Nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu và Phan Thị Vàng Anh - Pdf 26


2
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4. Phương pháp nghiên cứu 9
5. Cấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1. TRUYỆN NGẮN NỮ ĐƯƠNG ĐẠI VÀ SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN NGỌC TƯ, ĐỖ HOÀNG DIỆU, PHAN THỊ VÀNG ANH 10
1.1. Truyện ngắn và sự phát triển thể loại 10
1.2. Diện mạo truyện ngắn 1975 đến nay 13
1.3. Truyện ngắn của các cây bút nữ đương đại 16
1.4. Truyện ngắn của ba cây bút nữ: Nguyễn Ngọc Tư , Phan Thị Vàng Anh
và Đỗ Hoàng Diệu 23
CHƯƠNG 2: LOẠI HÌNH NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN
NGẮN CỦA BA TÁC GIẢ 28
2.1. Khái niệm nhân vật văn học và tầm quan trọng của nhân vật trong tác
phẩm văn học 28
2.2. Khái lược về nhân vật người phụ nữ trong văn học Việt Nam, văn học
đương đại và sáng tác của ba tác giả 31
2.3. Loại hình nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn của ba tác giả 36
2.3.1. Những nét tương đồng trong việc khắc họa nhân vật người phụ nữ
của ba tác giả 36
2.3.1.1. Nhân vật người phụ nữ có số phận bất hạnh 37
2.3.1.2. Nhân vật người phụ nữ luôn khao khát tình yêu, hạnh phúc 53
2.3.2. Những nét riêng trong việc khắc họa nhân vật người phụ nữ của ba
tác giả 62


1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Truyện ngắn là thể loại tự sự cỡ nhỏ, có dung lượng vừa đủ, giúp nhà văn thể
hiện những phức tạp, bộn bề của cuộc sống trên nhiều bình diện, nhiều góc cạnh. Vì
thế, truyện ngắn được rất nhiều nhà văn lựa chọn và trở thành một trong những
mảng sở trường trong sự nghiệp của mình. Sự phát triển không ngừng, liên tục của
truyện ngắn là bằng chứng sống động nhất cho điều đó. Ngày càng nhiều thế hệ nhà
văn trẻ nối tiếp nhau xuất hiện đã tạo nên diện mạo mới mẻ cho truyện ngắn đương
đại. Các tác giả luôn cố gắng, nỗ lực không ngừng để đổi mới, cách tân, trong đó,
tiêu biểu là ba cây bút nữ: Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu và Phan Thị Vàng
Anh.
Có thể thấy rằng, nhân vật xuyên suốt trong truyện ngắn của các tác giả
đương đại nói chung và ba cây bút nữ nói riêng là nhân vật người phụ nữ. Hình ảnh
người phụ nữ là đề tài quen thuộc trong sáng tác thơ văn từ xưa cho tới nay: từ các
áng ca dao, dân ca trong văn học dân gian cho đến các tác phẩm trong văn học trung
đại và văn học hiện đại. Và mạch nguồn về người phụ nữ vẫn tiếp tục chảy trong
sáng tác của văn học đương đại. Có lẽ, hơn ai hết, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng
Diệu và Phan Thị Vàng Anh thấu hiểu tâm lí và có sự đồng cảm sâu sắc với người
phụ nữ. Vì vậy, những sáng tác của họ nhanh chóng nhận được sự đồng cảm của
người đọc, thể hiện rõ nét những băn khoăn, trăn trở, những xúc cảm của người phụ
nữ trước cuộc sống. Nhân vật người phụ nữ trong sáng tác của ba cây bút trẻ vừa
mang những nét chung nhưng cũng mang những nét rất riêng, độc đáo, cá tính và
đầy bản lĩnh. Chính yếu tố này đã tạo nên sự khác biệt về nhân vật người phụ nữ
trong sáng tác của ba cây bút nữ so với các tác giả trước đây. Nó cũng góp phần
không nhỏ hình thành phong cách và dấu ấn riêng của từng tác giả. Mỗi cây bút nữ
đều có một cách tiếp cận, thể hiện riêng về người phụ nữ, tạo nên những bức tranh
nhiều màu sắc trong việc tái hiện chân dung người phụ nữ thời đại mới trong dòng
chảy của văn học đương đại.



