ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***********
TRẦN THỊ THANH MAI
NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ, ĐỖ HOÀNG DIỆU
VÀ PHAN THỊ VÀNG ANH LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Hà Nội – 2011
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***********
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4. Phương pháp nghiên cứu 9
5. Cấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1. TRUYỆN NGẮN NỮ ĐƯƠNG ĐẠI VÀ SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN NGỌC TƯ, ĐỖ HOÀNG DIỆU, PHAN THỊ VÀNG ANH 10
1.1. Truyện ngắn và sự phát triển thể loại 10
1.2. Diện mạo truyện ngắn 1975 đến nay 13
1.3. Truyện ngắn của các cây bút nữ đương đại 16
1.4. Truyện ngắn của ba cây bút nữ: Nguyễn Ngọc Tư , Phan Thị Vàng Anh
và Đỗ Hoàng Diệu 23
CHƯƠNG 2: LOẠI HÌNH NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN
NGẮN CỦA BA TÁC GIẢ 28
2.1. Khái niệm nhân vật văn học và tầm quan trọng của nhân vật trong tác
phẩm văn học 28
2.2. Khái lược về nhân vật người phụ nữ trong văn học Việt Nam, văn học
đương đại và sáng tác của ba tác giả 31
2.3. Loại hình nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn của ba tác giả 36
2.3.1. Những nét tương đồng trong việc khắc họa nhân vật người phụ nữ
của ba tác giả 36
2.3.1.1. Nhân vật người phụ nữ có số phận bất hạnh 37
2.3.1.2. Nhân vật người phụ nữ luôn khao khát tình yêu, hạnh phúc 53
2.3.2. Những nét riêng trong việc khắc họa nhân vật người phụ nữ của ba
tác giả 62
3
2.3.2.1. Nhân vật người phụ nữ hiền lành, chịu thương chịu khó, mang đậm
nét tính cách của con người Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư .62
2.3.2.2. Nhân vật người phụ nữ mới lớn, trẻ trung nhưng nông nổi, bồng bột
trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 71
2.3.2.3. Nhân vật người phụ nữ mạnh mẽ, quyết liệt đầy táo bạo trong
ảnh người phụ nữ. Nhân vật người phụ nữ trong sáng tác của ba nhà
văn vừa mang những nét chung nhưng cũng mang những nét rất
riêng, độc đáo, cá tính và đầy bản lĩnh. Chính yếu tố này đã tạo nên
sự khác biệt về nhân vật người phụ nữ trong sáng tác của ba cây bút
nữ so với các tác giả trước đây, góp phần tái hiện chân dung người
phụ nữ thời đại mới trong dòng chảy của văn học đương đại.
2. Lịch sử vấn đề
Trong ba nữ tác giả trên, khối lượng bài viết và công trình về
tác giả Nguyễn Ngọc Tư chiếm số lượng lớn nhất. Đó là trang web:
http://www.viet-studies.info tổng hợp rất nhiều bài viết về tác giả, tác
phẩm của Nguyễn Ngọc Tư mà độc giả Trần Hữu Dũng đã lập ra. Có
khá nhiều bài viết về tác giả Nguyễn Ngọc Tư trên cả phương diện
nội dung lẫn nghệ thuật như: Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam
(Trần Hữu Dũng), Cái rầu bất tận của Nguyễn Ngọc Tư (Kiệt Tấn),
Lời đề từ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Phạm Phú
Phong),…Bên cạnh đó, cũng có khá nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận
văn tìm hiểu về Nguyễn Ngọc Tư. Có thể điểm qua như: Khám phá
thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Vũ Thị Thu Hà -
khóa luận tốt nghiệp 2006), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư dưới góc
nhìn văn hóa (Nguyễn Thị Lan Hương - khóa luận tốt nghiệp) hay
Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư
và Đỗ Hoàng Diệu (Lê Thị Tuyết - Luận văn thạc sỹ - 2010),…
Bước vào làng văn với tập truyện Khi người ta trẻ (1993),
Phan Thị Vàng Anh đã tạo ra cho mình một phong cách riêng được
2
rất nhiều bạn đọc trẻ mến mộ. Viết về Phan Thị Vàng Anh có khá
nhiều các bài báo, bài viết như: Phan Thị Vàng Anh - cây bút đa năng
(Sinh viên Việt Nam) hay nhà phê bình Huỳnh Như Phương cũng có
những nhận xét rất chính xác, tinh tế về cây bút trẻ này: "Vàng Anh
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Mục đích: tìm kiếm, phát hiện những nét tương đồng và khác
biệt trong cách nhìn và thể hiện hình ảnh người phụ nữ của ba cây
bút trẻ. Qua đây khẳng định đóng góp của văn học đương đại Việt
Nam trong dòng chảy của văn học dân tộc.
