BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 LÊ THỊ CHINH THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM HÀ NỘI, 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, Phòng Sau đại học
trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2.
Các thầy cô giáo ở Viện Văn học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,
trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã trực tiếp giảng
dạytrong suốt khoá học.
Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lý Hoài
Thu, người đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều để luận văn có thể hoàn thành.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bèđã động viên,
khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọnđềtài 1
2. Lịchsửvấnđề 2
3. Mụcđíchnghiêncứu 9
4. Nhiệmvụnghiêncứu 10
5. Đốitượngvàphạmvinghiêncứu 10
6. Phươngphápnghiêncứu 10
7. Giảthiếtkhoahọc 10
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1.THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA
NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI ĐƯƠNG ĐẠI 12
1.1 Thânphậnngườiphụnữ qua sángtáccủanhàvănnữđươngđại 12
1.2 TruyệnngắnNguyễnNgọcTưtrongbốicảnhvănxuôiđươngđại 27
CHƯƠNG 2.THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ NHÌN TỪ QUAN HỆ
XÃ HỘI VÀ ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH 35
2.1. Thânphậnngườiphụnữnhìntừquanhệxãhội 35
2.1.1 Ngườiphụnữ - nạnnhâncủasựnghèođói, thiếuhiểubiết 35
2.1.2 Ngườiphụnữgiàulòngyêuquêhương,
mangnặngnghĩatìnhvớimảnhđất Nam Bộ 39
2.1.3 Ngườiphụnữchânthànhnhânhậu 43
2.2 Thânphậnngườiphụnữnhìntừquanhệgiađình 47
2.2.1 Ngườiphụnữbấthạnhtrongtìnhyêuvàhônnhân 47
2.2.2 Ngườiphụnữkhátkhaolàmmẹ 55
2.2.3 Ngườiphụnữkhátkhaotìnhyêuhạnhphúc 58
2.2.4 Ngườiphụnữgiàuđức hi sinh, bao dung vịtha 63
CHƯƠNG 3.MỘT SỐ VẤN ĐỀ THUỘC NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN
THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN
NGỌC TƯ 67
3.1 Nghệthuậtxâydựngnhânvật 67
3.1.1 Nghệthuậtmiêutảngoạihình 67
ngắn đương đại Việt Nam một luồng sinh khí mới. Qua các sáng tác của chị
hình ảnh thiên nhiên dân dã và cuộc sống nơi miệt vườn cực Nam của tổ quốc
hiện ra rõ nét. Cái tên Nguyễn Ngọc Tư đã để lại dấu ấn khó phai trong lòng
độc giả thông qua việc thể hiện hình ảnh con người trong tác phẩm. Ở đó thân
phận người phụ nữ được tác giả tập trung chú ý hơn cả. Có thể thấy ở bất cứ
thời đại nào vấn đề thân phận con người luôn được xem là vấn đề trọng tâm
và chủyếu trong văn học. Đến nay vấn đề đó không phải là mới song dưới sự
quan sát nhạy bén và tinh tế của mỗi nhà văn, thân phận con người đặc biệt là
người phụ nữ lại hiện lên với nhiều diện mạo, sắc thái khác nhau.
1.3 Trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thân phận người phụ nữ
vừa mang những nét chung của những người phụ nữ xưa nhưng cũng mang
những nét rất riêng độc đáo, cá tính và đầy bản lĩnh. Cách khám phá thân
phận người phụ nữ ở nhiều cung bậc, đa chiều, đa diện đã cho ta thấy một con
người không toàn vẹn mà là con người với những vết trầy xước, bầm dập cả
về thể xác lẫn tinh thần. Những người phụ nữ trong tác phẩm của Nguyễn 2
Ngọc Tư có những số phận khác nhau, nhưng hầu như không một người phụ
nữ nào của chị được hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Mỗi người khổ một kiểu, mỗi
người có một nỗi niềm riêng. Nhưng điều kì lạ là chúng ta không cảm thấy sự
bi quan hay bóng tối bao trùm cuộc đời họ. Chính điều này đã tạo nên sự khác
biệt về thân phận những người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư so
với các nhà văn trước đây và các nhà văn cùng thời. Đóng góp này cho thấy
chân dung con người, đặc biệt là những người phụ nữ trong thời đại mới được
hiện lên sâu sắc và đậm nét hơn.
