1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ QUYÊN
NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN
THẠCH LAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
HÀ NỘI, 2013 3
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài 2
2. Lịch sử vấn đề 3
2.1. Những bài báo, công trình nghiên cứu về Thạch Lam
Nói chung 2
2.2. Những bài viết nghiên cứu về ngƣời phụ nữ trong văn
Xuôi Thạch Lam 4
3. Đối tƣợng, phạm vị, mục đích nghiên cứu 7
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 7
5. Cấu trúc luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1 : Nhân vật ngƣời phụ nữ và truyện ngắn Thạch Lam
trong bối cảnh văn xuôi 1930 - 1945 10
1.1 Nhân vật ngƣời phụ nữ trong văn xuôi giai đoạn
1930 – 1945 10
1.2 Hành trình sáng tác của Thạch Lam 21
1.2.1 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác 21
1.2.2 Nhân vật ngƣời phụ nữ trong truyện ngắn
Thạch Lam 30
Chƣơng 2. Đời sống và thân phận ngƣời phụ nữ trong truyện ngắn
Thạch Lam 39
3.3.2 Thời gian nghệ thuật 109
3.3.2.1 Thời gian quá khứ 111
3.3.2.2 Thời gian hiện tại 113
PHẦN KẾT LUẬN 116
DANH MỰC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thạch Lam là một nhà văn có vị trí đáng kể trong văn học Việt Nam
giai đoạn 1932 – 1945 và đƣợc coi là một cây bút truyện ngắn đặc sắc. Với ba
tập truyện ngắn, một cuốn tiểu thuyết, một tập bút kí, một tập bình luận văn
chƣơng, ông đã để lại dấu dấn đậm nét. Tên tuổi Thạch Lam gắn với Tự Lực
văn đoàn. Tác phẩm của Thạch Lam giàu chất nhân văn và đậm đà tính dân
tộc. Với thời gian, những trang văn của Thạch Lam vẫn là ngƣời bạn tinh thần
của nhiều thế hệ ngƣời đọc, vẫn giữ đƣợc vẻ đẹp và ý nghĩa riêng.
Nhiều thiên truyện ngắn của Thạch Lam cho đến nay và có lẽ mãi mãi
về sau vẫn làm ta xúc động, khi mà trên đời này vẫn còn những xót xa,
thƣơng cảm cho số phận con ngƣời. Giống nhƣ nhiều tác phẩm của các thế hệ
đi trƣớc, hình ảnh ngƣời phụ nữ Việt Nam trong những trang văn Thạch Lam
nhƣ đi sâu vào tâm khảm độc giả, nhƣ nhắc nhở ta luôn nhớ đến hình ảnh của
một thời, một kiếp ngƣời từng tồn tại.
Trong văn học Nhà trƣờng, Thạch Lam và tác phẩm của ông có một vị
trí quan trọng. Tác phẩm của ông đƣợc đƣa vào trong chƣơng trình giảng dạy
quát, có thể thấy các tài liệu nghiên cứu về Thạch Lam xoay quanh hai nội
dung lớn.
2.1. Những bài báo, công trình nghiên cứu về Thạch Lam nói chung:
Trƣớc hết là những tài liệu nghiên cứu về thành tựu của Văn học Việt
Nam thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong
những tài liệu này, các chuyên gia nghiên cứu về Văn học Việt Nam hiện đại
đã đƣa ra những nhận định về giá trị văn chƣơng Thạch Lam và khẳng định
đóng góp của ông vào thành tựu chung của công cuộc hiện đại hóa Văn học
nƣớc nhà. Nhằm mục đích làm rõ những đánh giá khái quát về thời kì Văn 7
học, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại năm 1942 đã khảo
sát Thạch Lam với tƣ cách một nhà văn cùng thế hệ, đó là lần đầu tiên sự
nghiệp văn chƣơng của Thạch Lam đƣợc đánh giá một cách tổng thể nhất.
Tuy nhiên, nhiều nhận xét của ông đƣa ra không còn phù hợp với quan điểm
của đánh giá hiện nay về Thạch Lam.
