Tìm hiểu đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa của tổ hợp từ có động từ đi chạy trong tiếng Anh và tiếng Việt - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ DIỄM THUỲ TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA CỦA
TỔ HỢP TỪ CÓ ĐỘNG TỪ ĐI/CHẠY TRONG
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI, 2006
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


01. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
5
02. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
6
03. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
7
04. Phƣơng pháp nghiên cứu
7
05. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
8
06. Tƣ liệu nghiên cứu
9
07. Bố cục của luận văn
9
CHƢƠNG I:
TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN TỔ HỢP TỪ VÀ ĐỘNG TỪ
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

1.1. Khái quát về đối chiếu ngôn ngữ
10
1.1.1. Vài nét khái quát về phương pháp so sánh đối chiếu
10
1.1.2. Khái niệm về thuật ngữ so sánh đối chiếu
11
1.1.3. Phương pháp so sánh đối chiếu
13
1.2. Khái niệm về cụm từ
18
1.2.1. Khái quát về cụm từ
18

2.1.3. Một số trường hợp đặc biệt sử dụng cặp động từ come/go
49
2.2. Đặc điểm của cụm động từ trong tiếng Anh
53
2.2.1. Đặc điểm của cụm động từ
53
2.2.2. Động từ kép trong tiếng Anh
54
2.3. Các động từ come/go/run
62
2.4. Tiểu kết chƣơng 2
68
CHƢƠNG III
PHƢƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH THÀNH NGỮ CÓ ĐỘNG TỪ TO
COME/TO GO VÀ TO RUN SANG TIẾNG VIỆT

3.1. Ứng dụng trong khi chuyển dịch thành ngữ từ tiếng Anh sang
tiếng Việt
70
3.2. Ứng dụng trong giảng dạy
79
3.3. Tiểu kết chƣơng 3
84
KẾT LUẬN
85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
87
PHỤ LỤC BẢNG TRA CỨU THÀNH NGỮ ĐỘNG TỪ COME/GO/RUN
TRONG TIẾNG ANH VÀ ĐI/CHẠY TRONG TIẾNG VIỆT


đặc trƣng của tiếng Anh là cụm động từ. Động từ là một từ loại phức tạp nhất,
sử dụng rộng rãi nhất, chiếm vị trí hàng đầu trong hệ thống các từ loại của các
ngôn ngữ.

Trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng nhƣ trong nhiều ngôn ngữ khác
động từ đi và chạy đƣợc sử dụng rộng rãi. Động từ đi, nhƣ đƣợc thừa nhận, là
động từ cơ bản trong nhóm động từ chuyển động. Động từ chuyển động là đề
tài hấp dẫn đã thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học Việt
Nam trong nhiều năm nay. Tuy nhiên, một vấn đề đƣợc giới Anh ngữ rất quan
tâm trong dạy/học tiếng Anh hiện nay - đó là khả năng kết hợp từ của động từ
to go/ to come và to run với các từ loại khác có so sánh đối chiếu với động từ
đi/chạy trong tiếng Việt. Cho đến nay chƣa có công trình nào tìm hiểu một
cách đầy đủ ý nghĩa, đặc điểm từ vựng- ngữ nghĩa của những cụm từ này
cũng nhƣ cách sử dụng chúng trong hành chức, nhất là ở bình diện đối chiếu
Anh - Việt. Đây chính là lý do chọn đề tài của luận văn. Nội dung luận văn sẽ
có ý nghĩa thời sự, vì:

 Dấu ấn ngôn ngữ trong các cụm từ có động từ đi/chạy trong hai ngôn
ngữ là cứ liệu phản ánh bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc;

 Khả năng kết hợp từ với các loại từ khác của động từ đi/chạy trong hai
ngôn ngữ khác nhau về loại hình sẽ cho thấy cách tƣ duy của ngƣời bản
ngữ tiếng Anh và tiếng Việt giống nhau và khác nhau nhƣ thế nào trong
khi nhìn nhận hiện thực khách quan.
Những vấn đề này đến nay chúng tôi cho rằng vẫn đang có ý nghĩa thời
sự. Là một giảng viên giảng dạy tiếng Anh cho ngƣời Việt Nam ở các cấp độ
và lứa tuổi khác nhau, qua nghiên cứu lý luận, tôi nhận thấy rằng cụm động từ
tiếng Anh là một vấn đề khó, đôi lúc còn gây khó khăn, cản trở cho ngƣời
nƣớc ngoài sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp, nhƣng đây là vấn đề rất thú vị
và thiết thực.

nghĩa bóng khi chúng đƣợc chuyển nghĩa.