Với những lí do trên chúng tôi chọn đề tài Thân phận người phụ nữ
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư làm đề tài luận văn cho mình.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Ngọc Tư là cây bút nữ trẻ được biết đến nhiều trong thời gian
“Những truyện ngắn này được tác giả khai thác nhẹ nhàng mà sâu sắc. Người
viết không đặt vấn đề trong sự va đập gay gắt của hoàn cảnh và cũng không
đẩy tới tận cùng những xung đột quyết liệt của tính cách mà đi sâu vào tâm
trạng nhân vật làm nổi bật chủ đề và bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của con
người” [28].
Trong một bài khác tác giả Dạ Ngân đánh giá: “Nguyễn Ngọc Tư giỏi ở
chỗ cái tưởng không có gì mà Tư cũng viết được, lại viết rất có duyên, rất
nhân hậu. Đọc cái nào xong cũng phải nhoẻn cười sung sướng, sung sướng
mà lại ứa nước mắt”[24].
Tác giả Hoàng Thiên Nga qua bài báo đăng trên văn nghệ số 39, ngày
24/9/2005 đánh giá cao tài năng và phẩm chất của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư:
“Truyện Nguyễn Ngọc Tư hấp dẫn từ đầu đến cuối, tới dấu chấm hết vẫn thấy
ngòi bút tác giả bình thản như đôi chân vàng chưa đuối sức sau cuộc chạy
maratong” [23]. 4
Kiệt Tấn là một trong những nhà nghiên cứu, đánh giá công phu về
sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, qua hai bài viết: bài thứ nhất là “Cái rầu bất
tận của Nguyễn Ngọc Tư” đề cập đến các tác tác phẩm Ngọn đèn không tắt
và Cánh đồng bất tận, bài thứ hai là “Sông nước Hậu Giang và Nguyễn Ngọc
Tư” điểm tới các tác phẩm Giao thừa và Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư. Tác giả
đã đi vào tìm hiểu, cắt nghĩa và lí giải chiều sâu của tập truyện “Ngọn đèn
không tắt” từ bối cảnh lịch sử - xã hội của đất nước ta từ những năm chống
Pháp, chống Mỹ đến những ngày hòa bình với những đổi thay trong cuộc
sống. Trên nền bối cảnh đó hình bóng con người hiện lên với một nỗi buồn
hiu hắt, tâm lý thất vọng não nề.
Nhìn chung, đối với các tập truyện ra đời trước Cánh đồng bất tận, các
ý kiến đánh giá còn có phần khiêm tốn, rải rác và lẻ tẻ. Người ta thấy văn
Nguyễn Ngọc Tư toát lên vẻ đẹp của đồng quê nhẹ nhàng mà thấm thía, buồn
quan của mình, ông đi đến kết luận: “Nguyễn Ngọc Tư đang đi từ trong kênh
rạch ra biển lớn, thiết nghĩ, nhà văn phải có ý thức lao động nghệ thuật nhiều
hơn nữa để cho tác phẩm của mình trở thành tài sản quốc gia”.
Ngược lại với những ý kiến trên, đa số các bài viết tập trung làm nổi
bật vẻ đẹp, sự cuốn hút của tác phẩm từ cốt truyện, câu chữ, cho tới nội dung
đầy tính nhân văn.
Chẳng hạn Nguyên Ngọc qua bài “Không gian… của Nguyễn Ngọc
Tư” đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị số ra ngày 1/2/2008 đã đánh giá rất cao về
Cánh đồng bất tận. Ông coi đó là một trong số những tác phẩm hiếm hoi có thể
đưa văn học ta ra với thế giới, bước vào hội nhập: “Để mà tính chuyện đi ra thế
giới, tức là cái mà người ta gọi là mở rộng không gian văn học, […]. Với Cánh
đồng bất tận, văn chương ta bước vào toàn cầu hóa hôm nay một cách đường
hoàng, cùng và ngang bằng với những giá trị nghệ thuật và nhân văn của toàn
cầu”. Trước đó trong một bài báo đăng trên
http://www.vnexpress.net ngày 6
02/1/2005 với nhan đề “Còn có rất nhiềungười cầm bút có tư cách”, nhà văn
Nguyên Ngọc đã khen ngợi Nguyễn Ngọc Tư và cho rằng chị đã “đem đến
cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, đặc biệt “Nam Bộ”
một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tác giả Nam Bộ
đi trước” [25].