3
cạnh đó, còn có những phát hiện trên phương diện nghệ thuật như: Lời đề từ trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Phạm Phú Phong). Phạm Phú Phong cho rằng,
Nguyễn Ngọc Tư rất hay sử dụng lời đề từ trong các tác phẩm của mình: "Cánh
đồng bất tận gồm 14 truyện, thì có 11 truyện được tác giả sử dụng lời đề từ" [46].
Lời đề từ như là một ẩn dụ của câu chuyện. Nó góp phần thâu tóm tư tưởng chủ đạo
của tác phẩm hay đơn giản nó là tâm trạng, quan điểm của tác giả trước cuộc sống,
con người. Nguyễn Ngọc Tư đã tạo cho mình một dấu ấn riêng, thể hiện ở lời đề từ
trong mỗi câu truyện đúng như Phạm Phú Phong nhận xét: "chị có sự đậm đặc của
một giọng điệu văn chương Nam Bộ, trong đó có những kế thừa thế hệ trước, nhưng
lại là giọng điệu của đời sống hiện đại, không trộn lẫn với bất kỳ ai. Đó là điều đáng
quí, cần được khẳng định ở Nguyễn Ngọc Tư"[46]. Một khía cạnh khác trên
phương diện nghệ thuật ở văn chương Nguyễn Ngọc Tư mà tác giả Nguyễn Thanh
Tú đã chỉ ra, đó là: Bi kịch hóa trần thuật - một phương thức tự sự. Theo như
Nguyễn Thanh Tú, trong tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã
sử dụng: bi kịch hóa tình huống, bi kịch hóa không - thời gian, và bi kịch hóa hoàn
cảnh, tính cách nhân vật. Và như vậy "cách kể bi kịch hóa trần thuật đã góp phần
tạo nên thành công của Cánh đồng bất tận"[36] - một trong những tác phẩm xuất
sắc của Nguyễn Ngọc Tư. Các tác giả cũng có sự phát hiện, tìm tòi trên cả phương
diện giọng điệu và ngôn ngữ trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư. Nguyễn Trọng Bình
với bài viết: Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã phát hiện
hai giọng điệu mà tác giả thường sử dụng đó là: giọng buồn nhưng không chán
chường, giọng điềm nhiên, trầm tĩnh. Và theo như Nguyễn Trọng Bình đánh giá:
"Bên cạnh âm hưởng và giọng buồn nhưng không chán chường ủ dột, thì sự điềm
nhiên và trầm tĩnh là giọng điệu chủ yếu góp phần làm nên một trong những nét
phong cách của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư" [37]. Ở phương diện ngôn ngữ,
chúng ta có thể thấy hệ thống các từ địa phương Nam Bộ hay lớp từ gợi ấn tượng về
văn hóa sông nước, và đặc biệt sự sáng tạo và biến ngôn ngữ "đời thường" của
người bình dân thành ngôn ngữ văn học rất độc đáo trong bài viết: Đặc trưng ngôn

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương cũng đề cập tới: Truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư dưới góc nhìn văn hóa. Tác giả đã phát hiện một không gian văn

5
hóa Nam Bộ, con người và đời sống sinh hoạt của người dân Nam Bộ rất riêng
trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư. Luận văn thạc sỹ ngày càng có sự tìm tòi sâu
hơn trong những tác phẩm của cây bút Nguyễn Ngọc Tư. Đó là: Tiếp cận sáng tác
của Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy từ phương diện giá trị văn học - văn hóa
(Dương Thị Kim Thoa - Luận văn thạc sỹ 2008) hay Quan niệm nhân sinh của
người phụ nữ qua các sáng tác văn xuôi thời kì đối mới qua sáng tác của Nguyễn
Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư (Bùi Phương Anh - luận văn thạc sỹ
2009), Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút
nữ thời kì đổi mới 1986 - 2006: Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích
Thúy (Nguyễn Thanh Hồng - Luận văn thạc sỹ - 2009). Đề cập tới nhân vật có luận
văn: Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ
Hoàng Diệu (Lê Thị Tuyết - Luận văn thạc sỹ - 2010). Lê Thị Tuyết đã có phát hiện
về mối tương đồng trong việc khắc họa nhân vật người phụ nữ mang màu sắc nữ
quyền trong truyện ngắn của ba tác giả: đó là nhân vật chủ động kiếm tìm hạnh
phúc và nhân vật mẫu tính. Từ đó, giúp người đọc có một cái nhìn đa chiều trong
truyện ngắn của ba cây bút nữ nói riêng và của văn học đương đại nói chung.
Bước vào làng văn với tập truyện Khi người ta trẻ (1993), Phan Thị Vàng
Anh đã tạo ra cho mình một phong cách riêng và được rất nhiều bạn đọc trẻ mến
mộ. Tập truyện Khi người ta trẻ là cái nhìn của một cô gái trẻ về cuộc sống, tình
yêu - một cái nhìn ngây thơ, trong sáng nhưng vẫn còn nông nổi và bồng bột. Tác
phẩm đạt giải thưởng của Hội nhà văn năm 1994. Từ đây, trên văn đàn văn chương
đương đại có thêm một cây bút nữ đầy bản lĩnh, táo bạo và mới mẻ. Viết về Phan
Thị Vàng Anh có khá nhiều các bài báo, bài viết như: Phan Thị Vàng Anh - cây bút
đa năng (Sinh viên Việt Nam) đã khẳng định một: "Vàng Anh của thơ, của truyện,
của kịch bản phim, biên tập sách, của tạp bút, tiểu phẩm và gần đây nhất là Vàng
Anh trong phim tài liệu hiện đại. Nhưng trong gương mặt đa năng đấy, vẫn luôn

