TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ THANH NGHIÊN
MSSV: 6116192
NHÂN VẬT NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG HAI TẬP
TRUYỆN NGẮN GÀO THÉT VÀ BÀNG HOÀNG
CỦA LỖ TẤN
Luận văn tốt nghiệp
ngành Ngữ Văn
Cán bộ hƣớng dẫn: BÙI THỊ THÚY MINH
CẦN THƠ-2014
1
ĐỀ CƢƠNG TỔNG QUÁT
NHÂN VẬT PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Phạm vi nghiên cứu
4. Mục đích nghiên cứu
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.2 Nhân vật bị trói buộc trong tƣ tƣởng của một trí thức và cả lễ giáo
phong kiến
2.2.2.1 Sự khao khát khẳng định con ngƣời mới của một trí thức Tây học
2.2.2.2 Sự thất bại của việc chối bỏ con ngƣời phong kiến của nhân vật nữ
trí thức
2.3 Nhân vật phụ nữ theo đuổi tƣ tƣởng bình đẳng
2.3.1 Nhân vật bƣớc đầu có tƣ tƣởng bình đẳng
2.3.2 Nhân vật theo đuổi đấu tranh đòi quyền bình đẳng
2.4 Nhân vật phụ nữ theo đuổi giải phóng cá tính
2.4.1 Nhân vật bƣớc đầu muốn giải phóng cá tính
2.4.2 Nhân vật là đỉnh cao của việc theo đuổi giải phóng cá tính
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM CỦA LỖ TẤN VỀ NGƢỜI PHỤ NỮ
3.1 Thái độ “Ai kỳ bất hạnh, nộ kỳ bất tranh” của Lỗ Tấn đối với ngƣời phụ
nữ
3.1.1 Quan điểm của Lỗ Tấn về ngƣời phụ nữ
3.1.2 Nguyên nhân hình thành nên quan điểm của Lỗ Tấn
3.2 Thi pháp phản tiếp nhận trong truyện ngắn Lỗ Tấn
3.3 Tính hiện đại của vấn đề phụ nữ trong truyện ngắn Lỗ Tấn
3.4 Giá trị quan niệm của Lỗ Tấn về ngƣời phụ nữ
3.4.1 Đối với xã hội
3.4.2 Đối với văn học
3.4.3 Về mặt tƣ tƣởng
C. PHẦN KẾT LUẬN
A. PHẦN MỞ ĐẦU
3
1. Lí do chọn đề tài
mình và Lỗ Tấn đã hƣớng họ đến con đƣờng tự giải phóng, đòi quyền bình đẳng,
hạnh phúc.
Việc nghiên cứu đề tài “Nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn Lỗ Tấn” sẽ
giúp chúng tôi hiểu một cách sâu sắc và toàn diện hơn về nguyên nhân hình thành
cái nhìn tiến bộ của Lỗ Tấn về ngƣời phụ nữ và thế giới nhân vật phụ nữ trong
truyện ngắn Lỗ Tấn, đồng thời cũng làm nổi bậc lên giá trị của quan niệm tiến bộ
của Lỗ Tấn về ngƣời phụ nữ; qua đó thấy đƣợc tài năng sáng tạo nghệ thuật và tinh
thần nhân đạo của nhà văn vĩ đại này.
2. Lịch sử vấn đề
Lỗ Tấn không chỉ là nhà văn lỗi lạc của nền văn học Trung Hoa mà còn là
bậc thầy của nền văn học thế giới với hàng loạt những tác phẩm tạo nên tiếng vang
lớn, mà nổi bật nhất là truyện ngắn. Tác phẩm Lỗ Tấn đƣợc dịch ra nhiều thứ tiếng,
ở nhiều nƣớc trên thế giới và tác phẩm của ông cũng đƣợc nhiều ngƣời nghiên cứu
và tất nhiên, truyện ngắn của ông đƣợc ƣu ái hơn cả.