0.4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc áp dụng trong luận văn là phƣơng pháp
miêu tả, phƣơng pháp đối chiếu, phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp diễn
dịch.

Cụm từ có động từ come/go/run của tiếng Anh là những đơn vị của
ngôn ngữ nguồn. Cụm từ có động từ đi/chạy của tiếng Việt là những đơn vị
của ngôn ngữ đích.
Phương pháp đối chiếu:

Đối chiếu là phƣơng pháp nghiên cứu dựa trên sự so sánh hai hay nhiều
ngôn ngữ để “phát hiện ra những nét tƣơng đồng về cấu trúc, chức năng và
hoạt động của các phƣơng tiện ngôn ngữ đƣợc nghiên cứu” [22; tr .48], đồng
thời cũng chú ý cả cái dị biệt, nhận diện chung.

Phương pháp miêu tả:
Miêu tả trong ngôn ngữ học là phƣơng pháp nghiên cứu một hay nhiều
ngôn ngữ ở một giai đoạn phát triển nhất định, chủ yếu tập trung vào phân
tích ngữ pháp. Nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này là đối
chiếu phƣơng thức thể hiện ý nghĩa của hai ngôn ngữ.

Về mặt ngôn ngữ, luận văn tuân thủ cách tiếp cận đối tƣợng khảo sát ở
cấp độ từ và cụm từ ở nghĩa chuyển động trong không gian và nghĩa bóng
phái sinh của chúng.

Mục đích cuối cùng của luận văn là đƣa ra những chỉ dẫn ngôn ngữ
học, và ở mức độ nhất định những chỉ dẫn đất nƣớc học và văn hoá học đối

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn bao
gồm 3 chƣơng:

Chƣơng I: Tiền đề lý luận liên quan đến tổ hợp từ và động từ trong
tiếng Anh và tiếng Việt.

Chƣơng II: Đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa các tổ hợp động từ
come/go/run có đối chiếu với các tổ hợp động từ đi/chạy trong tiếng
Việt.

Chƣơng III: Phƣơng thức chuyển dịch thành ngữ có động từ to
come/to go và to run sang tiếng Việt.
CHƢƠNG I
TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN TỔ HỢP TỪ VÀ ĐỘNG TỪ
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT.

1.1. Khái quát về đối chiếu ngôn ngữ

1.1.1. Vài nét khái quát về phương pháp so sánh đối chiếu

Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ đối chiếu, với tƣ cách là một

những khác nhau cơ bản giữa ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ của ngƣời học đó,
chúng ta không thể không tính đến tầm quan trọng của việc phân tích đối
chiếu nhƣ một phƣơng thức đánh giá các định đề cũng nhƣ những đòi hỏi của
chính lý luận của ngôn ngữ học” [36, tr.76].

1.1.2. Khái niệm về thuật ngữ so sánh đối chiếu

Lịch sử phát triển của những tri thức khoa học bao giờ cũng là một quá
trình liên tục và có tính kế thừa. Nội dung của các thuật ngữ nghiên cứu đối
chiếu cũng đƣợc xác định trong quá trình phát triển biện chứng lịch sử đó. ở
đây, trƣớc hết cần nói đến mối quan hệ tƣơng ứng trong cách dùng các thuật
ngữ: ngôn ngữ học so sánh, ngôn ngữ học đối chiếu.

Trong nghĩa thƣờng dùng, hai từ so sánh và đối chiếu không khác nhau
nhiều về ý nghĩa. “So sánh” là xem xét để tìm ra những điểm giống, tƣơng tự,
hoặc khác biệt nhau về số lƣợng, kích thƣớc, phẩm chất, còn “đối chiếu” là so
sánh hai sự vật có liên quan chặt chẽ với nhau. Đối chiếu nguyên bản với bản
dịch (Từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên) [TĐ 24].

