Vai trò nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá Trường hợp tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 26


i
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 11
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN
CỨU VAI TRÕ NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC 11
1.1. Các khái niệm công cụ 11
1.1.1. Vị thế và vai trò 11
1.1.2. Giới 17
1.1.3. Quản lý Nhà nước 18
1.1.4. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá 24
1.2. Một số lý thuyết biến đổi xã hội và quan điểm về quản lý Nhà nƣớc 26
1.2.1. Lý thuyết biến đổi và phát triển kinh tế - xã hội 26
1.2.2. Quan điểm Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý Nhà nước 33
1.2.3. Quan điểm giới trong quản lý Nhà nước 41
1.3. Phƣơng pháp luận nghiên cứu 44
1.3.1 Nguyên tắc kết hợp của các cách tiếp cận lý thuyết xã hội học 45
1.3.2 Nguyên tắc kết hợp các cách tiếp cận thực nghiệm 46
1.3.3. Nguyên tắc kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực
nghiệm xã hội học 47
1.3.4. Nguyên tắc kết hợp tiếp cận vĩ mô và vi mô 47
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG VÀ XU HƢỚNG BIẾN ĐỔI VAI TRÕ NỮ
CÁN BỘ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ (trƣờng hợp tỉnh
Quảng Ngãi) 49



3.1.3. Đặc điểm cá nhân ảnh hưởng tới vai trò nữ cán bộ quản lý Nhà nước 149
3.2. Giải pháp nâng cao vai trò nữ cán bộ quản lý Nhà nƣớc 154
3.2.1.Ý nghĩa tích cực của việc nâng cao vai trò nữ cán bộ quản lý Nhà nước 154
3.2.2. Mô hình nâng cao vai trò cán bộ quản lý Nhà nước 156
3.2.3. Bảo đảm yêu cầu khả thi của giải pháp 167
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 173
1. Kết luận 173
1.1. Đặc điểm nữ cán bộ quản lý Nhà nƣớc 173
1.2. Đặc điểm thực trạng vai trò nữ cán bộ quản lý Nhà nƣớc 174
1.3. Đặc điểm xu hƣớng biến đổi vai trò nữ cán bộ quản lý Nhà nƣớc 175
1.4. Những định hƣớng chính sách mới nhằm nâng cao vai trò nữ cán bộ quản
lý Nhà nƣớc. 176
2. Khuyến nghị 177
2.1. Xây dựng một mô hình mới về nữ cán bộ quản lý Nhà nƣớc 177
2.2. Các yếu tố thể chế 178
TÀI LIỆU THAM KHẢO 179
PHỤ LỤC 1

P
P

ngày càng được khẳng định với nhiều thành tựu to lớn.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy vẫn còn những bất cập giữa ý
thức và hành động thực tế, khiến cho hiệu quả tham gia quản lý Nhà
nước của phụ nữ còn thấp. Đây là vấn đề cần được giải đáp cả về mặt lý
luận lẫn trong hoạt động thực tiễn.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu xã hội học về giới và phụ nữ, như về
vai trò của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng, lao động nữ, việc làm của
phụ nữ, sức khoẻ sinh sản, v.v Nhưng vấn đề vai trò của phụ nữ trong quản
lý Nhà nước thì còn ít được quan tâm nghiên cứu chuyên sâu. Trong khi đó,
từ hướng tiếp cận xã hội học về giới, có nhiều câu hỏi đáng được đầu tư
nghiên cứu sâu, như vì sao tỉ lệ phụ nữ tham gia vào Hội đồng nhân dân các
cấp, kể cả trong Quốc hội vẫn thấp so với chủ trương của Đảng và Chính phủ
và so với tiêu chuẩn quốc tế ? Hay vì sao nữ cán bộ quản lý Nhà nước phần
đông chỉ làm cấp phó, từ cơ sở xã, phường tới trung ương ? Phải chăng đây là
một biểu hiện của tình trạng bất bình đẳng giới trên thực tế trong lĩnh vực
quản lý Nhà nước. Những vấn đề quan trọng như thế chưa có công trình
nghiên cứu xã hội học nào quan tâm nghiên cứu giải đáp. Luận án: "Vai trò