Tiếp theo là các công trình nghiên cứu khác nhƣ Thạch Lam của
Nguyễn Tuân, Thạch Lam của Phạm Thế Ngũ, Văn học lãng mạn Việt Nam
(1932-1945) của Phan Cự Đệ, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn của Phong
Lê, Một khuynh hướng truyện ngắn của Nguyễn Hoành Khung, Thạch Lam
(1910-1942) của Hà Văn Đức
Việc xuất hiện Tuyển tập Thạch Lam năm 1988 của Nhà xuất bản Văn
học với lời giới thiệu kỹ lƣỡng và trang trọng của giáo sƣ Phong Lê và lời bạt
của nhà văn tài năng Nguyễn Tuân cho ta thấy những trang viết đầy tính nhân
bản truyền thống của Thạch Lam càng cần thiết trong cuộc sống hôm nay với
bao biến động của cái chân giá trị.
Hội thảo khoa học kỷ niệm năm mƣơi năm ngày mất của Thạch Lam
tại Viện Văn học do Viện Văn học phối hợp với Hội Văn học nghệ thuật
Hải Phòng, Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam – Đà Nẵng và Hội Văn
phận dƣới đáy của xã hội (Nhà mẹ Lê, Hai đứa trẻ); có những kiếp ngƣời phụ
nữ bất hạnh (Cô hàng xén, Hai lần chết, Một đời người, Tối ba mươi)” (2,
24) . Cô hàng xén, Nhà mẹ Lê, Trong bóng tối buổi chiều là vẻ đẹp muôn đời
của ngƣời phụ nữ Việt Nam: tần tảo, chịu thƣơng chịu khó và luôn biết hy
sinh bản thân mình vì ngƣời khác.
Vũ Ngọc Phan có nhận xét riêng về Cô hàng xén: “Truyện Cô hàng xén
còn cho chúng ta thấy cái cảnh nghèo nàn và cuộc đời vất vả của ngƣời gái
quê nữa. Hết nuôi em, đến nuôi chồng, và đến khi đã có chồng thì không còn
tƣởng gì đến sự trang điểm nữa Cô hàng xén của Thạch Lam tức là ngƣời 9
tiêu biểu cho hạng đàn bà thôn quê hy sinh cho nhà mình và nhà chồng, suốt
cuộc đời ở trong cảnh tối tăm và cùng khổ, không biết có ngày vui. Hãy đọc
đoạn kết, đoạn mà Tâm (cô hàng xén) sau khi trao cho em mƣời đồng bạc là
tiền lấy họ cho chồng rồi trở về ” (2, 51). Cũng nói về Cô hàng xén, Hà Văn
Đức cho rằng “Cô hàng xén của Thạch Lam là hình ảnh khá tiêu biểu của
ngƣời phụ nữ Việt Nam truyền thống: đảm đang, tần tảo, giàu đức hy sinh.
Bên trong cái vẻ âm thầm chịu đựng và có phần nhẫn nhục ấy, tác giả đã có ít
nhiều thấy đƣợc vẻ đẹp bình dị và cao quý của họ”. (6, 592)
Nguyễn Công Thắng ở Thạch Lam trong Gió lạnh đầu mùa viết “qua lăng
kính nhân bản của Thạch Lam, những mẹ Lê, cô Tâm, Lan, Nga,… hiện ra trong
dáng vẻ buồn rầu, lặng lẽ nhƣng dịu dàng, tha thiết đến kỳ lạ.” (2, 338)
Bùi Việt Thắng trong Người chắt chiu cái đẹp khẳng định: “Nhân vật nữ
trong truyện ngắn của Thạch Lam thƣờng mang vẻ đẹp của sự kín đáo, tế nhị.
Có vẻ họ hơi cũ một tí nhƣng thật ra đó là nữ tính đậm đà của phụ nữ Việt
Nam. Cô gái đẹp trong Cuốn sách bỏ quên trƣớc anh mắt quá chăm chú của
ngƣời đàn ông không quen đã “đƣa mắt nhìn Thanh, một tay để trên va-ly,
một tay vén lại tà áo cho gọn ghẽ”. Quan tâm và hy sinh vì ngƣời khác là một
nét đẹp của ngƣời Việt Nam”. (2, 172)
tranh cuộc sống nhiều màu, nhiều vẻ, nhiều góc độ với một cái nhìn tinh tế, trân
trọng, hƣớng vào nét đẹp truyền thống trong tâm hồn con ngƣời” (43, 88)
Rõ ràng, vấn đề ngƣời phụ nữ trong văn Thạch Lam đã đƣợc quan tâm,
tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy, nói về ngƣời phụ nữ, vẫn còn nhiều vấn đề
còn cần đƣợc tiếp tục khai thác (đáng chú ý là góc nhìn của lý thuyết giới).