Ở Việt Nam, ngƣời đầu tiên tiếp xúc với văn chƣơng Lỗ Tấn chính là chủ tịch Hồ
Chí Minh, Ngƣời đặc biệt yêu thích hai câu thơ của văn hào Lỗ Tấn:
“Hoành mi lãnh đối thiên phu chỉ
Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu”
(Tự trào)
Trợn mắt coi khinh ngàn lực sĩ
Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng
(Tự giễu mình)
Ngƣời thứ hai tiếp xúc với văn chƣơng Lỗ Tấn cũng là ngƣời có công mang
truyện ngắn của Lỗ Tấn đến với độc giả Việt Nam chính là Giáo Sƣ Đặng Thai Mai,
trong tác phẩm “Lỗ Tấn thân thế, văn nghiệp” có viết : “Lỗ Tấn đã cố ý đem cả
khối nhiệt tình mà kiến trúc lại, để cho lí trí có thể vận dụng những điều quan sát
vào trong sự khái quát của nghệ thuật, để mô tả sự vật thực tế theo những nét bút
cuộc sống cô đơn đáng sợ. Chồng chết đặt hi vọng vào con, con chết, chị chỉ mong
có được một chỗ dựa về tinh thần ở lòng đồng cảm của mọi người. Song ở đây, con
người quá ghẻ lạnh với nhau, đến một câu trả lời có trách nhiệm cũng không có.
Người ta vui đùa trêu cái đau khổ của chị..” [21; tr174] Về nhân vật cô Ái trong Ly
hôn, tác giả viết: “cô Ái là nhân vật đầu tiên trong truyện Lỗ Tấn dám đứng lên
chống áp bức bất công…Có điều vì nhận thức hạn chế, cô Ái cũng chỉ biết những
người áp bức trực tiếp, cô chưa hiểu được nguyên nhân sâu xa quyết định số phận
của cô. Bởi thế, cô đã nuôi ảo tưởng đối với pháp luật phong kiến và những kẻ đại
diện cho nó. Dẫu sao, hình tượng cô Ái vẫn là một hình tượng phụ nữ nông thôn
6
khỏe khoắn kiên cường. Nó khẳng định niềm tin của tác giả vào khả năng đứng lên
đòi giải phóng của nhân dân lao động.” [21; tr178] Cũng trong tác phẩm này, tác
giả cũng nhận xét về mối tình của Tử Quân và Quyên Sinh, một mối tình mãnh liệt
nhƣng “…khi mục đích hôn nhân đạt, họ liền quên mất lí tưởng ban đầu, nhất là
Tử Quân, nàng hoàn toàn chìm ngập trong công việc gia đình. Cuộc sống yên ổn
bình lặng giết chết con người phản kháng trong Tử Quân. Tình cảm của nàng dần
nhỏ bé lại, tầm thường đi.” [21; tr177]…tình yêu vốn rạn nứt trƣớc đòn đả kích mới
đã tan vỡ. Tử Quân trở về với gia đình mà trƣớc đây nàng bỏ ra đi, không bao lâu
thì chết lặng lẽ.
Trong tác phẩm Truyện Lỗ Tấn có đoạn viết về thím Tƣờng Lâm: “Rốt
cuộc, trước lúc chết, thím Tường Lâm đã bắt đầu nghi ngờ sự tồn tại của địa
ngục_nơi thím từng tin là có thật và sợ hãi không thôi. Điều này chứng tỏ thím
không thể nào nhẫn nhục chịu để người khác quyết định vận mệnh của mình nữa.”