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư còn được tiếp cận và lý giải từ nhiều
khía cạnh khác nhau. Ở phương diện nội dung, có rất nhiều bài viết đi sâu
phân tích, tìm hiểu về nhân vật và nội dung hiện thực được phản ánh trong tác
phẩm. Qua đó khẳng định giá trị và nhân cách, bản lĩnh của nhà văn Nguyễn
Ngọc Tư như giá trị nhân văn, tài phân tích tâm lý nhân vật, cái nhìn lạc quan
về con người và cuộc sống…
thương trong cuộc sống con người, những hằng số nghệ thuật của mọi thời
đại” [16].
Trong thời gian gần đây, tác giả Hoàng Đăng Khoa có bài viết “Cánh
đồng bất tận – từ góc nhìn nữ quyền luận”, Vănvn.net,14/3/2012. Dưới góc
nhìn này tác giả cho rằng tác phẩm là khúc bi ca về thân kiếp đàn bà và là
khúc tụng ca nhân vật nữ chính tận thiện tận mỹ và khẳng định rằng: “Đau
đớn thay phận đàn bà. Thân em vừa trắng lại vừa tròn, thân em như tấm lụa
đào nhưngphận sao phận bạc như vôi… Những khúc than thân, khúc phản
kháng kiểu này tưởng đã là chuyện của ngày xửa ngày xưa nhưng tận những
năm đầu thế kỷ XXI vẫn cứ vang ngân khắc khoải hôi hổi tính thời sự. Từ góc
nhìn nữ quyền luận, chúng ta thêm nhận diện đầy đủ tính hiện đại của Cánh
đồng bất tận” [19].
Sau Cánh đồng bất tận, ngày 12/9/2008 sau khi được đăng tải nhiều
kỳ trên báo Sài Gòn Tiếp Thị, Nhà xuất bản Trẻ chính thức phát hành tập
truyện ngắn Gió lẻ và 9 câu chuyện khác. Tập truyện ngắn này cũng được dư 8
luận quan tâm với nhiều cảm nhận khác nhau. Nhưng phần lớn tác phẩm này
được đặt trong tương quan so sánh với “cái bóng” của Cánh đồng bất tận.
Qua đó cho thấy có hai Nguyễn Ngọc Tư khác nhau ở hai tập truyện “Có
người không đồng tình cho rằng qua Gió lẻ Tư không còn là “đặc sản” của
một vùng đất đã làm nên Nguyễn Ngọc Tư. Từ phong cách, ngôn ngữ, chi
tiết… đã mất đi bóng dáng của Cánh đồng bất tận” (Võ Đắc Thanh, “Nguyễn
Ngọc Tư: Tôi như kẻ đẽo cày giữa đường”, Người Đô Thị, số 35). Người
quen với Nguyễn Ngọc Tư chân quê dung dị, cho rằng Gió lẻ khác chị xưa
quá “như cô gái chân quê một bước đi ra thành thị, với câu chữ làm duyên,
làm dáng”.
Và gần đây nhất trong hành trình sáng tác của mình, Nguyễn Ngọc Tư
ra mắt bạn đọc tác phẩm tiếp theo với tựa đề Khói trời lộng lẫy. Đây là tập
cả những bài viết ấy là những gợi mở quý giá giúp ích cho chúng tôi trong
quá trình thực hiện đề tài.