2

nữ cán bộ quản lý Nhà nước trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá"
nhằm góp phần trả lời các câu hỏi nêu trên. Đồng thời luận án sẽ cố gắng đề
xuất một giải pháp nâng cao vai trò phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước nhằm
quán triệt nguyên tắc nam nữ bình quyền, bình đẳng, cho toàn bộ xã hội.
Tính cấp thiết về mặt lý luận và cả thực tiễn của đề tài luận án chính là
góp phần giải đáp vấn đề bất bình đẳng nam,nữ ngay trong hệ thống quản lý
Nhà nước ta, một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, định hướng xã hội chủ
nghĩa.
2. Mục đích, khách thể, đối tƣợng và nội dung, phạm vi nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu

chính, xét về thực chất và trên thực tế, nữ CBQL chưa thực sự phát
huy được tiềm năng đóng góp của mình vào chất lượng và hiệu quả
quản lý Nhà nước.
3.1.2. Xu hướng tăng cường vai trò nữ CBQL Nhà nước khá rõ, song còn
thiếu nhiều điều kiện để trở thành hiện thực phổ biến; trong đó đáng kể
nhất là những hạn chế của giới nữ và lực cản từ phía gia đình của họ.
3.1.3. Nâng cao chất lượng nữ CBQL Nhà nước là giải pháp mang tính quyết
định tăng vai trò của họ trong quản lý Nhà nước và trong cả đời sống
xã hội nói chung.

4

3.2. Sơ đồ tương quan giữa các biến
- Thúc đẩy tiến
bộ của giới
nữ.
- Góp phần
hoàn thiện hệ
thống quản lý
Nhà nước.
- Góp phần
phát triển
kinh tế - xã
hội.
- Đường lối,
luật pháp,
chính sách về
giới nữ.
- Cơ quan Nhà
nước.
- Gia đình, cộng
đồng, hiệp
hội.
- Đặc điểm cá
nhân, tuổi,
giới, trình độ.

- Vai trò của nữ cán bộ
quản lý Nhà nước trong hệ
thống Nhà nước.
+ Vai trò lãnh đạo
+ Vai trò tham mưu
+ Vai trò chấp hành

Sự xung đột giữa các vai trò: xem xét sự xung đột giữa các vai trò là
người CBQL, người công dân, người vợ, mẹ v.v (chú ý đến cách thức
giải quyết xung đột giữa các vai trò )
Nhóm biến độc lập (gồm 4 biến)
1. Đường lối, chính sách, luật pháp về giới nữ:
Xem xét nội dung, tính chất, mục đích của Hiến pháp, Pháp luật, các
Chỉ thị, Nghị quyết liên quan đến vấn đề giải phóng phụ nữ, quyền bình

6

đẳng nam, nữ, đổi mới và tăng cường vai trò của nữ cán bộ tham gia
quản lý Nhà nước.
Các chương trình, chính sách về giáo dục, y tế, chính sách xã hội, liên
quan đến cán bộ nữ quản lý Nhà nước.
2. Cơ quan quản lý Nhà nước:
Xem xét sự tác động của cơ quan, đặc biệt là, người thủ trưởng cơ quan có
ảnh hưởng như thế nào đến sự thăng tiến hay giảm sút của nữ CBQL
3. Gia đình, cộng đồng, hiệp hội:
Gia đình: Xác định cấu trúc gia đình, loại hình gia đình, năng lực kinh tế
gia đình tác động như thế nào tới vai trò nữ CBQL Nhà nước
Cộng đồng: Xem xét cộng đồng cư trú, truyền thống, trình độ hiện đại hoá
ảnh hưởng đến nữ CBQL Nhà nước.
Hiệp hội: Xem xét vai trò của Hội phụ nữ, Hội nghề nghiệp các
tổ chức đoàn thể tác động và ảnh hưởng đến công tác nữ cán bộ quản lý
Nhà nước.
4. Đặc điểm cá nhân:
Tuổi: Xác định độ tuổi trẻ, già, trung niên, ảnh hưởng như thế nào đến
sự thăng tiến hay giảm sút của nữ CBQL Nhà nước.
Giới: Xem xét mối tương quan so sánh vai trò giữa nam và nữ trong hệ
thống quản lý Nhà nước.