[10; tr262]. Trong tác phẩm này, các tác giả cũng có những nhận định rất đúng về
cô Ái: “…Cô Ái dám vùng ra khỏi sự trói buộc của chế dộ phu quyền. Ở cô đã nhen
nhúm lên tư tưởng bình đẳng, cái cô muốn không hề quá đáng, cô đòi hỏi quyền
được bình đẳng yêu đương với chồng. Đòi hỏi này của cô hình thành mâu thuẫn
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đi vào nghiên cứu đề tài này, ngƣời viết sử dụng kết hợp một số phƣơng
pháp khác nhau. Thứ nhất chúng tôi sử dụng phƣơng pháp thống kê khi tập hợp tài
liệu, bài viết có liên quan. Thứ hai, chúng tôi kết hợp hai phƣơng pháp phân tích và
tổng hợp, nghĩa là ngƣời viết đi sâu vào phân tích, tìm hiểu những biểu hiện của
những vấn đề đặt ra sau đó đúc kết lại và đƣa ra kết luận chung. Đồng thời trong
quá trình trình bày vấn đề ngƣời viết huy động các thao tác nghị luận nhƣ giải thích,
chứng minh, bình luận và so sánh đối chiếu để làm sáng tỏ vấn đề. Sau cùng ngƣời
viết kết hợp hai thao tác diễn dịch và quy nạp để trình bày kết quả của quá trình
nghiên cứu.
8
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. TÁC GIA LỖ TẤN_BẬC THẦY TRUYỆN
NGẮN CỦA VĂN HỌC HIỆN ĐẠI TRUNG QUỐC
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Lỗ Tấn
1.1.1 Cuộc đời của Lỗ Tấn
Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân, tên chữ Dự Tài, Lỗ Tấn là bút danh. Ông
sinh ngày 25-9-1881 tại huyện Thiệu Hƣng tỉnh Chiết Giang . Ông nội là Chu Giới
Phu từng làm quan trong triều đình Mãn Thanh, sau đó bị cách chức hạ ngục. Cha
Lỗ Tấn là Chu Bá Nghi, từng đỗ tú tài, vào năm Lỗ Tấn 13 tuổi thì lâm bệnh, ba
năm sau ông mất trong cảnh cơ hàn. Mẹ Lỗ Tấn là bà Lỗ Thụy, đây là ngƣời phụ nữ
có ảnh hƣởng rất lớn đối với văn chƣơng Lỗ Tấn, bút danh của ông cũng là lấy từ
họ mẹ ghép với từ tấn trong “tấn hành” .
Thời đại Lỗ Tấn là thời đại nước Trung Hoa có nhiều biến động, nhất là sau năm
1919, trước ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga. Ông đã trải qua hai cuộc
cách mạng: cách mạng dân chủ kiểu cũ (cách mạng dân tộc dân chủ do giai cấp tư
Chiểu của dân tộc ta cũng có hai câu thơ rất hay nói về đạo lí này:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
(Dương Từ_Hà Mậu) [4;tr280]
Văn chƣơng là nơi ông gửi gắm những tiếng lòng đau xót cho số phận nhân
dân, là nơi vạch trần những ung nhọt của xã hội phong kiến suy tàn thối nát cùng sự
tàn nhẫn, lạnh lùng của con ngƣời, của xã hội. Lên tiếng bênh vực lẽ phải và lên án
những thói xấu đê hèn, tàn nhẫn. Hƣớng con ngƣời đến con đƣờng đấu tranh, đòi
lấy quyền sống và quyền tự do cho chính mình. Để đến với mục đích cuối cùng ấy,
Lỗ Tấn đã trải qua ba giai đoạn phát triển về tƣ tƣởng và đi tìm phƣơng hƣớng đúng
đắn cho mình.
