biểu hiện trong
nghiÊn cứU trung quốC
số 6(76)-2007
77
Thông thờng, từ xng hô thân thuộc
trong tiếng Hán đối xứng với nhau, nh
ông-bà, anh trai-chị gái. Nhng trên thực
tế, từ xng hô chỉ nam giới thông thờng
tế nhị hơn từ xng hô chỉ nữ giới. Ví dụ:
nhóm từ xng hô: (bác
bác (bác trai), thúc thúc (chú ruột), cô cô
(cô ruột), đều là những từ xng hô chỉ
quan hệ thân thuộc ngang vai với bố mẹ
đẻ, nhng phía nam giới lại đợc phân
theo quan hệ tuổi tác lớn bé của ngời
cha: , , trong khi đó, nữ giới ít
phân theo tuổi tác mà đều gọi chung là
(cô cô). Sự phân biệt đó bắt nguồn
từ nguyên nhân cho rằng bác với chú là
ngời một nhà có liên hệ nhiều hơn nên
cần thiết phải chia nhỏ hơn, còn cô sớm
hay muộn cũng sẽ đi lấy chồng mà
, (cô gái đã đi lấy
chồng nh bát nớc đã hắt đi), trở thành
ngời nhà khác và đơng nhiên sự liên
hệ sẽ ít hơn, không cần thiết phải phân
vào tuổi tác của ngời mẹ (bên ngoại).
Sự không cân xứng này còn thể hiện ở
mức độ phức tạp của từ xng hô: Xng hô
cho nam giới ngắn gọn còn cho nữ giới thì
dài dòng phức tạp. Ví dụ: Con trai của
anh em trai có thể gọi là (cháu), con
gái của anh em ruột không đợc gọi là
, chỉ đợc gọi là . Con trai của
con trai gọi là (cháu trai), con gái
của con trai gọi là , con trai của em
gái gọi là , con gái của em gái
bắt buộc phải gọi là . Cùng một
giới tính lẽ nào lại có sự khác biệt nh
vậy? Chẳng phải một là con trai, một là
con gái đó sao?
Sự mất cân xứng đôi khi còn thể hiện
ở chỗ xng hô cho nam giới có thể bao
trùm thay cho nữ giới, nhng xng hô
cho nữ giới lại không thể, chẳng hạn
(con cháu), chỉ thế hệ sau, nó có thể
bao gồm cả nam lẫn nữ, thế nhng từ
, chỉ để chỉ nữ (cháu gái). Chỉ có
(con (trai) cháu đầy nhà), nhng
không có (con (gái) cháu đầy
nhà), chỉ có (vợ con (trai) lớn
lê quang sáng
Nghiên cứu trung Quốc
số 6(76)-2007
phản ánh địa vị xã hội khác nhau giữa
nam nữ và t tởng trọng nam khinh nữ
trong lịch sử.
1.2. Trật từ xng hô thể hiện Nam
tôn nữ ti
( )
Về trật tự từ xng hô, từ xng hô chỉ
nam giới thờng đứng trớc, còn từ xng
hô cho nữ giới thì ngợc lại. Một đặc
điểm quan trọng trong tiếng Hán là
(trc tôn hu ti), nh
(quân thần, phụ
tử, mẫu tử, tổ tôn), nếu nh đổi lại trật
tự thì ngời ta không thể chấp nhận
đợc.
Hai từ xng hô thân thuộc ghép lại,
trong điều kiện giống nhau, thì thờng
ngữ tố xng hô cho nam giới đứng trớc
ngữ tố xng hô cho nữ giới:
cha mẹ, bố mẹ, tía mạ, bố
chồng mẹ chồng, chồng vợ (khác với tiếng
Việt), anh trai chị dâu, anh chị, em trai
em gái, con cái, con cái và cũng không
nói ngợc lại. Tôn ti trật tự ( )
cũng là một t tởng đợc ngời Hán rất
coi trọng, nhng đôi khi t tởng này
cũng phải nhờng chỗ cho t tởng nam
tôn nữ ti. Chị dâu thông thờng lớn tuổi
hơn chú út, thậm chí còn có quan niệm
(dâu cả hơn cả mẹ), nhng khi
tên vợ bằng họ tên của ngời chồng. Ví
dụ khi ngời ta gọi: (ông
Trơng), thì đích thực họ ông ấy là
Trơng, nhng (bà Trơng), thì
cha chắc bà ấy họ Trơng. Bà ấy có họ
của mình nhng mọi ngời không hay
gọi, mà lại gọi bà ấy theo họ của chồng.