8

2. Góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý Nhà nước: xác định ở cả hai
cấp độ vĩ mô và vi mô (chú trọng cải cách thể chế, hệ thống pháp
luật, chính sách, các thủ tục hành chính Nhà nước) hoàn thiện hệ
thống quản lý Nhà nước từ cấp Nhà nước Trung ương đến cấp Nhà
nước địa phương, cơ sở).
3. Góp phần phát triển kinh tế - xã hội: xác định mức độ thúc đẩy hay kìm
hãm tiến bộ, văn minh, phát triển bền vững.
3.2.2. Trật tự xem xét các vấn đề
Sự tương tác giữa các nhóm biến biểu diễn bằng mũi tên liền nét biểu
thị sự tác động.
Trước hết xem xét biến phụ thuộc: Thực trạng và xu hướng biến đổi của nó.
Tiếp đến, xem xét tương tác giữa biến độc lập, biến phụ thuộc trong
khung cảnh của biến can thiệp.
Tiếp đến, xem xét hệ quả của biến phụ thuộc trong khung cảnh biến
can thiệp.
Cuối cùng, tổng hợp tương tác hệ thống các biến độc lập  biến phụ
thuộc  hệ quả trong khung cảnh của biến can thiệp.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Bao gồm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm xã
hội học.
4.1. Các cách tiếp cận lý thuyết xã hội học bao gồm, lý thuyết chức năng-cấu
trúc, lý thuyết xung đột, lý thuyết hành động, lý thuyết tiến hoá, lý thuyết
hệ thống, lý thuyết phát triển kinh tế- xã hội, lý thuyết giới, lý thuyết
quản lý Nhà nước.
4.2. Các cách tiếp cận thực nghiệm xã hội học bao gồm thu thập thông tin
định lượng (bảng hỏi) và định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập



Chương 3: 33 trang
Có 109 tài kiệu tham khảo. Phụ lục gồm 3 bảng( phiếu khảo sát, điều
tra, bảng mô tả khảo sát, bảng yêu cầu nội dung phỏng vấn sâu.)

11

P
P
H
H


N
NN
N


I
ID
D
U
U
N

nhân là cơ sở để xác định vị thế xã hội (còn gọi là địa vị xã hội) của họ" [18,
tr 271]. Vị thế còn là vị trí của một người đứng trong cơ cấu tổ chức theo sự
thẩm định đánh giá của tổ chức xã hội đó. Vị thế của người nữ CBQL là chỗ
đứng của họ trong cơ cấu quyền lực Nhà nước nhất định theo sự đánh giá của
tổ chức Nhà nước đó
Vị thế xã hội chỉ rõ thứ bậc của một người so với người khác, địa vị
của một người, một giai cấp trong cơ cấu xã hội v.v " Vị thế xã hội thường
được hiểu là "chỗ đứng" của con người trong không gian xã hội so sánh với
người khác"[41, tr 119].
Vị thế xã hội gắn với những trách nhiệm và quyền hạn kèm theo, nó
cho ta thấy vị trí xã hội cùng với quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng với vị trí