với rất nhiều luồng ý kiến và dư luận trái chiều. Không dưới hàng chục bài viết đề
cập đến tác phẩm trên các trang báo lớn như: An ninh thế giới, Tuổi trẻ, Văn nghệ
trẻ, Hợp lưu, Talawas, Ngay cả những nhà phê bình nổi tiếng cũng có những bài
bình luận về nữ tác giả này.

7
Nhà văn Nguyên Ngọc đã không ngần ngại nhận xét: "vấn đề mà Đỗ Hoàng
Diệu đặt ra trong tác phẩm của mình lớn hơn rất nhiều vấn đề số phận đàn bà"[10].
Trong tác phẩm của mình, Đỗ Hoàng Diệu đề cập nhiều đến dục tính, đến những
khao khát mang tính dục nhưng đằng sau đó là thực trạng của xã hội, là những vấn
đề văn hóa đang cần được đặt ra và giải quyết. Nguyên Ngọc cho rằng, có thể Đỗ
Hoàng Diệu đang tiếp tục đi trên con đường của dòng "văn học tự vấn" đã được
khơi mào từ Nguyễn Huy Thiệp.
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cũng viết: Đỗ Hoàng Diệu tự mở cho
mình một đường đi riêng với những lời nhận xét chân thành: "Đỗ Hoàng Diệu đã
phải đi một con đường vòng đến với độc giả. Truyện ngắn của cô thường là dài, dài
hơn cái lệ thông thường quy ước của một truyện ngắn gần như chủ yếu, cô viết về
phụ nữ và dục tính, phụ nữ trong quan hệ với dục tính, nhưng quan trọng hơn, phụ
nữ trong quan hệ với xã hội và lịch sử" [10].
Nhìn nhận truyện ngắn của Đỗ Hoàng Diệu ở một phương diện khác đồng
thời chỉ ra những điểm hạn chế của Đỗ Hoàng Diệu so với tác tải Vệ Tuệ của Trung
Quốc, nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn đã gợi mở cho người đọc nhiều suy nghĩ:
"các nhân vật trong truyện ngắn của Đỗ Hoàng Diệu nghèo nàn về cuộc sống tinh
thần, thiếu đi tình yêu thương vô bờ bến, vô điều kiện với những tha nhân, những
truyện ngắn của Đỗ Hoàng Diệu chỉ vật vã trong sự huyễn hoặc ích kỉ về bản thân,
một bản thân không có chiều sâu của văn hóa lẫn tình cảm"[43].
Ngoài ra, còn có bài viết về tập truyện ngắn Bóng đè như: Sức mạnh ám gợi
và tưởng tượng trong Bóng đè (Hoàng Tố Mai) và rất nhiều luồng ý kiến và dư luận
trái chiều về truyện ngắn Đỗ Hoàng Diệu được đăng trên các trang web, diễn đàn.
Cũng có nhiều bài phỏng vấn về sự nghiệp, quan niệm văn chương và cuộc đời của

tìm tòi, cách tân của các nhà văn trong quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu về nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn của
ba tác giả: Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Hoàng Diệu với mục đích tìm
kiếm, phát hiện những nét tương đồng và khác biệt trong cách nhìn và thể hiện hình