Chính vì vậy, luận văn sẽ khai thác những khoảng trống về ngƣời phụ nữ
trong truyện ngắn Thạch Lam để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề.
Trên cơ sở kế thừa, tổng hợp những thành quả của các công trình
nghiên cứu trƣớc đó, chúng tôi hy vọng đề tài này mang đến cho ngƣời đọc 11
một cái nhìn khoa học, khách quan và toàn diện hơn về “Người phụ nữ trong
truyện ngắn của Thạch Lam”.
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi quan tâm đến đối tƣợng
ngƣời phụ nữ trong mới quan hệ với đời sống gia đình, xã hội trong truyện
ngắn Thạch Lam.
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn sẽ khái quát về ngƣời phụ nữ trong một số truyện ngắn của
Thạch Lam nhƣ Hai đứa trẻ, Nhà mẹ Lê, Đứa con đầu lòng, Trở về, Cuốn
sách bỏ quên, Dưới bóng Hoàng Lan, Cô hàng xén, Gió lạnh đầu mùa, người
Đầm, Đứa con, Tình xưa in trong Thạch Lam truyện ngắn, Nhà xuất bản Hội
nhà văn, 2006.
3.3 Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc tiếp cận hình ảnh ngƣời phụ nữ trong các truyện ngắn
kể trên, chúng tôi hƣớng tới một số sự khái quát về đặc điểm thi pháp thể loại
và khái quát đặc trƣng phong cách truyện ngắn độc đáo của Thạch Lam.
4. Phương pháp nghiên cứu:
tƣợng đƣợc đem ra so sánh. Việc so sánh còn giúp ta xác định đƣợc vị trí của
hiện tƣợng trong một hệ thống và đánh giá đƣợc ý nghĩa của nó trong hệ
thống đó.
Phương pháp nghiên cứu nhân vật văn học: Nhân vật là phƣơng tiện
đắc dụng để nhà văn khái quát cuộc sống một cách hình tƣợng đồng thời thể
hiện sinh động những ý đồ tƣ tƣởng – nghệ thuật của mình. Phƣơng pháp
nghiên cứu nhân vật phải chú ý tới cả quan hệ nội tại và quan hệ ngoại sinh
của nó. Ta cần nghiên cứu nhân vật ở góc độ nhận thức nội dung đời sống, đặt
nhân vật trong một chỉnh thể thống nhất và nghiên cứu nó trên quan điểm lịch
sử phát sinh. 13
5. Cấu trúc luận văn:
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, thƣ mực tài liệu tham khảo,
luận văn chúng tôi gồm có ba chƣơng với các nội dung chính sau:
CHƢƠNG 1: NHÂN VẬT NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI
1930 – 1945 VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA THẠCH LAM
CHƢƠNG 2: ĐỜI SỐNG VÀ THÂN PHẬN NGƢỜI PHỤ NỮ
TRONG TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM
CHƢƠNG 3: NHÂN VẬT NGƢỜI PHỤ NỮ NHÌN TỪ PHƢƠNG
THỨC BIỂU HIỆN
Và cuối cùng là phần mục lục.
15
1934) đăng tôn chỉ Tự Lực văn đoàn gồm 9 điểm, trong đó có 5 điểm quan
trọng: Dùng lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách
An Nam; Ca tụng những nét hay, vẻ đẹp của nƣớc mà có tính cách bình dân,
khiến cho ngƣời khác đem lòng yêu nƣớc một cách bình dân. Không có tính
cách trƣởng giả quý phái; Trọng tự do cá nhân; Làm cho ngƣời ta biết rằng
đạo Khổng không hợp thời nữa; Đem phƣơng pháp khoa học Thái tây ứng
dụng vào văn chƣơng An Nam.