12

đó. Vị thế "là bất kỳ sự ổn định nào trong hệ thống xã hội với những kỳ vọng
quyền hạn và nghĩa vụ đặc thù" [108, tr 494]
Vị thế xã hội không chỉ được xác định một cách khách quan mà còn
theo ý nghĩa chủ quan Theo Hyman: "Địa vị được xác định trên cơ sở nhận
thức của cá nhân đối với vị trí của bản thân so với người khác, nhất là so với
đồng nghiệp, bạn bè, người láng giềng của cá nhân đó" [42, tr 164]. Đặc
trưng quan trọng của vị thế bao hàm sự xét đoán, ước lượng, phê phán bởi
người khác và cả sự tự ý thức của bản thân
Quyền lớn thì nghĩa vụ càng lớn và ngược lại, quyền và nghĩa vụ cao
thấp khác nhau của các vị trí sẽ tạo thứ bậc của chúng. "Vị thế xã hội là một
dạng biểu hiện địa vị con người được hình thành trong cơ cấu xã hội, phụ
thuộc vào sự thẩm định đánh giá của xã hội" [41, tr 35].
Vị thế xã hội còn là giá trị, mức độ đánh giá, uy tín của những người
trong xã hội bày tỏ đối với một cá nhân Thực tế trong xã hội, có người có
điều kiện để thăng tiến, ngược lại, có người gặp những hoàn cảnh, địa vị bất
lợi, có người hay gặp cơ may hay rủi ro v.v Vị thế tạo cho con người ta

nào được tạo ra bởi mong đợi của người hành động và những người khác"
[105,tr1682]. Như vậy, chỉ có thể định nghĩa vai trò bằng cách đối chiếu
nó với vị thế (địa vị).
Vị thế có liên quan tất yếu đến vai trò. Mỗi vai trò xã hội được xác định
bởi các vị thế xã hội và ngược lại. Ý nghĩa này thể hiện rõ trong quan điểm
của Ralph Linton (1936), ông đưa ra khái niệm vai trò khác khái niệm "đóng
vai" hay "tạo vai" của H.Mead. Theo ông, vai trò là những lối ứng xử đã được
qui định sẵn và áp đặt tương ứng với vị thế cụ thể. Mỗi vị thế (Status) đều có
"vai trò" (role), "chức năng" (Function) của nó trong xã hội. Linton chỉ rõ có
hai loại vị thế, một loại vị thế áp đặt (giới tính, dòng dõi ) và loại vị thế đạt

14

được do phụ thuộc vào nỗ lực cá nhân (nghề nghiệp ). Một cách tương ứng,
vai trò cũng có hai loại như thế.
Vai trò xã hội tập hợp như vai trò trên sân khấu, sự khác biệt là ở
chỗ trong vai trò xã hội "Cá nhân tự đóng vai mình". Vai trò chính là mặt
động của vị thế xã hội vì vị thế thuộc phạm trù cấu trúc, còn vai trò thuộc
phạm trù hành động
Vai trò xã hội được phân theo nhiều loại: Vai trò đơn giản, phức tạp,
chỉ định, lựa chọn v.v Tuỳ mức độ cao thấp của trong giá trị xã hội mà có
những vai trò cao, thấp khác nhau. Trong phức hợp vai trò của một người,
luôn nổi lên vai trò then chốt, vai trò then chốt này không cố định, bất biến
mà có thể thay đổi theo thời gian.
Vận dụng vào xem xét vai trò của nữ CBQL trong hệ thống quyền lực
Nhà nước, nói đến vị thế của nữ CBQL tức là nói đến ''chỗ đứng'' của họ
trong tương quan so sánh với nam giới. Còn nói đến vai trò tức là xem xét họ
đang làm gì, với lối cư xử của họ như thế nào để được mọi người chấp nhận.
* Sự di động vai trò
Di động xã hội có ý nghĩa trong việc phân tích sự di động vai trò của

hội, bất chấp quy tắc thống trị của địa vị, một số người thăng tiến (di động
lên) thay vào đó vị trí một số người khác bị suy giảm địa vị (di động xuống)
sẽ tạo nên sự cân bằng tương đối ổn định trong cơ cấu xã hội.
* Tương quan giữa vị thế và vai trò:
Khái niệm vị thế, vai trò nhiều lúc có sự nhầm lẫn hoặc đánh đổi. Sự
phân biệt giữa vai trò, vị thế trở nên rõ ràng hơn khi lưu ý rằng: vị thế là
một vị trí xã hội, là chỗ đứng của một người hay một nhóm người trong cơ