Vì vậy, khi chọn đề tài này, chúng tôi cố gắng lĩnh hội các quan điểm, ý
tưởng từ các bài viết của các tác giả đã đề cập, đồng thời mạnh dạn đưa ra
những ý kiến, những cảm nhận riêng để có một cách nhìn hệ thống hơn về
thân phận người phụ nữtrong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, nhằm góp thêm
một cách nhìn mới về những giá trị trong truyện ngắn của tác giả.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài luận văn chúng tôi hướng tới các mục đích sau:
Tìm hiểu, phân tích các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, qua đó làm
rõ thân phận người phụ nữ được phản ánh trong tác phẩm.
Tìm hiểu một số vấn đề thuộc nghệ thuật biểu hiện thân phận người
phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
10
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu về thân phận người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư , từ
đó chỉ ra những nét mới trong cách nhìn nhận, khám phá về thân phận người
phụ nữ trong thời đại ngày nay.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề Thân phận người phụ nữ
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
- Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung khảo sát các tập truyện sau: Ngọn đèn không tắt
(2000),Giao thừa (2003), Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư (2005), Cánh đồng bất tận (2005),Gió lẻ và 9 câu chuyện khác
bất tận trong sáng tạo nghệ thuật. Qua hình tượng này người đọc các thế hệ
sau thấy được các giá trị của con người qua các thời đại, thấy cả số phận của
những “phận đàn bà”, của con người nhân loại.
Trong văn họcViệt Nam, đặc biệt từ văn học dân gian, người phụ nữ
thường là những nhân vật đại diện cho lý tưởng của nhân dân, cho lẽ phải,
cho điều thiện trong xã hội. Thế nhưng, họ lại là người chịu nhiều thiệt thòi,
có số phận kém may mắn, họ là những con người “thấp cổ bé họng”. Người
phụ nữ đại diện cho lý tưởng và khát vọng về tự do và hạnh phúc công bằng
xã hội bao giờ cũng là người có những phẩm chất thương người, biết làm tròn
bổn phận, biết thực hiện lời hứa, tuân theo những chuẩn mực đạo đức truyền
thống của nhân dân. Họ thường là những con người có lòng bao dung, nhân
hậu. Chẳng hạn như cô Út lấy Sọ Dừa, Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử… những
người phụ nữ như vậy thường được tác giả dân gian nâng niu, trân trọng. Họ
có thể gặp rất nhiều bất trắc, nguy hiểm trong cuộc sống song cuối cùng họ
cũng đều vượt qua và có một cuộc sống êm ấm, hạnh phúc. 12
Qua những câu ca dao dân ca, đặc biệt là cao dao than thân, thân phận
người phụ nữ hiện lên đậm nét hơn với những hình ảnh đầy ẩn dụ:
13
“Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”.
Hay: “Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”.
…
người phụ nữ đầu tiên trong văn học dám khẳng định những khát khao, ước
mơ của người phụ nữ về tình yêu, hạnh phúc, đồng thời công khai lên án lễ
giáo phong kiến hà khắc đối với người phụ nữ. Bà không ngần ngại tuyên bố:
“Không chồng mà chửa mới ngoan. Có chồng mà chửa thế gian chuyện
thường?”. Bà không đồng tình với kiếp lấy chồng chung, với kiếp làm lẽ:
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”. Đồng thời, Hồ Xuân Hương cũng cất
lên tiếng nói ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ: “Yếm đào trễ xuống dưới
nương long. Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm. Một lạch đào nguyên suối
chửa thông” (Thiếu nữ ngủ ngày). Tác giả Trần Nho Thìn đã có nhận xét
khá xác đáng rằng: “Trong bối cảnh xã hội nam quyền theo Tống nho nơi
người phụ nữ vẫn được khuyến khích cam chịu thân phận, an phận thủ
thường thì tiếng nói của một nhà thơ nữ như Hồ Xuân Hương đề cập đến
quyền sống phụ nữ xét về đời sống bản năng có ý nghĩa bênh vực nữ quyền
thực sự. Bởi vì so với nam giới, người phụ nữ chịu nhiều bấ
t công, thiệt thòi
nhất trong đời sống bản năng” [33].