* Giai Đoạn từ 1881_1918
Đây là giai đoạn của một công dân yêu nƣớc mang hoài bảo cống hiến tài
năng cho tổ quốc. Từ năm sáu tuổi đến mƣời bảy tuổi, Lỗ Tấn đƣợc đi học ở trƣờng
tƣ thục quê nhà, ông học rất thông minh. Trong thời gian này ông đọc “hầu hết thư
tịch cổ Trung Quốc. Đặc biệt ông thích đọc dã sử, thích nghe chuyện truyền thuyết,
thích xem hát tuồng và tranh dân gian” [21; tr156]. Đây có thể nói là giai đoạn xây
dựng nền tảng về văn học trong tâm thức Lỗ Tấn, những câu chuyện dân gian, dã sử
thổi vào tâm hồn ông những cơn gió của thế giới nghệ thuật. Cũng trong tuổi thơ
của mình, vì gia đình sa sút nên Lỗ Tấn có cơ hội tiếp xúc với những ngƣời nông
dân, ngƣời lao động ở quê nhà, đặc biệt là những đứa trẻ cùng chan lứa với ông. Đó
10
có thể nói là nguyên nhân hình thành nên cảm tình sâu sắc giữa Lỗ Tấn với những
con ngƣời chân lấm tay bùn, sống cuộc sống khổ cực, cam chịu, điều này thể hiện
rất rõ trong các tác phẩm nói về ngƣời nông dân trong tác phẩm của ông.
Cũng trong khoảng thời gian này, Lỗ Tấn lần lƣợt mất ông và cha, cuộc sống
của ông gắn liền với bà Lỗ Thụy, mẹ ông_một ngƣời phụ nữ hiền lành, đôn hậu. Có
mạnh mấy thì cũng “chỉ có thể làm thứ người mà người ta đưa ra chém đầu thị
chúng vô vị như thế kia mà thôi” [6; tr452]
Ông bắt đầu thay đổi tƣ tƣởng của mình, hƣớng đến việc hành động để thức
tỉnh con ngƣời Trung Hoa và theo ông, ở thời kì đó, muốn thay đổi tinh thần của họ
không gì bằng văn nghệ. Từ đó, ông chuyển sang con đƣờng hoạt động văn nghệ,
dùng văn chƣơng cứu lấy tinh thần, nhận thức của nhân dân mình.
Hai năm trƣớc cách mạng Tân hợi, vì gia đình túng quẫn, ông rời Nhật Bản về nƣớc
nuôi mẹ và em. Khi cách mạng Tân Hợi nổ ra, ông tham gia hết sức nhiệt tình,
nhƣng kết quả của cuộc cách mạng ấy hoàn toàn không mang lại điều gì mới cho xã
hội, càng để lại trong ông sự thất vọng sâu sắc, ông cay đắng viết: “Tôi cảm thấy
hình như đã lâu rồi không còn cái gọi là Trung Hoa Dân Quốc nữa. Tôi cảm thấy
trước cách mạng tôi là nô lệ; sau cách mạng không bao lâu, thì bị bọn nô lệ lừa
bịp, biến thành nô lệ cho chúng nó. Tôi cảm thấy có nhiều quốc dân của Dân Quốc
mà lại là kẻ thù của Dân Quốc ” [6; tr102]
Bởi thế, đứng trƣớc yêu cầu phải tìm ra một con đƣờng mới cho Trung Quốc,
ông rơi vào trạng thái đau khổ, trầm tƣ. Trong sự trầm tƣ đó, ông có điều kiện nhìn
nhận lại những vấn đề của cách mạng Trung Quốc, những căn bệnh của con ngƣời
Trung Quốc. “Đó là bước chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu mới” [21; tr159]
* Giai đoạn 1918_1927
Ánh sáng của cuộc cách mạng tháng 10 Nga không chỉ thức tỉnh tinh thần
dân tộc Trung Hoa mà ánh “mặt trời chân lí” ấy còn “chói qua tim” nhà văn Lỗ Tấn
để từ đó dẫn đến những bƣớc chuyển mới trong cuộc đấu tranh vì lẽ phải của ông.
Năm 1918, truyện ngắn đầu tay của ông mang tên Nhật kí người điên đƣợc đăng
trên tạp chí Tân thanh niên. “Đó là phát súng mở đầu trận tổng công kích lễ giáo
và chế độ phong kiến của cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng Ngũ Tứ” [20; tr159].