Tự Lực văn đoàn ra đời cách đây đã hơn nửa thế kỷ. Vì vậy khi đánh
giá hiện tƣợng văn học này chúng ta phải có quan điểm lịch sử. Mặt khác, tuy
là một văn đoàn có tôn chỉ, mục đich, xuất hiện chỉ trên dƣới mƣời năm
những nó vẫn không kém phần phức tạp do bao gồm những khuynh hƣớng,
sắc thái khác nhau, phát triển trong những thời kì lịch sử khác nhau. Trong
khuôn khổ luận văn, chúng tôi không có mục đích đánh giá, nhìn nhận về Tự
Lực văn đoàn và các tác giả trong nhóm dƣới cái nhìn lịch sử, chính trị, chúng
tôi chỉ nhìn nhận Tự Lực văn đoàn trên phƣơng diện văn chƣơng. Con đƣờng
suy thoái chính trị của Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hƣng thì đã quá rõ, cho
nên, sự nghiệp văn chƣơng của nhóm Tự Lực văn đoàn phải tính từ những
năm 40 trở về trƣớc. Những ngƣời tham gia Tự Lực văn đoàn cùng chung tôn
chỉ, mục đích nhƣng cũng cần phân biệt giữa những ngƣời đầu soái (Nhất
Linh, Khái Hƣng, Hoàng Đạo) với những thành viên của nhóm nhƣ Thế Lữ,
Xuân Diệu, Tú Mỡ, Thạch Lam, và các cộng tác viên nhƣ Huy Cận, Thanh
Tịnh, Vũ Đình Liên, Thạch Lam và Trần Tiêu xuất hiện trong thời kì mặt
trận dân chủ nên tác phẩm cũng có những màu sắc khác với Nhất Linh, Khái
Hƣng, tuy họ là những cặp anh em ruột trong nhóm Tự Lực văn đoàn.
Nhất Linh, Khái Hƣng là hai tác giả tiêu biểu trong nhóm có những
điểm tƣơng đồng trong sáng tác mà chúng tôi muốn đề cập đến ở mảng truyện
ngắn, và cụ thể là những truyện ngắn về ngƣời phụ nữ.
17
của ngƣời phụ nữ trong sinh hoạt gia đình và xã hội; tôn trọng đời sống riêng
tƣ, tình cảm cá nhân, lòng vị tha và nhân ái.
Quan tâm hơn cả đền ngƣời phụ nữ, hai tác giả trên đã từng đƣa ra vấn
nạn, hình ảnh “ngƣời con gái đẹp” trong thảm cảnh “gia đình”. Làm sao dung
hòa, giải thoát cuộc sống, tình yêu cho thích nghi, phải đạo, có tình có lý.
Sự thận trọng, cân nhắc, đắn đo, suy ngẫm đó cho thấy tinh thần trách nhiệm
và ý thức sáng tạo của ngƣời cầm bút. Tuy nhiên, những ngƣời phụ nữ mà
Nhất Linh, Khái Hƣng đề cập đến thƣờng là những phụ nữ trong xã hội tƣ sản
thành thị. Họ không bị ám ảnh bởi nỗi lo cơm áo gạo tiền nhƣ những ngƣời
phụ nữ nông dân trong văn học hiện thực phê phán. Ngƣời phụ nữ trong văn
học lãng mạn của hai tác giá trên có điểm chung là những ngƣời đẹp, sống
trong thời điểm khi mà những quan điểm tƣ tƣởng phong kiến kìm nén ngƣời
phụ nữ đã trở thành lỗi thời, lạc hậu. Ngƣời phụ nữ bắt đầu vƣơn lên với khái
niệm “tự do”, “bình đẳng”, “công bằng”. Họ đấu tranh trong tình yêu, cố gắng
sống cuộc sống của riêng mình. Viết theo xu hƣớng lãng mạn, những ngƣời
phụ nữ ấy dù là gái quê hay gái thành thị đều rất đẹp. Họ sẵn sàng hy sinh, từ
bỏ tất cả để chọn lấy tình yêu. Họ coi tình yêu là cái đích hƣớng tới. Do đó,
kết thúc mỗi câu chuyện thƣờng là cái chết cho sự giải thoát, hoặc là cái kết
thúc có hậu (nhƣng lại không có thực).