Nhƣ đã thấy, không hẳn định nghĩa trên đây là hoàn toàn chính xác,
nhƣng chúng đã cho ta ý niệm về nội dung các kết hợp thuật ngữ “ngôn ngữ
học so sánh”, “ngôn ngữ học đối chiếu” là chƣa hoàn toàn chính xác. Cách
hiểu nội dung thuật ngữ cần chính xác hơn và có tính quy định hơn cách hiểu
thông thƣờng. Trong ngôn ngữ học, các thuật ngữ tiếng Việt: ngôn ngữ học so
sánh tƣơng ứng với tiếng Anh comparative linguistics. Đó là thuật ngữ để
chỉ một phân ngành của ngôn ngữ học và cái nội dung từ “so sánh” đƣợc hiểu
một cách rất xác định. Việc xem xét kỹ những tài liệu ngôn ngữ học cho thấy
một số nhà ngôn ngữ có ý thức phân biệt ngôn ngữ học so sánh trong nghĩa
rộng với ngôn ngữ học so sánh - lịch sử. Trong trƣờng hợp thứ nhất thuật ngữ
“so sánh” dƣờng nhƣ chủ yếu chỉ nhấn mạnh cách tƣ duy, về việc sử dụng so


Trong thức tiễn nghiên cứu, nhiều nhà nghiên cƣú đã chỉ rõ, việc phân
tách ra cái giống nhau và khác nhau trong đối chiếu là rất khó. Nó đƣợc thực
hiện một cách đồng thời. Xác định cái khác nhau phải biết cái giống nhau
cùng tồn tại giữa các sự vật. Song bao giờ cái khác nhau cũng dễ nhận thấy
hơn. Nói chung, nghiên cứu đối chiếu giúp ta xác định cái giống nhau và khác
nhau của các ngôn ngữ về mặt cấu trúc, hoạt động và sự phát triển của chúng.

1.1.3. Phương pháp so sánh đối chiếu

Phƣơng pháp đối chiếu hay phƣơng pháp ngôn ngữ học đối chiếu có
một hệ thống nguyên tắc, thủ pháp nghiên cứu riêng. Nó khác với phƣơng
pháp miêu tả và phƣơng pháp so sánh - lịch sử. Nhƣng đồng thời, phƣơng
pháp nghiên cứu này có kế thừa và sử dụng nhiều yếu tố, thủ pháp của nghiên
cứu miêu tả và so sánh - lịch sử. Chính điều này đã tạo ra đặc điểm riêng, lợi
thế và triển vọng của phƣơng pháp nghiên cứu đối chiếu.
Trƣớc hết chúng ta hãy xem xét một số đặc điểm chủ yếu của phƣơng
pháp đối chiếu.

1.1.3.1. Xác lập cơ sở đối chiếu

Xác lập cơ sở đối chiếu là xác định đối tƣợng nghiên cứu cụ thể, định
rõ đặc điểm đối tƣợng và định hƣớng các hoạt động, các bƣớc nghiên cứu
nhất định.

Cơ sở đối chiếu là những điểm giống và khác nhau hay những tƣơng
đồng và dị biệt của phạm vi đối tƣợng đƣợc khảo sát. Thông thƣờng các ngôn
ngữ, các hiện tƣợng càng giống nhau thì càng có nhiều điểm chung, dấu hiệu
chung. Nếu nhƣ hai hay một số ngôn ngữ, hiện tƣợng càng khác nhau thì
những điểm khác, dấu hiệu khác càng nhiều.

đối chiếu sẽ đƣợc chú ý đồng đều về tất cả các mặt ở ngôn ngữ đƣa vào
nghiên cứu. Khả năng này đƣợc vận dụng để tìm cái chung và cái riêng ở các
ngôn ngữ so sánh, từ đó ứng dụng thực tiễn trong dạy học ngoại ngữ hay
phiên dịch. Thƣòng những phân tích nhƣ thế đƣợc tiến hành đối với các ngôn
ngữ cùng loại hình hoặc các ngôn ngữ có cùng hoặc gần gũi về hệ. Ví dụ:
những nghiên cứu đối chiếu song song tiếng Bun-ga-ri và tiếng Ba Lan, tiếng
Nga và tiếng Bun-ga-ri v.v Phạm vi nghiên cứu đối chiếu dấu hiệu là phạm
vi tất yếu phải có trong nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu đối chiếu dấu hiệu
thƣờng đƣợc tiến hành trên các bình diện chủ yếu sau đây:

Đối chiếu phạm trù nhằm vào việc làm sáng tỏ đặc điểm thể hiện
các phạm trù ở ngôn ngữ đƣợc nghiên cứu nhƣ phạm trù: thời, thể,
xác định, không xác định: phạm trù số, giống, cách, đa nghĩa, đồng
âm, trái nghĩa, đồng nghĩa v.v

Đối chiếu cấu trúc hệ thống nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm, cấu tạo,
những đặc điểm giống, khác, đặc trƣng của các hệ thống lớn, hệ
thống con đƣợc nghiên cứu nhƣ hệ thống âm vị, hình vị, hệ thống từ
loại, hệ thống câu đơn, câu phức v.v

Đối chiếu chức năng và hoạt động nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm
hoạt động, hành chức của các hiện tƣợng, phạm trù ngôn ngữ.

Đối chiếu phong cách nhằm làm sáng tỏ hoạt động các phong cách
chức năng, những nét chung và riêng của các thể hiện phong cách
chức năng ở ngôn ngữ đựơc đối chiếu.

Đối chiếu lịch sử phát triển có quan hệ với nghiên cứu lịch đại.
Phạm vi đối chiếu này nhằm làm sáng tỏ các quy luật phát triển và các
quá trình biến đổi xảy ra trong nội bộ các ngôn ngữ đƣợc nghiên cứu.

nghĩa âm vị học, còn trong tiếng Việt lại không có giá trị ấy. Ví dụ [bit]
(bit) có nghĩa là một ít

[bi:t] (beat) có nghĩa là đánh

Phƣơng thức đồng nhất/khu biệt hoạt động góp phần xác định sự
thông dụng, tính phổ biến hay hạn chế của các hiện tƣợng, sự kiện ngôn
ngữ đều có trong ngôn ngữ đối chiếu. Phƣơng pháp này nhằm chỉ ra các
hiện tƣợng ngôn ngữ xét về phƣơng diện nào đó là giống nhau trong các
ngôn ngữ, nhƣng ở ngôn ngữ này đƣợc sử dụng phổ biến, hoạt động mạnh
hơn còn ở ngôn ngữ khác thì ngƣợc lại. Chẳng hạn trong địa hạt từ vựng -
ngữ nghĩa, tiếng Bun-ga-ri, tiếng Việt đều có sự vay mƣợn từ tiếng ấn - Âu
(Pháp, Latinh ) song số lƣợng từ mƣợn tiếng Pháp, Latinh trong tiếng
Bun-ga-ri khá nhiều, còn trong tiếng Việt thì ít hơn. Trong tiếng Bun-ga-ri
còn có tiếng Nga cổ nhƣng không thể gọi là vay mƣợn vì chúng có vốn từ
gốc Slavơ cổ chung.

Phƣơng thức đồng nhất khu biệt phong cách nhằm làm sáng tỏ
những đặc điểm thể hiện, vận dụng phong cách chức năng ở mỗi ngôn
ngữ. Phƣơng thức này có thể tiến hành qua nhiều lĩnh vực: chẳng hạn
phong cách thể loại nhƣ thi ca, báo chí, chính luận, tiểu thuyết, khoa học
kỹ thuật v.v hoặc phƣơng tiện tu từ nhƣ so sánh, ẩn dụ, hoán dụ v.v
Phức tạp hơn cả là đối chiếu hai hệ thống phƣơng tiện thông tin văn bản và
các thể loại văn phong thuộc về các thời kỳ xã hội lịch sử văn hoá khác
nhau. Trong trƣờng hợp này, đối chiếu phong cách không giới hạn ở tiêu
chuẩn ngôn ngữ tín hiệu mà cả ngôn ngữ - tâm lý, ngôn ngữ - xã hội, tâm
lý học - xã hội. Phạm vi đối chiếu của phƣơng thức này gắn liền với việc
xem xét các nhân tố xã hội - lịch sử.