Văn học giai đoạn 30 – 45 tiếp tục khai thác về đề tài người phụ nữ. Mở
đầu giai đoạn này là sáng tác của Tự Lực Văn Đoàn, họ đã xây dựng hình ảnh
người phụ nữ mới, đòi quyền tự do cho yêu đương, vượt qua mọi lễ giáo
phong kiến của xã hội bấy giờ.
Văn học hiện thực phê phán giai đoạn này lại đi sâu tìm hiểu những bi
kịch khác nhau trong cuộc đời người phụ nữ. Đó là cuộc đời cơ cực, đắng cay
của Chị Dậu trong Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, Tám Bính trong Bỉ Vỏ của 15
Nguyên Hồng… Trong bức tranh hiện thực đó người phụ nữ hiện lên như một
biểu tượng trong văn học về nỗi khổ đau, bất hạnh chồng chất của kiếp người
và cuộc đời họ bao giờ cũng kết thúc trong sự tuyệt vọng, bế tắc.
Đến văn học giai đoạn 45 – 75, người phụ nữ tiếp tục được phản ánh và
trong sáng tác của mình là thân phận của những người cùng giới được đan cài
trong những câu chuyện hàng ngày với những vui buồn được mất, giữa cho và
nhận, bất hạnh và hạnh phúc. Họ đã viết về những mảnh đời bất hạnh bằng tất
cả sự thấu hiểu và cảm thông với nỗi đau của con người trong nhiều trạng
huống khác nhau. Bên cạnh những nét chung đó, mỗi cây bút nữ lại có bản
sắc riêng khó lẫn, tạo nên cá tính và phong cách khác nhau. Trong đó để lại ấn
tượng sâu sắc khi viết về người phụ nữ phải kể đến những tên tuổi của các cây
bút nữ như Trần Thùy Mai, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng
Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu…
Cùng viết về thân phận của người phụ nữ nhưng các cây bút nam lại
mang đến cảm nhận khác về người phụ nữ. Trong cuộc đời cầm bút của mình,
Nguyễn Minh Châu đã dành nhiều trang viết về số phận người phụ nữ. Những
tác phẩm của ông là sự cảm thông sâu sắc đối với mỗi số phận, đồng thời là
khúc ca về phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Mỗi nhân vật với
số phận của họ là một khám phá mới của nhà văn. Họ hiện lên rất riêng nhưng
đều thể hiện cái nhìn ấm áp, đôn hậu của nhà văn đối với người phụ nữ Việt
Nam nói chung.Đất nước có chiến tranh, người chồng, người con lên đường
đi chiến đấu và có không ít người đã hi sinh, để lại trong lòng người phụ nữ
một vết thương, một nỗi đau âm ỉ không bao giờ tắt. Có biết bao người phụ
nữ Việt Nam đã phải chịu cảnh góa bụa, chịu đựng nỗi đau về sự mất mát hi
sinh của những người mình thương yêu nhất. Mỗi con người một cảnh ngộ
nhưng đều là những mảnh đời éo le, bất hạnh. Quỳ trong Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành khó có thể quên được nỗi đau đớn tột cùng khi tận mắt 17
chứng kiên cái chết của một người mình yêu và một người yêu mình. Người
chết thì mãi mãi nằm xuống nhưng để lại vết thương khó liền sẹo trong lòng
người đang sống. Cuộc đời Quỳ trớ trêu, éo le vậy đấy. Đến Cỏ lau, Thai
cũng hiện lên với cuộc đời đầy bi kịch, đó là cảnh ngộ trớ trêu trong cuộc
sáng tác của các cây bút nữ. Họ đã “đau cái đau của người cùng giới, buồn
cái buồn của người đàn bà đang yêu” [34]. Họ không ngừng khao khát để có
một tình yêu, một hạnh phúc, một cuộc sống tốt đẹp. Với bản tính dịu dàng
đằm thắm, nhân hậu thủy chung nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ, quyết liệt và
chủ động họ đã lên tiếng giành lấy hạnh phúc cho mình.