Sau Nhật kí người điên, Lỗ Tấn lần lƣợt cho ra đời những tác phẩm xuất sắc khác:
AQ chính truyện, Khổng ất kỷ, Cố Hương, Thuốc, Lễ cầu phúc…Sau đƣợc tập
hợp lại trong hai tập truyện ngắn Gào thét và Bàng hoàng.
Trong thời gian này, Lỗ Tấn cũng viết nhiều tạp văn để phục vụ kịp thời và
trực tiếp cho phong trào cách mạng. Tạp văn của ông đậm chất chiến đấu và không
Đảng cộng sản tổ chức, tiêu biểu là việc ông tham gia Hội đồng minh tự do.
Ngày 19 tháng 10 năm 1936, Lỗ Tấn qua đời vì bệnh lao, tang lễ của ông đƣợc tổ
chức hết sức trọng thể, quần chúng cách mạng ở Thƣợng Hải phủ lên quan tài của
ông lá cờ thêu bốn chữ “Linh hồn dân tộc”
13
1.1.3 Vị trí của Lỗ Tấn trong nền văn học Trung Quốc và nền văn học
thế giới
Cùng với các vị vua khai quốc, những bậc minh quân và các tài tử lừng danh
của Trung Hoa, Lỗ Tấn đƣợc xếp vào một trong 100 ngƣời đàn ông có ảnh hƣởng
đến lịch sử Trung Hoa, bên cạnh đó, ông là ngƣời đi tiên phong mở ra một trang
mới cho nền văn học hiện đại Trung Hoa với những thành tựu rực rỡ gắn liền với
thể văn bạch thoại, sáng tác của ông không chỉ tạo một bƣớc ngoặc cho văn học
Trung Quốc mà còn đƣa tên tuổi ông trở thành một ngôi sao của nền văn học thế
giới.
Nhƣ tác giả Đặng Thai Mai xác định trong bài “Địa vị Lỗ Tấn trong văn học
Trung Quốc” thì “địa vị Lỗ Tấn trong nền văn học hiện đại nước Trung Hoa kể ra
thì từ phong trào Ngũ Tứ trở đi mới thật rõ rệt” [16; tr357]. Phong trào Ngũ Tứ là
một trong những sự kiện quan trọng trong lịch sử đất nƣớc Trung Hoa, về mặt văn
hóa, sự kiện này vận động xây dựng một nền văn hóa mới cho dân tộc Trung Hoa,
mục đích hƣớng đến là sử dụng văn bạch thoại để phổ thông văn hóa đến với công
chúng. Trong làn sóng vận động đó, năm 1918, truyện ngắn đầu tay mang tên
“Nhật kí người điên” của Lỗ Tấn đƣợc đăng trên tạp chí Tân thanh niên, nhƣ một
phát súng mở đầu cho công cuộc tấn công của văn bạch thoại vào nền văn học cổ, là
nền tảng của hàng loạt truyện ngắn xuất sắc sau này nhƣ: Khổng ẤT kỷ, AQ chính
truyện, Thuốc, Cố hương…
Những tác phẩm ấy ra đời và gây đƣợc tiếng vang lớn, cũng đồng thời đánh
dấu sự chiến thắng rực rỡ, đƣa văn học bạch thoại lên một tầm cao mới. Không
bạc nhƣợc của chính bản thân đề tự làm nên sự biến chuyển cho cuộc đời mình. Và
những tác phẩm của Lỗ Tấn đã tập trung làm rõ những điều đó, hƣớng đến sự thức
tỉnh ngƣời dân Trung Hoa thời bấy giờ.