Đối tượng nghiên cứu là hình ảnh người phụ nữ trong sáng
tác của ba cây bút nữ: Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu và Phan Thị
Vàng Anh. Từ đó, khái quát lên bức chân dung về người phụ nữ
trong văn học đương đại Việt Nam.
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chủ yếu đi sâu
khảo sát nhân vật người phụ nữ trong các tác phẩm tiêu biểu của ba
cây bút trẻ. Đó là: Nguyễn Thị Ngọc Tư với các tập truyện: Ngọn
đèn không tắt (2000), Biển người mênh mông (2003), Giao thừa
(2003), Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
(2005), Cánh đồng bất tận (2005), Gió lẻ (2008).
Phan Thị Vàng Anh với tập truyện: Khi người ta trẻ (1993),
Ở nhà (1994), Hội chợ (1995).
Đỗ Hoàng Diệu với tập: Bóng đè (2005) và một số truyện
ngắn như: Tình chuột, Những sợi tóc màu tang lễ, Cô gái điếm và
năm người đàn ông, Ngày bất tận.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như:
phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê, phương pháp tổng hợp. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số
phương pháp khác góp phần bổ trợ và đa dạng hóa các phương pháp
4
nghiên cứu với nhiều góc độ: phương pháp cấu trúc, phương pháp
tiếp cận Thi pháp học.
mình, truyện ngắn dần trở thành thể loại quen thuộc được nhiều nhà
văn lựa chọn từ khi ra đời cho đến nay.
Nói về nguồn gốc truyện ngắn, trong cuốn Truyện ngắn,
những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, tác giả Bùi Việt Thắng
đã đề cập một cách khá đầy đủ. Theo tác giả "Ở Châu Âu, sự ra đời
của truyện ngắn với tư cách một thể loại văn học độc lập gắn liền với
thời kì phục Hưng, khi nhu cầu giải phóng tinh thần cá nhân trở
thành một cuộc cách mạng xã hội". Ở phương Đông, hình thức ban
sơ của truyện ngắn là thể truyền kì - một thứ "truyện thần thoại có
tác giả". Truyền kì bắt đầu xuất hiện từ đời Đường (thế kỉ IX) ở
Trung Quốc còn ở Việt Nam thể loại này bắt dầu xuất hiện với tác
phẩm Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ). Đặc biệt, xu hướng truyện
ngắn mang dung lượng tiểu thuyết trở thành một nét khá độc đáo, tạo
nên diện mạo mới cho nền văn học: Số phận con người (Sôlôkhôp),
Thảo nguyên (Sekhôp), AQ chính truyện (Lỗ Tấn), Chí Phèo
(Nam Cao), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Tướng về hưu
(Nguyễn Huy Thiệp) hay Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu),
Từ khi ra đời cho đến nay, truyện ngắn vẫn luôn tồn tại và
chứng tỏ sức sống lâu bền của nó. Sự ra đời của hàng loạt tuyển tập
truyện ngắn cùng với những cuộc thi viết truyện ngắn liên tiếp xuất
hiện trên tạp chí Văn nghệ quân đội, Văn nghệ trẻ, tạp chí Sông
Hương đã thể hiện sức sống của thể loại này. Bạn đọc ngày nay
không quay lưng lại với truyện ngắn. Họ vẫn dõi theo, nồng nhiệt
hưởng ứng và đón đợi các tác phẩm mới. Có những tập truyện ngắn
ngay từ khi mới ra đời đã tạo nên sức hút đối với đông đảo bạn đọc
và trở thành hiện tượng như: Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu), Cánh đồng
bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Nói như vậy, đủ thấy được tầm quan
6
trọng và sức ảnh hưởng của truyện ngắn đối với văn học đương đại
nguồn cho sự ra đời của dòng văn học nữ quyền. Sự ảnh hưởng của
dòng văn học nữ quyền trong truyện ngắn 1975 đến nay là một trong
những bước đi tiến bộ, thể hiện sự nhanh nhạy trong việc bắt kịp
những xu hướng vận động của văn học thế giới trong thời đại mới.