16

cấu xã hội, còn vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ và
quyền lợi của một người trên cơ sở vị thế của người đó. Theo
Stoetzel:"Nếu người ta lấy một cá nhân làm trung tâm nghiên cứu thì vị trí
của cá nhân ấy quyết định vai trò và địa vị của người đó: Địa vị là tổng
hợp những điều mà người đó có thể chờ đợi trong một xử sự của những
người khác. Vai trò là tổng hợp những điều mà những người khác có
quyền chờ đợi trong xử sự của cá nhân ấy" [42, tr 159].
Như vậy, vai trò và vị thế có mối tương tác lẫn nhau, luôn gắn bó
mật thiết với nhau. Ứng với một vị thế có thể có nhiều vai trò. Trong mối
quan hệ giữa vị thế và vai trò thì vị thế thường ổn định hơn, còn vai trò thì
động hơn và hay biến đổi. Sự biến đổi của vai trò phụ thuộc vào sự biến
đổi của vị thế, sự biến đổi này thể hiện qua mỗi giai đoạn cụ thể của từng
cá nhân và nhóm xã hội.
* Căng thẳng và Xung đột vai trò
Căng thẳng vai trò xảy ra khi cá nhân thấy rằng sự trông đợi của một
vai trò không thích hợp và họ khó khăn trong việc thực hiện vai trò đó (nhất là
những vai trò được nhiều người mong đợi) kỳ vọng quá nhiều vào vai trò mà
cá nhân đóng.
Xung đột vai trò xảy ra khi cá nhân cùng lúc chiếm giữ hai hay nhiều
địa vị và khi cá nhân tham gia nhiều nhóm xã hội khác nhau, họ phải đáp ứng

chúng ta học những đặc tính giới từ gia đình, xã hội và nền văn hoá.
"Giới" thể hiện các đặc trưng của những quan hệ văn hoá xã hội giữa
nam và nữ cho nên rất đa dạng. Quan hệ giới luôn luôn biến đổi cùng với xã
hội và các yếu tố xã hội như: chính trị, kinh tế, văn hoá, các phong tục, tập

18

quán v.v Các quan niệm, hành vi chuẩn mực xã hội là hoàn toàn có thể thay
đổi được. Quan niệm cho rằng các công việc "bếp núc" là "thiên chức" của
phụ nữ đã được xem xét lại và đang bị phê phán.
Trong một số gia đình do người vợ tham gia vào công việc quản lý,
lãnh đạo, điều hành xã hội, người chồng đã thế vai trò của vợ, đảm đương
công việc gia đình, nuôi dạy con cái
Song, thường người ta rất sai lầm khi lấy sự khác biệt về giới tính để
giải thích sự khác biệt về giới. Các quan niệm dựa trên những định kiến xã
hội được coi là thước đo chuẩn mực, hành vi và càng làm tăng khoảng cách
biệt giữa nữ giới và nam giới trong xã hội. Điều này thường thấy trong việc
lựa chọn, đề bạt hay đánh giá cán bộ nữ quản lý, lãnh đạo.
Nhận thức đúng đắn về giới, thay đổi các quan điểm về giới và hành vi
của các giới sẽ tạo ra bình đẳng cho cả hai giới tham gia tích cực vào các hoạt
động quản lý.
Phụ nữ ngày nay, ngoài chức năng tham gia vào sản xuất, làm kinh tế,
chăm sóc và nuôi dạy con cái trong gia đình họ còn phải thực hiện các chức
năng quan trọng khác liên quan đến vai trò xã hội rộng lớn hơn. Điều này cho
phép tách riêng phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước thành một nhóm lấy đặc
trưng giới để làm cơ sở phân tích. Cũng giống như bất cứ nhóm xã hội nào
khác, nhóm nữ CBQL Nhà nước có những đặc trưng xã hội, nhu cầu, lợi ích,
tâm lý và quan hệ đặc thù riêng v.v Khái niệm vai trò nữ CBQL Nhà nước
nhằm nhấn mạnh sự khác biệt về giới so với người CBQL là nam khi xem xét
phân tích vai trò của họ.