9
ảnh người phụ nữ của ba cây bút trẻ. Qua đó khẳng định đóng góp của văn học
đương đại Việt Nam trong dòng chảy của văn học dân tộc.
Đối tượng nghiên cứu là hình ảnh người phụ nữ trong sáng tác của ba cây bút
nữ: Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu và Phan Thị Vàng Anh. Từ đó, khái quát lên
bức chân dung về người phụ nữ trong văn học đương đại Việt Nam.
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chủ yếu đi sâu khảo sát nhân
vật người phụ nữ trong các tác phẩm tiêu biểu của ba cây bút trẻ. Đó là: Nguyễn Thị
Ngọc Tư với các tập truyện: Ngọn đèn không tắt (2000), Biển người mênh mông
(2003), Giao thừa (2003), Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư (2005), Cánh đồng bất tận (2005), Gió lẻ (2008).
Phan Thị Vàng Anh với tập truyện: Khi người ta trẻ (1993), Ở nhà (1994),
Hội chợ (1995).
Đỗ Hoàng Diệu với tập: Bóng đè (2005) và một số truyện ngắn như: Tình chuột,
Những sợi tóc màu tang lễ, Cô gái điếm và năm người đàn ông, Ngày bất tận.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp tổng hợp
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác góp phần bổ trợ và
đa dạng hóa các phương pháp nghiên cứu với nhiều góc độ:
- Phương pháp cấu trúc

thuyết và thực tiễn thể loại, tác giả Bùi Việt Thắng đã đề cập một cách khá đầy đủ.
Theo tác giả "Ở Châu Âu, sự ra đời của truyện ngắn với tư cách một thể loại văn
học độc lập gắn liền với thời kì phục Hưng, khi nhu cầu giải phóng tinh thần cá
nhân trở thành một cuộc cách mạng xã hội"[1, 39]. Truyện ngắn ra đời đã miêu tả
và thể hiện sự thật về xã hội phong kiến. Người có công đưa truyện ngắn trở thành
một thể loại là Bôcaxiô mà như nhà nghiên cứu văn xuôi Ấn Độ cổ đại nhận xét:
"Trong truyện ngắn của Bôcaxiô người ta nhận thấy, thứ nhất là nét tâm lý của hành
động và thứ hai là nhân vật truyện ngắn không phải là bù nhìn, nhân vật truyện ngắn
mang nét tính cách xác định riêng" [1,41]. Tác phẩm truyện ngắn đầu tiên của

11
Bôcaxiô là Mười ngày gồm 100 truyện kể trong 10 ngày, mỗi ngày 10 truyện. Tập
truyện đã là bức tranh châm biếm thể hiện rõ nét thực trạng xã hội đương thời.
Ở Tây Ban Nha, truyện ngắn hình thành muộn hơn và gắn liền với tên tuổi
của Xecvantec. Còn ở Đức, vào thế kỉ XV - XVI, truyện ngắn bắt đầu phát triển như
một thể loại độc lập với rất nhiều tác giả danh tiếng: Iohan Paoli, Iacop Phray,
Truyện ngắn được các nhà văn lãng mạn Đức yêu thích và trở thành một thể loại
văn xuôi nhỏ - tự do trong xây dựng cốt truyện và tình tiết. Ở Pháp, truyện ngắn bắt
đầu xuất hiện từ thế kỉ XV, đặc biệt với đỉnh cao là truyện triết lý của Vônte đã đưa
đến những giá trị thẩm mĩ nhất định cho văn học thời bấy giờ - đó là chất châm
biếm nhẹ nhàng hóm hỉnh. Ở nước Nga, truyện ngắn góp phần thúc đẩy sự phát
triển của văn học trong giai đoạn từ thế kỉ XI - XIX. Từ đây, đánh dấu sự xuất hiện
của một loạt nhà văn nổi tiếng như: Puskin, Gôgôn, Sêkhôp, Đến Sêkhôp, truyện
ngắn Nga cổ điển đã vươn đến đỉnh cao và trở thành một thể loại đặc sắc. Trong văn
học Mỹ, có thể coi E.Pô là người đã đặt nền móng cho truyện ngắn. Với tài năng
xây dựng cốt truyện điển hình, những tình huống gay cấn và kết thúc rùng rợn, Ê Pô
đã thu hút được đông đảo bạn đọc say mê những truyện ngắn của mình.
Ở phương Đông, hình thức ban sơ của truyện ngắn là thể truyền kì - một thứ
"truyện thần thoại có tác giả". Thể truyền kì giúp cho trí tưởng tượng của nhà văn
bay bổng, phiêu lưu vào thế giới kì thú của nhân vật để sáng tạo nên những cốt