1.4. Truyện ngắn của ba cây bút nữ: Nguyễn Ngọc Tư , Phan Thị
Vàng Anh và Đỗ Hoàng Diệu
Nguyễn Ngọc Tư - một giọng văn miền Nam với phong cách
dịu dàng, đằm thắm không ồn ào lên gân mà đi sâu phân tích tâm lí
con người một cách nhẹ nhàng, sắc sảo, tinh tế. Nguyễn Ngọc Tư
tham gia văn đàn với tập truyện: Ngọn đèn không tắt (2000) và
giành giải Nhất trong cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II.
Tiếp theo đó là một loạt tập truyện ngắn khác: Ông ngoại (2001),
Biển người mênh mông (2003), Nước chảy mây trôi (2004). Đặc
biệt đến năm 2006, tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận được giải
thưởng Hội nhà văn Việt Nam. Với tác phẩm này, tên tuổi của
Nguyễn Ngọc Tư được đông đảo bạn đọc biết đến và bắt đầu hình
thành nên một phong cách truyện ngắn in đậm dấu ấn miền Nam:
Nguyễn Ngọc Tư.
Phan Thị Vàng Anh sinh năm 1968 tại Hà Nội, là con gái
nhà thơ Chế Lan Viên và nhà văn Vũ Thị Trường. Tốt nghiệp Đại
học Y Khoa thành phố Hồ Chí Minh năm 1993, Phan Thị Vàng Anh
chạm ngõ với văn chương bằng tập truyện ngắn Khi người ta trẻ.
Ngay sau đó, tập truyện này đã được tặng thưởng của Hội nhà văn
Việt Nam năm 1994. Đọc văn của Phan Thị Vàng Anh ta thấy có sự
pha trộn của nhiều giọng điệu: lúc rất hùng hồn đạo mạo nhưng lúc
lại rất đỗi bóng bẩy, nhí nhảnh - một thứ văn chương luôn ở trạng
thái chuyển động.
Đỗ Hoàng Diệu lại mang đến một giọng văn táo bạo, sắc sảo.
Đỗ Hoàng Diệu viết nhiều về phụ nữ với dục tính, nhưng quan trọng
9
khác nhau để biểu hiện con người: nhân vật Dế mèn, võ sỹ Bọ ngựa
trong truyện Dế mèn phiêu lưu kí của nhà văn Tô Hoài,
Bước vào thế giới nhân vật, chúng ta bắt gặp khá nhiều loại
hình đa dạng, phong phú. Có nhân vật chính, nhân vật trung tâm,
nhân vật phụ, nhân vật phản diện, Ngoài ra, còn có một số dạng
nhân vật khác như: nhân vật chức năng có tác dụng thực hiện một sứ
mệnh nào đó: ông Bụt (Tấm Cám), mụ phù thủy (Nàng Bạch Tuyết
và bảy chú lùn), hay kiểu loại nhân vật tư tưởng thường được nhà
văn sáng tạo để minh họa cho quan điểm tư tưởng của mình hoặc thể
hiện một tư tưởng nào đó của thời đại: Giave (Những người khốn
khổ),… Đặc biệt, có nhiều tác giả đã xây dựng thành công nhân vật
điển hình với tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình: AQ (AQ
chính truyện - Lỗ Tấn), Chí Phèo (Chí Phèo - Nam Cao),
Và một điều chắc chắn chúng ta có thể khẳng định, đó là:
nhân vật đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Bởi lẽ "nhân vật là công
cụ cho nên việc tìm ra nhân vật mới bao giờ cũng là chìa khóa để mở
rộng các mảng đề tài mới".