(phu nhân Trơng) là cách gọi
tôn xng, nhng cho dù là tôn xng thì
vẫn mang họ của chồng. Ví dụ khác nh
, không phải là họ Triệu, (chị
dâu Trơng), không phải họ Trơng,
(con dâu họ Lý), cũng không phải
là họ Lý. gọi là bà nội Châu,
nhng không phải bà ấy họ Châu, mà là
chồng bà ấy họ Châu. Đặc biệt là ở nông
thôn, vẫn tồn tại hiện tợng lấy họ tên
chồng ghép với một từ xng hô nữ tính để
xng hô ngời vợ: (Chị dâu
Bính Sinh), (Con dâu Đông
Căn), (vợ Thiết đán). Những
từ xng hô này là minh chứng cho địa vị
phụ thuộc của ngời phụ nữ.
Ngoài ra, chúng ta còn có thể căn cứ
vào cách xng hô đối với ngời vợ, đoán
tuổi của ngời chồng: (bác
gái, thím). Cách xng hô nh vậy không
phải căn cứ vào tuổi của họ, mà là căn cứ
vào tuổi chồng trong sự tơng đối với tuổi
của bố mẹ mình, rồi quyết định lựa chọn
trong nội tộc
. Để biểu thị sự tôn kính,
con dâu đứng trên cơng vị của con cái
mình gọi bố mẹ chồng là , (ông
bà), hoặc (ông cháu, bà
cháu), gọi em trai chồng là (chú).
Trong truyện Thủy Hử, Phan Kim Liên,
chị dâu của Võ Tòng, cũng luôn miệng
gọi Võ Tòng là , cho dù vẫn cha
sinh con. Hay các từ xng hô hàng ngày:
(bác nó), (chú hai nó)
(cô, gọi em gái của chồng mình),
đều xng hô thay cho con cái.
1.5 Xng hô vợ chồng thể hiện t
tởng Nam tôn nữ ti
Những từ xng hô vợ chồng nh
(ông già), (bà lão),
lê quang sáng
Nghiên cứu trung Quốc
số 6(76)-2007
80
(bố thằng cu), (mẹ
thằng cu), (bà xã), (ông
xã) (vợ hoặc chồng), (chồng,
chỉ lịch sự, ngời Hồng Công hay dùng),
(vợ, chỉ lịch sự). Phân tích từ xng
hô giữa vợ và chồng, chúng ta cũng thấy
(tiện nhân), (vợ đần), (vợ
quê mùa), (vợ vụng), (tiện
nội), (vợ gai góc) v.v
2. Từ xng hô xã hội thể hiện t
tởng Nam tôn nữ ti
2.1. Sắc thái biểu cảm nam nữ khác
nhau
Xng hô xã hội do giới tính khác nhau
nên ý nghĩa sắc thái biểu cảm khác nhau.
Nam giới thờng đợc thêm các từ ,
, sau đó thêm các từ nh , ,
biểu thị sự tôn kính. Thời xa thờng gọi
là (đại lão gia), (thái
lão gia), (Trơng công). Nữ giới thì
lại bị chụp cho chữ , hoặc những chữ
ý nghĩa tơng tự chữ (nhỏ):
(tiểu nha đầu), (con bé, con nhỏ,
con ranh), (con vợ),
(con nha đầu), (xa là chỉ
tiểu th, nay để chỉ gái nhà hàng),
(con nở).
Trong tiếng Hán, con gái nhiều tuổi
cha lấy chồng thờng bị chụp cho
những từ nh (gái già),
(gái trinh già), nhng con trai lại gọi là
(hảo hán độc thân). Hai từ
(chồng) và (vợ) là hai từ trung
tính. Nếu cho từ trớc chữ , ý
nghĩa khác hẳn, chỉ ngời chồng anh
hùng khẳng khái, nhng với từ ,
hàm ý khinh miệt:
! (mày làm việc thế nào mà nh các
mẹ thế hả?). Ngợc lại, nữ giới lại cha
bao giờ gọi mình là .
là một tiền tố cấu tạo nên từ
giàu tính biểu cảm trong truyền thống
văn hóa Trung Quốc, nhng ý nghĩa biểu
cảm của nó lại rất khác nhau khi đứng
trớc các từ chỉ giới tính nam và nữ. Nếu
nh đứng trớc các từ xng hô nam
giới, nó thể hiện sự trang trọng, kính
trọng: (lão gia), (lão
trợng nhân, chỉ ông già nhng tôn
kính), (lão đại nhân),
(ông chủ); khi kết hợp với từ xng hô chỉ
nữ giới thì hàm nghĩa hoàn toàn ngợc
lại, hàm nghĩa tuổi cao, châm chọc,
không tôn kính: (bà xã),
(mẹ sề), (mẹ già), (vợ già),
(gái già), (gái trinh
già) Trong tiếng Hán thờng dùng
+ , nh (Vơng lão) ,
(Lý lão), để chỉ những ngời già đức cao
vọng trọng, nhng cách dùng này thờng
dùng nhiều cho nam giới, rất ít dùng cho
nữ giới.