Không chỉ có ảnh hƣởng lớn đến nền văn học hiện đại Trung Hoa, Lỗ Tấn
còn là cây bút xuất sắc của nền văn học thế giới, đặc biệt là ở mảng hiện thực. Khi
cái tên Lỗ Tấn và các tác phẩm của ông xuất hiện trên văn đàn là lúc chiến tranh thế
giới đang nổ ra, cả thế giới chìm trong máu lửa, chết chóc và cả sự bóc lột tàn bạo
giữa ngƣời với ngƣời, dòng văn hiện thực phản ánh xã hội thời đó phát triển vô
cùng mạnh mẽ, ở pháp có A. France, ở Mỹ có Enest Hemingway, ở Nga có Marsim
Gorky, ở Việt Nam có Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao.
Trong thời kì lịch sử đặc biệt nhƣ thế, văn học hiện thực lên ngôi, trở thành
vũ khí đặc biệt để vạch trần, loại bỏ những ung nhọt của xã hội. Với những gì mình
chứng kiến đƣợc, Lỗ Tấn đã thể hiện rõ bộ mặt đất trƣớc Trung Hoa đƣơng thời, với
phong cách văn chƣơng súc tích, sắc sảo, Lỗ Tấn không những trở thành một cây
15
bút xuất sắc của chủ nghĩa hiện thực thế giới mà còn ảnh hƣởng đến nền văn học
của nhiều nƣớc, trong đó có Việt Nam ta.
1.2. Truyện ngắn Lỗ Tấn
1.2.1 Đôi nét về thể loại truyện ngắn
Truyện ngắn là một thể loại tạo nên tên tuổi cho nhiều nhà văn trên thế giới,
tiêu biểu nhƣ: L.Tônxtôi, Gorki, O.Henri, Lỗ Tấn. Ở Việt Nam có nhiều cây bút
thành danh trong thể loại này, tiêu biểu nhƣ: Nguyễn Công Hoan, Nam Cao,
Nguyên Hồng, Tô Hoài. Tuy nhiên, về thể loại truyện ngắn vẫn chƣa hẳn có đƣợc
một khái niệm thống nhất, sau đây là một số định nghĩa của nhiều tác giả về truyện
ngắn.
Trong quyển 150 Thuật ngữ văn học, tác giả Lại Nguyên Ân định nghĩa về
Trong quyển Lí luận văn học 2 của nhóm tác giả Trần Đình Sử, Phƣơng Lựu
và Nguyễn Xuân Nam, viết về truyện ngắn nhƣ sau: “Truyện ngắn là hình thức
ngắn của tự sự, khuôn khổ ngắn...Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời hay một
đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái
chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với
cuộc đời... Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát
hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con
người. Chính vì vậy trong truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp.”
Có rất nhiều định nghĩa, nhiều cách nhìn khác nhau về truyện ngắn. Tuy
nhiên, có thể rút ra một điểm chung giữa các quan điểm về truyện ngắn đó là truyện
ngắn có sự hạn chế về dung lƣợng, cốt truyện và các tuyến nhân vật. Truyện ngắn
không thể quá dài nhƣ tiểu thuyết, các tuyến nhân vật không quá phức tạp và
thƣờng là bàn về một vấn đề, một việc, một khoảng thời gian nào đó trong cuộc đời
nhân vật.
1.2.2 Truyện ngắn Lỗ Tấn
Lỗ Tấn có ba tập truyện ngắn tiêu biểu là Gào thét, Bàng hoàng và Chuyện
cũ viết lại. Nhƣng, có thế nói tinh túy truyện ngắn Lỗ Tấn nằm trong hai tập Gào
thét và Bàng hoàng. Trong thời kì đất nƣớc có những biến động vô cùng to lớn thì
xã hội cũng có những bƣớc chuyển mình rõ rệt và những bƣớc chuyển ấy thể hiện
một cách sâu sắc trong các thiên truyện của Lỗ Tấn. Là một nhà văn cũng là một
chiến sĩ, Lỗ Tấn đã dùng ngòi bút của mình để chỉ ra những vấn đề của xã hội mới.