2.2. Khái lược về nhân vật người phụ nữ trong văn học Việt
Nam, văn học đương đại và sáng tác của ba tác giả
Viết về người phụ nữ là mạch nguồn bất tận trong các sáng
tác thơ văn từ xưa cho tới nay. Ngay từ văn học dân gian, chúng ta đã
bắt gặp những câu ca dao, dân ca ca ngợi vẻ đẹp cô thiếu nữ: "Trúc
xinh trúc mọc đầu đình/ Em xinh em đứng một mình cũng xinh". Đến
với văn học trung đại, hình ảnh người phụ nữ vẫn tiếp tục được miêu
tả với tư tưởng chủ đạo "hồng nhan bạc mệnh". Đó là nàng Vũ
Nương trong truyện Người con gái Nam Xương, người cung nữ
trong Cung oán ngâm khúc, hay người thiếu phụ trong Chinh phụ
ngâm, Thúy Kiều (Truyện Kiều ),… Bước sang thế kỉ XX, văn học
2.3.1. 1. Nhân vật người phụ nữ có số phận bất hạnh
11
Nguyễn Du đã từng nói: "Đau đớn thay phận đàn bà. Lời
rằng bạc mệnh cũng là lời chung". Dường như, số phận bất hạnh
thường gắn liền với người phụ nữ. Từ văn học dân gian đến văn học
trung đại và văn học hiện đại, hình ảnh người phụ nữ hiện lên với với
số phận éo le, ngang trái: Vũ Nương (Truyền kì mạn lục – Nguyễn
Dữ), Thúy Kiều (Truyện Kiều – Nguyễn Du), chị Dậu (Tắt đèn –
Ngô Tất Tố),… Các tác giả trong dòng văn học đương đại cũng thể
hiện sự đồng cảm của mình đối với bi kịch của người phụ nữ trong
cuộc sống: Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, I am đàn bà (Y Ban), Hậu thiên
đường, Phù thủy (Nguyễn Thị Thu Huệ), Bàn tay lạnh (Võ Thị
Hảo),
Nguyễn Ngọc Tư với tấm lòng nhân hậu đã khắc họa bi kịch
của người phụ nữ với sự đồng cảm chân thành, sâu sắc. Nhiều lắm
trong những trang văn của chị là số phận của những đứa trẻ chịu
nhiều bất hạnh: Điệp (Chuyện của Điệp), San (Bởi yêu thương),
Nương (Cánh đồng bất tận), … Nguyễn Ngọc Tư thường miêu tả về
cuộc đời của những cô đào yêu nghề, đam mê với nghề nhưng phải
gánh chịu bi kịch của nhan sắc tàn phai: cô đào Điệp (Bởi yêu
thương), đào Hồng (Cuối mùa nhan sắc). Nhân vật người phụ nữ
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thường là những người phụ nữ
mang một mối tình đơn phương: nhân vật Tôi (Một mối tình), chị
Hảo (Hiu hiu gió bấc), là những người phụ nữ cả tin đến khờ dại:
San (Ngày đùa), thậm chí là thân phận của những cô gái điếm trên
những Cánh đồng bất tận,… Tất cả đã tạo nên một bức tranh muôn
màu, muôn vẻ về thân phận người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư.
Tiếp tục mạch cảm xúc về những người phụ nữ, Phan Thị
hạnh phúc. Khát khao hạnh phúc và đấu tranh cho hạnh phúc chính là
một trong những biểu hiện rõ ràng của tính nữ quyền trong truyện
ngắn của các cây bút nữ.