Nói nhƣ Hồ Sĩ Hiệp trong Khái Hưng và Thạch Lam “Nhất Linh chủ trƣơng
giải phóng ngƣời phụ nữ khỏi chế độ đại gia đình, tránh cho phụ nữ nỗi tình
duyên ép buộc, cảnh mẹ chồng nàng dâu” (11, 88) “Nhất Linh giải phóng cho
ngƣời phụ nữ góa bụa khỏi cảnh đạo đức giả của chế độ phong kiến”. (11, 89)
Song song với trào lƣu lãng mạn Tự Lực văn đoàn là trào lƣu văn học
hiện thực phê phán.
Những tiền đề xã hội giai đoạn 1930 – 1945 đã làm xuất hiện trên đàn
văn học công khai một dòng văn học hiện thực phê phán, nhằm đáp ứng một
19
sử dụng chủ nghĩa hiện thực phê phán nhƣ một vũ khí trên đàn văn học công
khai. Thời kì mặt trận dân chủ, các cây bút hiện thực có điều kiện tung hoành
thoải mái hơn trƣớc và dƣờng nhƣ các tài năng đều gặp mùa nở rộ.
Nếu Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố là những nhà văn tiêu biểu cho
văn xuôi hiện thực phê phán 1930 – 1939 thì Nam cao lại là lá cờ đầu của văn
xuôi đầu những năm 40. Văn học hiện thực phê phán 1940 – 1945 đã có sự
phân hóa. Trƣớc sự khủng bố của địch, đã có những tác giả đi chệch hƣớng
( Nguyễn Công Hoan với Thanh đạm, Danh tiết) nhƣng một số nhà văn hiện
thực lại tiếp thu đƣợc ảnh hƣởng của Đảng qua nhóm Văn hóa cứu quốc bí
mật, đặc biệt là ảnh hƣởng của Đề cương văn hóa 1943. Tuy không trực tiếp
bóc trần những mâu thuẫn giai cấp đối kháng trong xã hội và ca ngợi tinh thần
đấu tranh của quần chúng nhƣng tác tác phẩm của Nguyên Hồng, Nam Cao,
Tô Hoài, cũng duy trì đƣợc một thái độ dám nhìn thẳng vào sự thật, thấy
đƣợc cái không khí oi bức, dông bão của một xã hội đang ngột thở, đang quằn
quại lột xác để chuyển mình, để đổi thay.
Trong khuôn hình chung đó, những sáng tác của các tác giả hiện thực
phê phán viết về ngƣời phụ nữ đã đóng góp một vị trí không nhỏ trên văn đàn.
Nguyên Hồng (1918 – 1982), nhà văn có tuổi thơ đói khổ, lam lũ, bị hắt
hủi, bị đày đọa trong xã hội cũ mà bƣớc vào làng văn. Ông vƣơn lên mạnh mẽ
nhƣ một mầm cây căng nhựa sống, cứ xuyên qua lớp lớp bùn nâu sẫm, xòe
ngọn lá tƣơi xanh đón ánh sáng mặt trời rực rỡ. Những dấu ấn về cuộc đời đã
in đậm trong trang văn Nguyên Hồng. Đặc biệt, những sáng tác về ngƣời phụ
nữ trong tác phẩm của Nguyên Hồng mang một cái nhìn nhân đạo sâu sắc.
Nguồn suối tình cảm yêu thƣơng của Nguyên Hồng bắt nguồn từ cuộc đời
thực của ông và của những ngƣời đàn bà nghèo khổ ở các ngõ hẻm, ngoại ô
thành phố. Truyện ngắn đầu tay của ông (Linh hồn) đăng trên Tiểu thuyết thứ
Bảy năm 1936 kể chuyện ngƣời vợ trẻ đi tù thay chồng vì tội làm muối lậu,
21
Bên cạnh Nguyên Hồng, Nam cao cũng dành nhiều thời gian và bút lục
khi viết về ngƣời phụ nữ.
Nam Cao (Nguyễn Hữu Tri, 1917 – 1951) sinh ra trong một gia đình
nghèo, cuộc sống khá chật vật. Đói nghèo và bệnh tật đeo đuổi nhà văn từ nhỏ.