20

Trong đời sống thường ngày người ta thường dùng "quản lý", "lãnh
đạo", "cán bộ quản lý", "cán bộ lãnh đạo". Nhưng "quản lý", "lãnh đạo" là hai
khái niệm riêng biệt cần được phân biệt rõ.
Lãnh đạo là người đề ra chủ trương, đường lối, xác định phương pháp
hoạt động cho một tổ chức, một đơn vị. Còn quản lý là điều khiển, tổ chức
thực hiện công việc. Có làm rõ khái niệm mới có thể bố trí đúng cán bộ, lãnh
đạo thường giải quyết vấn đề có tính tổng thể hơn và ngược lại quản lý
thường giải quyết vấn đề có tính cụ thể hơn. Vị trí là cương vị của người lãnh
đạo, người quản lý. Người có vị trí là người có vai trò trong một tổ chức, biết
đúng vị trí mình và biết hoạt động trong phạm vi vị trí của mình. Vị trí của
cán bộ Đảng thường thể hiện vai trò lãnh đạo, còn vị trí cán bộ Nhà nước
thường thể hiện ở vai trò quản lý.
Rõ ràng, quản lý và lãnh đạo là hai chức năng riêng biệt. Ví dụ trong
cơ chế. "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ", thì chức
năng lãnh đạo tổng quát của Đảng là định ra đường lối, chủ trương lãnh
đạo tổ chức, thực hiện đường lối, chủ trương thông qua hệ thống chính trị
nói chung và Nhà nước nói riêng. Còn chức năng quản lý của Nhà nước là
đề ra các đạo luật chính sách thuộc phạm vi Nhà nước theo tinh thần các
nghị quyết của Đảng, đồng thời tổ chức thực hiện có hiệu quả về kinh tế,
văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại theo đường lối, chủ
trương của Đảng.
Quản lý và lãnh đạo tuy là hai chức năng riêng biệt, nhưng có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau và không tách rời nhau. Quản lý mà không đúng mục
tiêu, phương hướng của lãnh đạo đề ra sẽ dẫn đến rối loạn xã hội: Ngược lại,
thiếu sự quản lý một cách khoa học, có hiệu lực từ mục đích do lãnh đạo vạch
ra không trở thành hiện thực.

21

ngành, của đời sống xã hội:
Là hoạt động được đảm bảo về phương diện tổ chức bộ máy (cơ quan
hành chính). Đây là hệ thống nhiều về số lượng cơ quan và số lượng biên chế,
phức tạp về cơ cấu tổ chức và rất đa dạng về chức năng, nhiệm vụ cũng như
hình thức, phương pháp hoạt động.
Mang tính chất chính trị, dân chủ (đại diện và trực tiếp), đảo bảm tính
khoa học v.v
Một định nghĩa tổng quát hơn "Quản lý Nhà nước là sự tác động của
chủ thể mang quyền lực Nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng
quản lý nhằm thực hiện các chức năng Nhà nước" [62, tr 152].
* Quản lý Nhà nước khác với quản lý xã hội
Quản lý xã hội là quá trình quản lý con người, đối tượng của nó là các
nhóm, các tổ chức, các cộng đồng xã hội đa dạng với tất cả các ngành lĩnh
vực phong phú của nó. Nói cách khác, quản lý xã hội là quá trình quản lý các
hiện tượng và các hành vi xã hội mà chủ thể của nó là con người.
* Quản lý Nhà nước khác với quản lý thị trường và xã hội dân sự
'' Bất cứ một xã hội nào cũng có ba hệ thống thể chế Nhà nước, thị
trường và xã hội dân sự hoạt động theo ba kiểu lợi ích khác nhau, ba kiểu thoả
thuận hay hợp tác khác nhau''[85, tr 140]. Đặc điểm của ba hệ thống ấy:
Một là, trong quản lý Nhà nước (hành chính), quan hệ chính trị chiếm
vị trí ưu trội và quá trình kiểm soát từ trên xuống, do các viên chức lãnh đạo
thực hiện bằng đường lối, chính sách và pháp luật.
Hai là, trong quản lý thị trường, quan hệ thị trường và kinh tế chiếm vị
trí ưu trội, chịu sự kiểm soát của cá nhân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status