13
Cuối cùng, sau bao vất vả của cuộc sống mưu sinh, vào đúng
khoảnh khắc giao thừa, Đậm đã tìm thấy cho mình một tình yêu đích
thực (Giao thừa). Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư luôn ôm ấp trong
mình một mối tình đơn phương, khát khao có được hạnh phúc với
người mình yêu và sẵn sàng chờ đợi: chị Hảo (Hiu hiu gió bấc), Tôi
(Một mối tình),… Đặc biệt, trong Cánh đồng bất tận, nhân vật gái
điếm Sương, dù trải qua cuộc đời với thân phận làm đĩ nhưng Sương
vẫn khát khao một hạnh phúc. Chị đã ở lại ghe thuyền của ba bố con
bởi tình cảm chân thành của những đứa trẻ và cũng bởi thẳm sâu
trong tâm hồn, chị mong muốn được bình yên sau bao sóng gió cuộc
đời. Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa người phụ nữ với những thân
phận và hoàn cảnh khác nhau, nhưng điểm chung ở họ vẫn là một
ước muốn, khát khao về hạnh phúc.
Đến với Phan Thị Vàng Anh là đến với thế giới của những cô
gái trẻ với khao khát về tình yêu. Đó là ước mơ về tình yêu của cô bé
con trong Truyện trẻ con, là câu chuyện tình yêu của người cô trong
Khi người ta trẻ, là những rung động ngây thơ của cô gái trong Si
tình. Các nhân vật trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh thường cả
tin đến ngây thơ: đó là sự chờ đợi lá thư trong vô vọng của cô gái
trong Mười ngày, là mối tình đầu đau khổ của cô gái trong
Yêu,…Truyện của Vàng Anh thường rất ngắn gọn, giản dị, không
màu mè, đem đến cho người đọc thế giới phong phú của những
người trẻ, đã yêu, đang yêu và mơ ước về tình yêu.
Đỗ Hoàng Diệu lại có cách thể hiện về tình yêu theo một
cách rất riêng. Nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn của chị hiện
đâu có dễ),…Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Tư còn khắc họa hình ảnh
những con người giàu lòng yêu quê hương, mang nặng nghĩa tình với
mảnh đất Nam Bộ: Tươi (Ngọn đèn không tắt), Giang (Dòng nhớ).
Tấm lòng chân thành, nhân hậu của người miền Nam cũng được
Nguyễn Ngọc Tư khắc họa đầy đủ, sâu sắc: Điệp (Làm má đâu có
15
dễ), dì Diệu (Làm mẹ), Diệp (Nước chảy mây trôi), Nương (Cánh
đồng bất tận),… Họ thường hi sinh, nhường nhịn trong tình yêu như
các nhân vật trong truyện: Nhà cổ, Một mối tình, Chiều vắng, Nửa
mùa, Bến đò xóm Miễu, Nhớ sông, Duyên phận so le, Cánh đồng
bất tận,
2.3.2.2. Nhân vật người phụ nữ mới lớn, trẻ trung nhưng nông nổi,
bồng bột trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh
Nếu hiện diện trong những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư
là hình ảnh người phụ nữ thôn quê đằm thắm, nhân hậu thì Phan Thị
Vàng Anh lại mang đến nét mới khi người phụ nữ trong truyện ngắn
của chị đa phần là những cô gái trẻ, sống ở thành thị với niềm yêu và
khát khao hạnh phúc khi bước vào ngưỡng cửa cuộc sống. Thế giới
của nhân vật trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh là thế giới của
tuổi trẻ, của giảng đường với những cô gái mới lớn đang bước vào độ
tuổi yêu đương. Vì thế, suy nghĩ về tình yêu, cuộc sống của họ vẫn
còn non nớt và thơ ngây. Đó là cô bé trong Phục thiện với quyết tâm
sửa đổi sau khi bị lưu Đoàn, là chuyện tình yêu mang màu sắc lãng
mạn tiểu thuyết của cô bé trong Truyện trẻ con hay tình yêu đến mức
mù quáng của nhân vật cô trong Khi người ta trẻ, thậm chí cho đến
lúc cuối cùng mới nhận ra được sự thật về tình yêu của mình của cô
bé trong truyện Si tình,… Hình ảnh nhân vật phụ nữ trong truyện
ngắn Phan Thị Vàng Anh rất gần với những cô gái mới lớn, và vì thế,
người ta mới cho rằng, văn chương của chị là một thứ văn rất trẻ.