truyện ngắn đã phát huy được ưu thế của mình một cách hiệu quả"[21]. Sự ra đời
của hàng loạt tuyển tập truyện ngắn cùng với những cuộc thi viết truyện ngắn liên
tiếp xuất hiện trên tạp chí Văn nghệ quân đội, Văn nghệ trẻ, tạp chí Sông Hương đã
thể hiện sức sống của thể loại này. Văn đàn phê bình - tranh luận cũng khá sôi nổi
với các nhà phê bình: Bùi Việt Thắng, Phạm Xuân Nguyên, Phạm Thanh Sơn,
Bạn đọc ngày nay không quay lưng lại với truyện ngắn. Họ vẫn dõi theo, nồng nhiệt
hưởng ứng và đón đợi các tác phẩm mới. Có những tập truyện ngắn ngay từ khi mới
ra đời đã tạo nên sức hút đối với đông đảo bạn đọc và trở thành hiện tượng như:
Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Nói như vậy,
đủ thấy được tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của truyện ngắn đối với văn học
đương đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.

13
1.2. Diện mạo truyện ngắn 1975 đến nay
Truyện ngắn từ khi ra đời ngày càng khẳng định được chỗ đứng của nó. Bắt
đầu từ truyền kì thời kì văn học trung đại, bước sang văn học hiện đại, truyện ngắn
nở rộ và trở thành một trong những hiện tượng của văn học. Hàng loạt truyện ngắn
ra đời với các tên tuổi nối tiếng như: Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công
Hoan, Nam Cao, và các tác phẩm tiêu biểu đã đem đến cho bạn đọc một kho tàng
truyện ngắn phong phú với sự đa dạng về phong cách, thể loại. Từ những truyện
ngắn mang màu sắc lãng mạn của Thạch Lam đến những truyện ngắn hiện thực của
Ngô Tất Tố, Nam Cao đã góp phần tái hiện bức tranh xã hội đương thời. Văn học
thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vẫn tiếp tục mạch nguồn của truyện
ngắn về đề tài chiến tranh. Những tác phẩm tiêu biểu được đông đảo bạn đọc đón
nhận trong thời gian này có: Vợ nhặt (Kim Lân), Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài),
Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu), Rừng xà nu (Nguyên Ngọc),
Truyện ngắn đã trở thành một trong những công cụ đắc lực trong việc truyền tải
hiện thực cuộc sống và kháng chiến của nhân dân ta, thể hiện vẻ đẹp của con người
và niềm tin vào thắng lợi của cuộc cách mạng. Sự tồn tại bền bỉ và phát triển không
ngừng của truyện ngắn đã chứng tỏ sức sống của thể loại nhỏ này.

khát vọng - ham muốn được phơi bày, tạo nên một diện mạo mới cho văn học. Bắt
đầu từ đây, có những tác phẩm ra đời và gây ấn tượng mạnh như: Bước qua lời
nguyền (Tạ Duy Anh), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Hai người đàn bà
xóm trại (Nguyễn Quang Thiều). Các tác giả đã đi sâu vào khám phá về con người
thời hậu chiến với nỗi đau, mất mát, những bi kịch của cuộc sống. Văn học vì thế
gần với con người và cuộc đời hơn. Tiếp theo là hàng loạt tác phẩm tiêu biểu như:
Khách ở quê ra, Bức tranh (Nguyễn Minh Châu), Anh lính Tony D (Lê Minh
Khuê), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo), Hậu thiên đường (Nguyễn Thị
Thu Huệ),
Sự thay đổi về đề tài cũng gắn liền với sự thay đổi về lực lượng sáng tác.
Chính sự tiếp nối liên tục của các thế hệ nhà văn đã tạo nên dòng chảy không ngừng
của truyện ngắn. Từ những thế hệ đi trước như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,
Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, (1930 - 1945) đến các thế hệ trưởng