Thời kỳ Cách mạng tháng Tám, ông tham gia cƣớp chính quyền, đƣợc bầu
làm chủ tịch xã Lý Nhân – Hà Nam. Ít lâu sau, Nam Cao lên Hà Nội công tác
ở hội Văn hóa cứu quốc. Ông hy sinh khi đang đi công tác tại vùng địch hậu
khi mới 34 tuổi đời. Tuy cuộc đời ngắn ngủi, nhƣng những gì Nam Cao để lại
đáng để cho hậu thế ngƣỡng mộ. Giống Nguyên Hồng, những tác phẩm đầu
tay của Nam Cao chịu ảnh hƣởng rõ rệt của văn học lãng mạn. Tâm hồn mơ
mộng trẻ trung cùng những tác động của văn chƣơng lãng mạn đƣơng thời đã
khiến ông hƣớng tới xu hƣớng “nghệ thuật vị nghệ thuật”, thoát ly thực tế.
Nhƣng Nam Cao không dừng lại lâu trong thế giới mơ mộng, ảo tƣởng, mà
nhanh chóng quay trở về với hiện thực. “Nghệ thuật không thể là ánh trăng
lừa dối”. Song hành trên chặng đƣờng sáng tạo của Nam Cao là hình ảnh trí
thức tiểu tƣ sản và ngƣời nông dân. Nổi lên trong đề tài ngƣời trí thức tiểu tƣ
sản là những sáng tác thể hiện nỗi băn khoăn, đấu tranh trong tƣ tƣởng nghệ
thuật của ngƣời nghệ sĩ. Trong truyện ngắn Trăng sáng, nhận vật chính Điền,
nhà văn có xu hƣớng đi theo con đƣờng lãng mạn. Mặc dù phải sống trong
hoàn cảnh túng thiếu, chạy ăn từng bữa nhƣng anh vẫn thèm muốn vƣơn lên
cuộc sống giàu sang, sung sƣớng. Điền thích ngắm trăng đẹp, mơ tƣởng “một
mái tóc thơm tho, một làn da mát mịn, một bàn tay vuốt ve”. Anh thoáng có ý
tƣởng ruồng rẫy vợ, vì chị ta chỉ là ngƣời tầm thƣờng, thô thiển, không hiểu
đƣợc những ý tƣởng cao xa của chồng. Nhƣng điều mà chúng tôi muốn nhắc
đến ở đây không phải là ngƣời nghệ sĩ Điển đã đấu tranh trong tƣ tƣởng nhƣ
thế nào, mà chỉ muốn nhắc đến một khía cạnh rất nhỏ nhƣ bị chìm sau bề nổi
ấy. Nhân vật ngƣời vợ xấu xí thô kệch mà Điền từng có ý nghĩ muốn từ bỏ là
ngƣời phụ nữ nhƣ nào?
23
Nam Cao là những con ngƣời xấu xí, nghèo khổ, đói rách. Điều họ mong
muốn dù chỉ là cơm áo gạo tiền, nhƣng đó là những ƣớc muốn quá xa vời.
Tìm trong truyện ngắn Nguyên Hồng, Nam Cao, ta mới tìm thấy đƣợc
cuộc đời những ngƣời phụ nữ trong xã hội Việt Nam trƣớc Cách mạng tháng
Tám: những số kiếp mòn mỏi trong nỗi lo đói rét, trong nghĩa vụ, trách nhiệm
với gia đình, nhƣng, trong tác phẩm của Ngô Tất Tố, ta đã thấy đƣợc một
điểm sáng.
Ngô Tất Tố (1892 – 1954) đƣợc coi là nhà văn hàng đầu của trào lƣu
hiện thực phê phán ở Việt Nam trƣớc 1945. Tuy xuất phát điểm là một nhà
nho nghèo yêu nƣớc nhƣng ông đã nhanh chóng phấn đấu trở thành bạn
đƣờng của giai cấp công nhân, và sau đó trở thành đảng viên Đảng cộng sản.