sống con người Nam Bộ: áo bà ba, bông súng, dây thun, cây mắm,…
Những danh từ chỉ nghề nghiệp quen thuộc của những người nông
dân miền Nam Bộ cũng xuất hiện trong truyện ngắn của chị: nghề
nuôi vịt chạy đồng, nghề gặt mướn, nghề cầm ca, các cô đào Hồng,
Đào Chín,… Ngay đến cái tên của nhân vật cũng không thể trộn lẫn:
Hai Nhớ, Hai Tương, Tư Lai, Năm Nhỏ, Út Vũ,… Bên cạnh đó,
Nguyễn Ngọc Tư còn sử dụng rất nhiều các nghĩa khí từ như: hôn,
17
hen, bộ, hổng, nè,… Cách nói, cách diễn đạt trong văn Nguyễn Ngọc
Tư mang những nét rất đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ như: té ra,
mắc cười, trời đất quỷ thần ơi,…Chính điều này đã tạo nên chất văn
đậm màu sắc Nam Bộ, tạo nên cá tính Nguyễn Ngọc Tư trong dòng
chảy của văn học đương đại.
3.1.1.2. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm
Ngôn ngữ trong truyện ngắn của các tác giả nữ là thứ ngôn
ngữ độc thoại nội tâm. Hầu hết, các nhà văn đều dùng ngôn ngữ của
nhân vật Tôi khi kể về câu chuyện của cuộc đời mình, những tình
huống xảy ra với mình: Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư. Đỗ
Hoàng Diệu cũng thường để các nhân vật của mình trong những độc
thoại nội tâm dài bất tận. Khảo sát trong tập truyện ngắn Bóng đè, có
5/8 truyện ngắn của chị sử dụng ngôi xưng nhân vật Tôi để kể lại câu
chuyện. Và ngôn ngữ độc thoại nội tâm đã trở thành nét chung trong
sáng tác của ba cây bút nữ.
3.1.2. Giọng điệu
3.1.2.1. Giọng trữ tình, đằm thắm, sâu lắng
Ta thấy xuyên suốt trong những trang văn của Nguyễn Ngọc
Tư là giọng trữ tình, đằm thắm và sâu lắng: Huệ lấy chồng, Dòng
nhớ, Cánh đồng bất tận,…Không khó để tìm ra những câu văn miêu
tả cảnh sông nước mang màu sắc lãng mạn: "Cánh đồng không có
thiện) hay triết lý về cuộc đời:"Ở cái tuổi này người ta điên đến mức
nào, ngông cuồng đến mức nào và cần có bạn bè an ủi biết bao nhiêu,
người ta lại thích trả thù nữa chứ" (Khi người ta trẻ),…Đỗ Hoàng
Diệu lại chọn cho mình triết lý của những người đàn bà về cuộc sống,
về tình yêu: "Đàn ông như anh, như phần đông đàn ông Việt Nam
không biết đánh vần từ Chung Thủy trôi chảy" (Vu quy).
3.2. Nghệ thuật xây dựng tình huống
3.2.1. Tình huống mang tính bi kịch
19
Một điều thường thấy trong những trang viết của Nguyễn
Ngọc Tư là tác giả để cho nhân vật của mình rơi vào trong những
cuộc tình tay ba hay tình yêu đơn phương. Tình yêu cứ như một cuộc
rượt bắt đối với các nhân vật trong truyện: Hiu hiu gió bấc, Dòng
nhớ, ….Đặc biệt, trong Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã rất
bạo tay khi dựng nên tình huống bi kịch của tình yêu - lòng thù hận.