15
thành trong kháng chiến chống Mỹ: Anh Đức, Nguyễn Sáng, Nguyễn Kiên, Anh
Đức, Nguyên Ngọc, và sau năm 1975 là sự xuất hiện của hàng loạt cây bút trẻ:
Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài, đặc biệt là các cây bút nữ: Y
Ban, Võ Thị Hảo, Dương Thu Hương, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư,
Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Hoàng Diệu, Đây là thế hệ thứ tư, đại diện cho nền văn
học đương đại, thế hệ của những cây bút đầy đam mê, đầy sức trẻ. Họ đã không
ngần ngại đi vào từng ngõ ngách đời sống, khám phá từng tâm trạng, thể hiện
những khát khao ẩn chứa bên trong con người. Họ say mê viết, ưu tư với những
nhân vật của mình. Và chính họ đã góp phần tạo nên diện mạo riêng của nền văn
học đương đại Việt Nam trong dòng chảy của văn học dân tộc.
Bên cạnh đó, các cuộc thi viết truyện ngắn liên tiếp được tổ chức đã trở
thành niềm cổ vũ, động viên và khích lệ to lớn với những người cầm bút. Từ đây,
những tài năng mới được phát hiện như: Y Ban, Tạ Duy Anh, Hòa Vang, Nguyễn
Thị Thu Huệ, Tạp chí Văn nghệ quân đội là cơ quan uy tín trong việc tổ chức
hàng loạt các cuộc thi truyện ngắn. Năm 1989 - 1990, Y Ban đã giành giải nhất

1.3. Truyện ngắn của các cây bút nữ đương đại
Trong văn học Việt Nam trước đây, dường như vắng bóng các cây bút nữ.
Người phụ nữ trong xã hội phong kiến bị bó buộc bởi những luật lệ hà khắc, bởi
tam tòng, tứ đức nên hạn chế khả năng phát huy sáng tạo, đặc biệt trong lĩnh vực
nghệ thuật.
Phải đến văn học hiện đại chúng ta mới bắt đầu thấy bóng dáng của các cây
bút nữ, tuy nhiên, chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ. Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ
XX cho đến những năm 1975 đa phần là những cây bút nam. Từ các thế hệ nhà văn:
Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao đến các thế hệ tiếp
theo như: Kim Lân, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, và sau này có Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Những năm đầu thế kỉ, các cây bút nữ xuất hiện rất ít
nên trong suốt giai đoạn 30 - 45, Vũ Ngọc Phan chỉ chọn được duy nhất một cây bút
nữ: Thụy An. Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đội ngũ
cây bút nữ dần nhiều lên: Nguyễn Ngọc Tú, Trần Thị Trường, Lê Minh Khuê,

17
Nhưng nói đến sự nở rộ của các cây bút nữ phải kể đến thời kì sau năm 1975. Một
loạt các cây bút nữ trẻ bắt đầu xuất hiện, dần khẳng định tài năng và vị trí của mình.
Các giải thưởng truyện ngắn liên tiếp được trao cho các cây bút nữ: Có một đêm
như thế (Phạm Thị Minh Thư), Cha con (Lê Thị Thanh Minh), hay Bức thư gửi
mẹ Âu Cơ (Y Ban), Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ),… là một minh
chứng rất rõ nét cho điều đó. Vì sao lại có hiện tượng như vậy? Có phải chăng:
"Hình như do sự nhạy cảm riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn
nam giới. Họ luôn gần với cái lỉnh kỉnh dở dang của đời sống. Mặt khác, với cái cực
đoan sẵn có - tốt, dịu dàng, rộng lượng thì không ai bằng, mà nhỏ nhen, chấp nhặt,
dữ dằn cũng không ai bằng - từng cây bút phụ nữ tìm ra mặt mạnh của mình khá
sớm, định hình khá sớm" [64]. Điều đó là một trong những nguyên nhân giải thích
sự phát triển dồi dào của các cây bút nữ trong dòng chảy văn học đương đại. Người
phụ nữ ở xã hội hiện đại được giải phóng bởi những lễ giáo, luật lệ, hơn nữa, văn
học hiện đại với xu hướng gần gũi đời sống thực của con người đã mở ra cho các