Một trong những cây bút nữ viết thành công về người phụ nữ phải kể tới
nhà vănTrần Thùy Mai. Trong các truyện ngắn của Trần Thùy Mai người ta
không tìm thấy những ý đồ cách tân lối viết một cách mạnh mẽ như các trào
lưu viết bây giờ (như “lối viết hậu hiện đại” chẳng hạn). Người ta cũng không
tìm thấy trong truyện của Trần Thùy Mai những chủ đề “nóng” mà văn học
hiện nay đang cố gắng khoét sâu vào thị hiếu bạn đọc như dục tính. Văn của
Trần Thùy Mai xa lạ với những trận gió mới của thời đại, đó là thứ văn vẫn
ướp hương của truyền thống. Với lối hành văn nhẹ nhàng, những câu chuyện
của tác giả như tâm sự thường ngày, những chủ đề “muôn thuở” của con
người, tưởng thoáng qua trong cuộc đời nhưng lại in đậm sâu trong ký ức, sự
lựa chọn trong tình yêu, tình bạn, những sa ngã đời thường, và hơn hết là thế
giới của người phụ nữ…
Đọc tập truyện ngắn Đêm tái sinh của TrầnThuỳ Mai, ta như thấy được
tác giả đã mang cả cuộc đời và tâm hồn mình nhập thân cùng sống, yêu
thương, suy ngẫm, đau đớn, khát khao với người phụ nữ. Mỗi câu chuyện về
cuộc đời họ đau đáu một nỗi niềm, cứ âm thầm chuyên chở vào hồn người
bao trăn trở và day dứt. Thế nhưng, phía sau những bi kịch nhân sinh ấy, vẻ 19
đẹp tâm hồn đậm chất nhân văn vẫn lặng lẽ toả sáng như thức tỉnh lòng người
đã phần nào làm dịu bớt nỗi buồn đau.
Người phụ nữ trong tác phẩm của Thuỳ Mai mỗi người có một “khuôn
mặt” riêng, một số phận riêng nhưng đều sống hết mình, yêu hết mình.
Về lĩnh vực tình yêu, Hồ Thế Hà có lí khi đưa ra nhận xét “Họ có tâm hồn như
tình yêu, hạnh phúc luôn da diết trong trái tim người phụ nữ. Phái đẹp trong
Đêm tái sinh là những con người rất bình thường, không giàu sang, nổi tiếng
nhưng tâm hồn lãng mạn, rất nhạy cảm và đa cảm, có chiều sâu nội tâm.
Nhiều lúc họ cũng liều lĩnh, bất chấp, tìm cách bứt phá mong thoát khỏi vòng
tròn số phận do bị lâm vào bế tắc, tuyệt vọng, thậm chí có khi phải trả giá rất
đắt nhưng không hề ân hận hay hối tiếc. Bởi họ luôn sống và yêu hết mình.
Lắng lại sau mỗi trang văn của Trần Thùy Mai viết về người phụ nữ là
vẻ đẹp những trang đời với những cảm xúc thật đẹp đẽ, ngọt ngào, mang đậm
giá trị nhân văn. Vẻ đẹp đó phải chăng là tấm lòng giàu trắc ẩn, tha thiết yêu
thương đã được chắt lọc từ hiện thực và khát vọng của “Cây bút giàu nữ tính
nhất trong làng truyện ngắn Việt Nam hiện nay?”. Nó lấp lánh toả sáng dường
như để đối lập với gì tầm thường, giả dối, lạnh lùng giữa cuộc sống “bộn bề
bóng tối và ánh sáng”, đồng thời giúp người đọc thấm thía hơn về lẽ sống,
tình đời.
Dù viết về cái gì - những mảnh vỡ đời người cay cực, những khuất lấp
trong tâm hồn, hay oan nghiệt giả trá, Trần Thùy Mai đều hướng đến cái đẹp.
những người phụ nữ của chị, dẫu mỗi người một phúc phận, đau khổ dập vùi,
thành đạt hạnh phúc, cái cuối cùng vẫn là khát vọng hoàn thiện. Truyện ngắn
Trần Thùy Mai ít có những mảng tối của xã hội, hay những nhân vật suy thoái
đạo đức trầm trọng. Những vấn đề xã hội nhức nhối lọc qua sự mẫn cảm của
trái tim phụ nữ trở nên nhân tình, nhân bản hơn.