Tình yêu chết đi đã hóa thành lòng thù hận của người cha đối với đàn
bà và ngay cả đối với những đứa con. Các tác giả Phan Thị Vàng
Anh hay Đỗ Hoàng Diệu cũng tìm cho mình những tình huống mang
tính bi kịch. Đó là bi kịch tình yêu của cô gái trẻ si tình trong Khi
người ta trẻ, bi kịch cha con trong Kịch câm,…Đỗ Hoàng Diệu lại
đặt nhân vật của mình trong những tình huống bi kịch thật lạ: đó là bi
kịch của cô gái bị hãm hiếp ngay tại nhà chồng bởi bóng ma trên bàn
thờ tổ tiên trong Bóng đè. Đó còn là bi kịch của cô gái trẻ phải lấy
một xác ướp làm chồng trong Vu quy,…
3.2.2. Tình huống tâm trạng
Tình huống tâm trạng là dạng tình huống đi sâu vào miêu tả
những tâm lí, diễn biến nội tâm sâu sắc của các nhân vật. Đó có thể là
tâm trạng nhớ sông - nhớ chiếc ghe nhỏ của cô bé khi về nhà chồng
của Giang (Nhớ sông) hoặc dòng tâm trạng của dì Diệu với nỗi khao
nhân vật để từ đó khắc họa tính cách và số phận của họ. Nguyễn
Ngọc Tư và Phan Thị Vàng Anh thường miêu tả khuôn mặt, hình
dáng của nhân vật: hình dáng bé nhỏ của Điệp trong Làm má đâu có
dễ, nhan sắc phai tàn với mái tóc xác xơ của các cô đào trong: Cuối
mùa nhan sắc, Bởi yêu thương,…hay đôi môi khô nứt nẻ của người
đàn bà đánh ghen trong Cánh đồng bất tận,…Phan Thị Vàng Anh
thường miêu tả ngoại hình để thấy được tính cách, tâm trạng của
nhân vật. Đó là ánh mắt, nụ cười của người cô trong truyện ngắn Khi
người ta trẻ, là bức chân dung về người con gái tên Thương trong
21
truyện ngắn Thương. Đỗ Hoàng Diệu lại chú trọng đến những chi
tiết nhỏ như: bàn tay ở truyện Bóng đè. Một chi tiết mà Đỗ Hoàng
Diệu cũng rất hay miêu tả trong truyện ngắn của mình là vòm ngực
đầy của người thiếu nữ trong các truyện: Vu quy, Hoa máu,…
3.3.2. Miêu tả hành động
Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là người phụ
nữ với những hành động của cuộc sống đời thường. Đặc biệt hơn, đó
là hành động gắn bó với cuộc sống sông nước: chèo thuyền, cho vịt
ăn, đi chợ,… Cũng có thể đó là những vai diễn của các cô đào trên
sân khấu với tình yêu, niềm nhiệt huyết, đam mê đến cháy bỏng.
Nguyễn Ngọc Tư thường đặt nhân vật của mình vào trong những tình
huống éo le và hành động của nhân vật trong những tình huống đó
thật cao cả, mang đậm tính chất nhân văn: Chuyện của Điệp, Làm
mẹ, Dòng nhớ,…Phan Thị Vàng Anh thường miêu tả những hành
động nông nổi, trẻ con của các nhân vật: hành động tự tử của nhân
vật cô trong truyện ngắn Khi người ta trẻ hay hành động gửi thư
trong sự cả tin đến ngây thơ, sự chờ đợi đến mỏi mòn của cô gái trẻ
trong Mười ngày. Đỗ Hoàng Diệu lại đặt nhân vật của mình trong
những hành động mang tính bản năng. Đó chính là những khao khát