luận Một căn phòng cho riêng mình. Đây được coi là "sách vỡ lòng" của phê bình
nữ quyền. Nhờ Woolf mà các tác giả nữ ngày nay có những khái niệm gợi mở về
cách suy nghĩ lùi thông qua người mẹ, về ý kiến của đàn bà, và về tinh thần song
giới (dung hoà cả hai giới tính). Làn sóng tiếp theo tương ứng với cao trào nữ
quyền ở các nước phương Tây, với những xu hướng như xu hướng trung hoà hay
phổ quát mà đại diện là Simone de Beauvoir với tác phẩm Giới thứ hai (1949).
Cuốn sách được coi là bản tuyên ngôn nữ quyền và là một công trình lý luận triết
học về phụ nữ, xuất phát từ quan điểm nam nữ bình quyền. Cuốn sách xoay quanh
vấn đề: phụ nữ bị kẹt trong tình trạng bị áp bức lâu dài qua sự loại bỏ mình nên trở
thành giới ít quan trọng hơn (giới thứ hai) trong mối quan hệ với nam giới. Ngoài ra
trong làn sóng thứ hai này còn có những xu hướng khác biệt với những tư tưởng của
Melanie Klein về sự tồn tại của hai giới, hay Carol Gilligan với tác phẩm Một giọng
khác (1982). Làn sóng thứ 3 bắt đầu từ thập niên thứ 9 của thế kỉ XX đến nay đã
diễn ra trên phạm vi toàn thế giới với những lí thuyết hậu hiện đại và một vài tư
tưởng lí luận phái sinh từ lí thuyết Derrida. Dòng văn học nữ quyền đã lan rộng ra
toàn thế giới. Không chỉ các nước phương Tây mà các nước phương Đông bắt đầu

19
có sự tiếp nhận và thể hiện dòng văn học nữ quyền mang đậm bản sắc của mình. Đó
là dòng văn học nữ quyền ở Nhật Bản: "Từ năm Shôwa 50 (1975) trở đi, trong bầu
không khí của phong trào tìm cách nới rộng quyền sống phụ nữ, các nhà văn phái
nữ đã có những hoạt động đáng kể. Đó là dòng văn học tranh đấu cho nữ quyền
(women rights), hay mạnh mẽ hơn nữa, thiên trọng phụ nữ (feminism)"[57]. Ðiển
hình là các nhà văn như Kôno Taeko: "từ chối mẫu tính", đào sâu chủ đề "thế giới
của những dục vọng thầm kín và lệch lạc của con người", hay Tsushima Yuuko:
"hình ảnh người đàn bà đơn độc nuôi con"[57]. Đặc biệt, mạnh mẽ hơn phải kể đến
dòng văn học nữ quyền ở Trung Quốc với hàng loạt tác giả nổi tiếng như: Vệ Tuệ
với Điên cuồng như Vệ Tuệ, Baby Thượng Hải, Cửu Đan với tác phẩm Quạ
đen, và còn nhiều nhiều tác giả khác nữa. Sự bùng phát của dòng văn học Linglei
mà các tác giả nữ như Vệ Tuệ, Xuân Thụ, Cửu Đan, Miên Miên, An Ni Bảo Bối, là

những giới hạn và quyền lực dường như là bất di bất dịch:" Đàn ông năm thê bảy
thiếp, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng". Vì thế, hình ảnh người phụ nữ trong các
sáng tác văn học dân gian thường là những người nhỏ bé, những người không trực
tiếp quyết định được số phận của mình: "Thân em như hạt mưa sa. Hạt rơi xuống
giếng hạt ra cánh đồng". Khi đã theo chồng thì người phụ nữ buộc phải " xuất giá
tòng phu, phu tử tòng tử" . Đó chính là quan niệm trọng nam khinh nữ thường thấy
trong xã hội phong kiến Việt Nam. Tiếp đến văn học trung đại, bắt đầu có sự hé mở
của dòng văn học nữ quyền nhưng mới chỉ ở chừng mực đáng kể. Tiêu biểu cho
thời kì này có: Đoàn Thị Điểm, bà Huyện Thanh Quan, đặc biệt là nhà thơ: Hồ
Xuân Hương. Có thể coi Hồ Xuân Hương là người phụ nữ đầu tiên trong văn học đã
dám khẳng định những khát khao, ước mơ của người phụ nữ về tình yêu, hạnh
phúc, đồng thời công khai lên án lễ giáo phong kiến hà khắc đối với người phụ nữ.
Bà không ngần ngại tuyên bố: "Không chồng mà chửa mới ngoan. Có chồng mà
chửa thế gian chuyện thường". Bà không đồng tình với kiếp chồng chung, với kiếp
làm lẽ: "Chém cha cái kiếp lấy chồng chung". Đồng thời, Hồ Xuân Hương cũng cất
lên những tiếng nói ca ngợi vẻ đẹp người phụ nữ: "Yếm đào trễ xuống dưới nương
long. Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm. Một lạch đào nguyên suối chửa thông"
(Thiếu nữ ngủ ngày). Tác giả Trần Nho Thìn đã có một nhận xét khá xác đáng:

21
"Trong bối cảnh xã hội nam quyền theo Tống Nho nơi người phụ nữ vẫn được
khuyến khích cam chịu thân phận, an phận thủ thường thì tiếng nói của một nhà thơ
nữ như Hồ Xuân Hương đề cập đến quyền sống phụ nữ xét về đời sống bản năng
có ý nghĩa bênh vực nữ quyền thực sự. Bởi vì so với nam giới, người phụ nữ chịu
nhiều bất công, thiệt thòi nhất trong đời sống bản năng"[62]. Bước sang văn học
hiện đại, khi trình độ dân trí được nâng cao thì khoảng cách giữa nữ giới và nam
giới dần thu hẹp lại. Trên văn đàn, bên cạnh các cây bút nam bắt đầu có sự xuất
hiện và nở rộ của các cây bút nữ. Sự xuất hiện của các cây bút nữ đã đem đến cho
văn học đương đại Việt Nam một luồng gió mới, như tác giả Bùi Việt Thắng nhận
xét: "văn học đang mang gương mặt nữ - ngày càng trắc ẩn và khoan dung, ngày

về vấn đề khác"[15]. Tình dục là bản năng, và trong văn chương, tình dục còn là
một hoạt động có ý nghĩa văn hóa. Thông qua đó, các nhà văn có thể biểu đạt những
vấn đề nhân sinh một cách có nghệ thuật. Có thể nhận thấy điều này trong rất nhiều
sáng tác của các tác giả Trung Quốc: Điên cuồng như Vệ Tuệ, Búp bê Bắc Kinh,
Sự cởi mở trong vấn đề nhìn nhận tình dục ở phương diện văn hóa đã giúp các nhà
văn mở rộng nhiều hơn những suy nghĩ và thể hiện sâu sắc hơn số phận con người
trong thời đại mới. Thông qua tình dục, các tác giả muốn khẳng định, tình yêu là sự
hòa quyện giữa thể xác và tâm hồn, thể hiện những khao khát hạnh phúc của con
người. Sâu xa hơn, nó còn là sự phản ánh hiện thực văn hóa của một giai đoạn, một
dân tộc, một đất nước. Vì thế, ngay từ khi mới ra đời, Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu
đã gây xôn xao dư luận. Rất nhiều cuộc tranh luận nổ ra với nhiều ý kiến trái chiều.
Điều đó đã khẳng định phần nào sức hút của tác phẩm đối với công chúng. Nguyễn
Ngọc Tư cũng gây bất ngờ cho người đọc với truyện ngắn Cánh đồng bất tận. Ngòi
bút của chị khá mạnh bạo trong việc thể hiện những khao khát tình dục của con
người. Đó là câu chuyện của cô gái điếm tên Sương, là số phận của những người
đàn bà trên sông nước. Có những trang văn được viết khá táo bạo, gây ấn tượng
mạnh mẽ với bạn đọc. Năm 2006, Y Ban cho ra đời tập truyện ngắn I am đàn bà
lại một lần nữa khẳng định tính dục đã trở thành một trong những chủ đề nóng trong
văn chương hiện đại. Y Ban đã không ngần ngại để nhân vật của mình phô bày, thổ
lộ những ham muốn tình dục một cách tự nhiên. Vấn đề tình dục trở đi trở lại nhiều

23
lần và được nhiều tác giả nữ lựa chọn đã khẳng định được phần nào sự ảnh hưởng
của dòng văn học nữ quyền trong văn chương Việt Nam đương đại. Vì thế, nhận xét
về các cây bút nữ, có ý kiến cho rằng: "Nhẹ nhàng, kín đáo trong truyện Nguyễn
Thị Thu Huệ. Trực diện, trần trụi trong truyện Y Ban. Mãnh liệt, nhẩn nha đầy thâm
thúy và ẩn ý trong truyện Đỗ Hoàng Diệu. Quê mùa, chất phác nhưng đằm như
trong truyện Nguyễn Ngọc Tư Dù ở mức độ nào thì họ cũng đã từng bước khẳng
định tiếng nói của nữ giới trong văn chương"[4]. Màu sắc nữ quyền trong văn
chương của các tác giả nữ đã thể hiện được bản lĩnh nghệ thuật và cá tính sáng tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status