Phƣơng thức đồng nhất/khu biệt phát triển dùng để xác định đặc

Các tổ hợp từ chƣa thành câu (bao gồm tổ hợp từ tƣơng đƣơng câu và
đoạn có nghĩa của câu) đƣợc gọi chung là tổ hợp tự do. Về nguyên tắc, tổ hợp
từ tự do có thể chứa kết từ ở đầu để chỉ chức vụ ngữ pháp của toàn bộ phần
còn lại trong tổ hợp từ này. Những tổ hợp từ có kết từ ở đầu nhƣ vậy mang
tên là giới ngữ. Trái lại, tổ hợp từ tự do không chứa kết từ chỉ chức vụ ngữ
pháp nhƣ vậy, đƣợc gọi là cụm từ, ví dụ:
1. Đã học xong.
2. Nghèo nhƣng tốt bụng.

Vậy cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp "tự do" với
nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ
ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này).

1.2.2. Đặc điểm của cụm từ

Các thành tố trong một cụm từ nhỏ nhất của tiếng Việt có thể có một
trong ba kiểu quan hệ cú pháp phổ biến sau đây:

- Quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ, gọi tắt là quan hệ chủ vị.

- Quan hệ giữa hai thành tố chính với thành tố phụ về ngữ pháp, gọi là
quan hệ chính phụ.

- Quan hệ giữa hai yếu tố bình đẳng với nhau về ngữ pháp gọi là quan
hệ bình đẳng.

Trong việc nghiên cứu của cú pháp, kiểu cụm từ chủ - vị thƣờng giữ vai
trò nòng cốt trong câu đơn hai thành phần, nó là cơ sở của một thứ đơn vị
riêng của ngôn ngữ - đối tƣợng trực tiếp của việc nghiên cứu câu. [2; tr. 5-10]
Cụm từ trong tiếng Việt có hai loại: Cụm từ tự do và cụm từ cố định

1.2.3. Quan niệm cụm từ trong tiếng Anh và tiếng Việt

* Cụm từ tiếng Anh

Trong tiếng Anh quan niệm về cụm từ nhƣ sau:

“Cụm từ đƣợc định nghĩa theo một cách truyền thống là một nhóm từ
gắn liền với nhau mà không bao gồm động từ xác định, nó chỉ làm nên một
đơn vị câu mà chức năng của cụm từ là một phần của câu”. [dẫn theo 23; tr. ].
Định nghĩa truyền thống này dùng ba tiêu chuẩn khác nhau: Đó là ngữ
nghĩa học (một nhóm từ kết hợp với nhau), cấu trúc câu (không gồm động từ
cụ thể nhƣng lại tạo nên một đơn vị câu); và một cụm từ, theo định nghĩa nhƣ
trên, chức năng nhƣ là một thực thể mạch lạc trong câu. Hãy xem xét các cụm
từ trong những ví dụ dƣới đây, những từ và những cụm từ có thể đƣợc thay
thế, chúng ta sẽ thấy rằng chức năng này là rất quan trọng nhƣ những chức
năng khác của câu (danh từ, tính từ, trạng từ).
Ví dụ: Swimming in the pond is her favorite exercise.

Bơi lội trong ao là bài tập thể dục ƣa thích của cô ta. (Cụm từ swimming
in the pond có chức năng làm chủ ngữ của câu).

The book on the table.

Quyển sách trên bàn (cụm từ on the table - cụm từ chỉ địa điểm).
The house with damaged roof in No.7 storm was built in 1900. (cụm từ
damaged roof in No.7 storm có chức năng nhƣ một tổ hợp bổ nghĩa cho “the
house”).

Về cơ bản cụm từ là một cấu trúc dễ mở rộng.
Vì thế cụm từ, nhƣ chúng ta đã nói ở trên, là một sự mở rộng những

3. Cụm từ có tính từ làm thành tố chính gọi là cụm tính từ.
Ví dụ: Bức tranh đẹp quá.

4. Cụm từ có số từ làm thành tố chính, gọi là cụm số từ.
Ví dụ: Hơn hai tiếng, độ hai tiếng.

5. Cụm từ có đại từ làm thành tố chính, gọi là cụm đại từ.
Ví dụ: Tất cả chúng tôi.

Trong số năm loại cụm từ kể trên, cụm danh từ và cụm động từ là
những cụm từ có cấu tạo đa dạng hơn hẳn hai loại cụm từ cuối cùng. Vì vậy
thông thƣờng ngƣời ta chỉ xét hai loại cụm từ này với tƣ cách là những hiện
tƣợng tiêu biểu (cụm tính từ có nhiều nét giống cụm động từ).