Những từ xng hô hiện nay nh
và , sắc thái biểu cảm không
còn cân xứng, xa nay vẫn là kính
ngữ, nhng lại có sự thăng trầm,
những từ này, ngời Trung Quốc vẫn
liên tởng ngay đó là nam giới. Bởi vì
trong nhận thức của mọi ngời, những
ngành nghề hoặc địa vị quyền cao chức
trọng thời xa nam giới chiếm đại đa số,
nên tâm lý đó đã hình thành. Trên báo
lê quang sáng
Nghiên cứu trung Quốc
số 6(76)-2007
82
chí và các phơng tiện truyền thông đại
chúng, xng hô cho nam giới có thể bỏ
chữ (nam), nhng nữ giới thì không
đợc, vẫn phải thêm ngữ tố (nữ).
Những từ chỉ nghề nghiệp có địa vị
xã hội thấp nh: (th ký),
(nhân viên phục vụ), (bảo
mẫu), (ngời bán hàng),
(ngời trực điện thoại), ngời ta lại
dễ dàng nghĩ ngay đến phụ nữ.
3. Hiện tợng khuyết thiếu từ xng hô
thể hiện t tởng Nam tôn nữ ti
Khuyết thiếu từ xng hô là hiện tợng
tìm không thấy từ xng hô phù hợp để
xng hô đối tợng giao tiếp. Từ xng hô
trọng nam nhiều hơn từ xng hô trọng
nữ. Theo thống kê của Lâm Hạnh Quang
xng hô.
3.2. Sự khuyết thiếu từ xng hô
xã hội
Khi giảng trên lớp, thầy giáo có thể
dõng dạc gọi vợ mình là (s
nơng của các em), (s mẫu
của các em), nhng cô giáo lại chỉ có thể
miễn cỡng gọi chồng mình là
(chồng tôi). Thầy giáo đơng nhiên vẫn
có thể gọi vợ mình là (vợ tôi),
nhng cô giáo lại không thể gọi chồng
mình là (s phụ của các em)
hoặc (s tía của các em),
(s ba của các em). Vì vậy, học
sinh cũng không có từ để xng hô chồng
của cô giáo. Đó là một ví dụ điển hình
cho sự khuyết thiếu từ xng hô.
Trong tiếng Hán, một số chức vụ,
nghề nghiệp vốn cả nam nữ đều có thể
làm, nhng đều dùng để chỉ nam giới,
nếu nh nữ giới đảm nhận chức vụ hoặc
nghề nghiệp này thì phải thêm trớc đó
chữ , nh , , ,
, , (nữ tiến sĩ,
nữ giáo s, nữ nhà văn, nữ anh hùng, nữ
nhà khoa học, nữ tài xế). Hay trong
bóng đá, gọi một đội bóng nam giới của
Sự kỳ thị giới tính biểu hiện trong
nghiÊn cứU trung quốC
số 6(76)-2007
chuyện nhỏ, thất tiết mới là chuyện lớn),
nhng nam giới lại là chuyện bình
thờng: (không
bị nhục vì bị mất đồng trinh) .
Ngôn ngữ là tấm gơng phản chiếu
đời sống xã hội. Cùng với sự phát triển
của nó, ý nghĩa và quan niệm kỳ thị vốn
có trớc đây sẽ dần dần mất đi. Và cái gọi
là ngôn ngữ kỳ thị đối với phụ nữ cũng sẽ
dần dần không còn chỗ đứng trong giao
tiếp.
chú thích:
1.
275
2. Ngày nay ở Hồ Nam vẫn dùng là từ
xng hô trực tiếp giữa chồng với vợ, nếu gọi
vợ ngời khác thì thêm họ vào trớc nh
, , nếu không biết họ của cô ấy,
có thể lấy tên chồng cô ấy để gọi: ,
.
Tài liệu tham khảo
1. ,
, 20 3 2003
9 .
2
2006 2 ( 235 ).
3