Mảng đề tài ngƣời phụ nữ đƣợc Ngô Tất Tố coi trọng. Nhà văn Vũ Trọng
Phụng (1912-1939) từng khen ngợi Tắt đèn là "một tiểu thuyết có luận đề xã
hội hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tùng lai
chƣa từng thấy". Phong Lê, trên Tạp chí Sông Hương tháng 12 năm 2003, gọi
những tác phẩm viết về nông thôn của Ngô Tất Tố là "một nhận thức toàn
diện và sâu sắc, đầy trăn trở và xúc động về cảnh ngộ và số phận ngƣời nông
dân Việt Nam" đạt đến "sự xúc động sâu xa và bền vững" (21). Ấn tƣợng bao
trùm về Tắt đèn là một bức tranh đời sống sắc sảo, góc cạnh và chi tiết trên tất
cả mọi chân dung và đối thoại, không trừ ai, trong số mấy chục nhân vật có
tên hoặc không tên, xoay quanh một hình tƣợng trung tâm là chị Dậu. Nhịp
điệu của Tắt đèn là một hơi văn mạnh mẽ và rắn rỏi từ đầu đến cuối.
Trong “Tắt đèn”, nhân vật trung tâm chị Dậu có thể coi là nhân vật điển
hình cho những ngƣời phụ nữ trong nông thôn Việt Nam trƣớc Cách mạng
tháng Tám - một điển hình của cuộc sống bần cùng hóa do sƣu cao thuế nặng
mà chế độ thực dân áp đặt lên xã hội Việt Nam. Tác phẩm Tắt đèn không chỉ
phản ánh đƣợc sự hống hách, bất nhân, tàn nhẫn của bộ máy quan lại đƣơng
25
đậu giữa đôi bờ dòng nƣớc. Do đó, những ngƣời phụ nữ trong văn Thạch Lam
vừa mang vẻ lãng mạn thơ mộng, lại vừa rất hiện thực.
1. 2. Hành trình sáng tác của Thạch Lam
1.2.1. Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Thạch Lam:
1.2.1.1. Cuộc đời:
Thạch Lam (1910-1942) là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng thuộc
nhóm Tự Lực văn đoàn. Ông cũng là em ruột của 2 nhà văn khác nổi tiếng
trong nhóm Tự Lực văn đoàn là Nhất Linh và Hoàng Đạo. Ngoài bút danh
Thạch Lam, ông còn có các bút danh là Việt Sinh, Thiện Sỹ.
Thạch Lam sinh ngày 7 tháng 7 năm 1910 tại Hà Nội, nhƣng nguyên
quán ở làng Cẩm Phô, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thị xã Hội An, tỉnh Quảng
Nam). Cha ông là Nguyễn Tƣờng Nhu (1881-1918), thông thạo chữ Hán và
chữ Pháp, làm Thông phán Tòa sứ nên thƣờng đƣợc gọi là Thông Nhu hay
Phán Nhu. Mẹ là bà Lê Thị Sâm, con gái cả ông Lê Quang Thuật (tục gọi
Quản Thuật), ngƣời gốc Huế đã ba đời ra Bắc, làm quan võ ở Cẩm Giàng
cùng thời với Huyện Giám (ông nội Thạch Lam).
Thạch Lam là ngƣời con thứ 6 trong gia đình 7 ngƣời con (6 trai, 1 gái):
Tƣờng Thụy, Tƣờng Cẩm, Tƣờng Tam, Tƣờng Long, Thị Thế, Tƣờng Vinh
và Tƣờng Bách. Trừ ngƣời anh cả Nguyễn Tƣờng Thụy làm công chức,
những ngƣời còn lại đều đã ít nhiều vào sự nghiệp văn chƣơng, trong số đó,
nổi bật là Tƣờng Tam (Nhất Linh), Tƣờng Long (Hoàng Đạo) và Tƣờng Vinh
(Thạch Lam).
Nguyên tên ban đầu của ông do cha mẹ đặt là Nguyễn Tƣờng Sáu, vì
ông là con thứ sáu trong nhà. Khi bắt đầu đi học ở trƣờng huyện Cẩm Giàng
(Hải Dƣơng), bố mẹ ông làm lại khai sinh cho con là Nguyễn Tƣờng Vinh.
Đến năm Thạch Lam 15 tuổi, thấy mình học chậm, cần tăng thêm tuổi để học
"nhảy" 4 năm, ông làm lại khai sinh lần nữa, thành Nguyễn Tƣờng Lân.