Mỗi loại cụm từ thông thƣờng có thể chia thành ba bộ phận rõ rệt.
- Phần phụ trƣớc, đứng trƣớc thành tố chính.
- Phần trung tâm, tức là phần chứa thành tố chính.
- Phần phụ sau, đứng sau thành tố chính.

Mỗi bộ phận có thể chứa nhiều yếu tố, mỗi yếu tố đƣợc gọi là một
thành tố. Một cụm từ chứa đủ ba bộ phận vừa nêu là cụm từ đầy đủ. Trong
hoạt động của mình. cụm từ có thể có mọi biến dạng cần thiết dựa trên cơ sở
dạng đầy đủ, kể cả dạng vắng trung tâm. Quan niệm cụm từ là tổ hợp của
những từ, cho nên khi chỉ có một từ thì, dùng từ đó tƣơng đƣơng với thành tố
chính hay tƣơng đƣơng với thành tố phụ, khi phân tích cấu tạo bề mặt, chúng
ta không coi đó là cụm từ.

Mặc dù có nhiều điểm giống nhau về nguyên tắc, nhƣng cách xây
dựng, tạo lập cụm từ cố định trong các ngôn ngữ khác nhau không hoàn toàn
nhƣ nhau.

Ví dụ: Quân sƣ quạt mo.
Tuần trăng mật.
Ngữ cố định danh thực chất là những cụm từ cố định, định danh, gọi
tên sự vật. Những cụm từ nhƣ vậy thƣờng có một thành tố chính và một vài
thành tố phụ miêu tả sự vật. Chủ yếu miêu tả bằng đƣờng so sánh nhƣng
không dùng từ so sánh.

Ví dụ: Lông mày lá liễu.
Mắt bồ câu.
Gần giống nhƣ con đƣờng tạo dựng các từ ghép.
Ví dụ: đen sì, đen trũi, đen xỉn

Ngữ cố định định danh thƣờng tập trung vào khu vực tên gọi các bộ
phận cơ thể con ngƣời nhƣ:

Ví dụ: Tóc rễ tre, mắt ốc nhồi.
Cũng có một số tên gọi của sự vật khác hoặc của một trạng thái, thuộc
tính:

Ví dụ: đá tai mèo, con gái rƣợu.
Rõ ràng cơ chế cấu tạo những cụm từ trên đây giống nhƣ cụm từ làm
tên gọi cho một số sự vật hiện tƣợng nhƣng tính thành ngữ của chúng thấp
hơn.

Trong tiếng Anh, cụm từ là một nhóm từ không có động từ chia và
không đầy đủ nghĩa, nó phải đi với động từ chia để hoàn thành một câu hoặc
một mệnh đề.

Ví dụ: He sat on the bus, carrying a dog.
Ông ta ngồi trên xe buýt ôm con chó.

tâm (yếu tố đầu) và những cái này thƣờng đƣợc liên quan tới những cụm từ
"nội tại/ nội tâm" (cũng nhƣ là những cụm từ cơ bản. Chúng có chức năng
ngữ pháp giống hệt nhau nhƣ là từ trung tâm hoặc từ đứng đầu:

Ví dụ: boys (những cậu bé)
The boys (những cậu bé)
The naughty boys (những cậu bé tinh nghịch)
Những cụm từ mà không thể phân tích bằng cách này thì đƣợc gọi là
cụm từ "nội tại".

Ví dụ: inside / the house
Bên trong căn nhà

Nhƣ đã đƣợc chú ý ở trên, từ trung tâm là một yếu tố chính của một
cụm từ. Nó là một sự cấu tạo từ vựng học theo yêu cầu trong một cụm từ.
Trong ngữ pháp hiện đại nó là trung tâm giúp nhận ra cụm từ của nó.

Theo cú pháp hiện đại, bất cứ một cụm từ nào cũng có thể là một hay
nhiều từ.

Trích đoạn Ứng dụng trong khi chuyển dịch thành ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt Ứng dụng trong giảng dạy
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status