Trƣớc hết, truyện ngắn Lỗ Tấn là những tác phẩm vạch trần những ung nhọt,
những căn bệnh trầm kha của xã hội đƣơng thời và lên tiếng bênh vực cho số phận
ngƣời dân lao động. Khi đất nƣớc rơi vào cảnh loạn lạc, đế quốc lâm le xâm chiếm
17
thì con ngƣời Trung Hoa từ giai cấp thống trị cho đến bị trị vẫn mê muội ngủ quên
18
chính là những kiếp nông dân nhƣ Nhuận Thổ, sƣu cao thuế nặng và cuộc sống
khắc nghiệt đã vắt kiệt sinh lực của một con ngƣời, năm tháng trôi qua, Nhuận Thổ
không còn là một con ngƣời linh hoạt, anh ta nhƣ “một pho tượng đá” [5; tr104] với
“những nếp răn khắc sâu trên mặt” [5; tr104].
Truyện ngắn Lễ cầu phúc cũng đề cập đến vấn đề này, thím Tƣờng Lâm là
ngƣời phụ nữ hiền lành, chăm chỉ, nhƣng cuộc đời vốn nhiều bất công, ngƣời hiền
lành mấy cũng không tránh khỏi. Ngƣời chồng đầu tiên mất, thím trốn mẹ chồng đi
ở thuê, thím quán xuyến tất cả công việc trong gia đình nhà chủ, chăm làm giỏi
giang “công việc thím không hề bê trễ, ăn gì xong bữa thì thôi, đã làm thì làm cật
lực, không suy tính thiệt hơn” [5; tr248]. Cứ tƣởng thím sẽ đƣợc an phận trong kiếp
ở gái của mình, nhƣng thím lại bị bắt về gả cho một ngƣời đàn ông khác, may mắn
cho thím là ngƣời chồng mới giỏi giang, biết làm ăn, họ có với nhau một đứa con
trai, nhƣng cuộc sống hạnh phúc không kéo dài đƣợc bao lâu, chồng mất, con trai bị
sói ăn thịt, thím quay trở về kiếp ở gái, cầu mong một cuộc sống bình yên của kiếp
tôi đòi và chút cảm thông của những ngƣời xung quanh cho số phận mình. Nhƣng,
lẽ đời vốn dĩ vô cùng khắc nghiệt, sau những cú sốc tinh thần, thím ta “tay chân
không được lanh lợi như trước nữa, lại dặn gì quên nấy, mặt cứ đờ đẫn ra như mặt
người chết, cả ngày không được một tiếng cười.” [5; tr256]. Điều đó làm chủ của
thím không mấy hài lòng, và vì lẽ thím đã “làm bại hoại phong hóa” [5; tr257] nên
cũng dè chừng, không cho thím động vào những việc trọng đại của nhà chủ nữa.
Còn về những con ngƣời trong Lỗ trấn, những ngƣời mà thím cầu xin chút đồng
cảm cũng dần trở nên lạnh nhạt, vô tâm. Câu chuyện về đứa con bị sói tha của thím
ban đầu đều khiến mọi ngƣời đau xót, nhƣng vì thím cứ kể đi kể lại nên họ dần
không quan tâm đến, thậm chí còn “nhại” lại câu chuyện ấy, rồi lạnh lùng bỏ đi, để
lại thím Tƣờng Lâm một mình ngơ ngác. Và nỗi sợ hãi khi chết đi sẽ bị Diêm
vƣơng cƣa làm đôi, chia cho mỗi ngƣời chồng một nửa càng hành hạ tâm trí thím,
vẫn tôn thờ rằng: “các người có thể thay đổi được. Hãy thực tâm mà thay đổi đi!
Nên biết rằng sau này không ai dung thứ cho kẻ ăn thịt người sống trên thế gian
này nữa đâu” [5; tr29] Những lời nói điên loạn ấy lại khiến cho những kẻ “tỉnh táo”
phải xanh mặt. Đó chính là phát súng đầu tiên nhắm thẳng vào bức tƣờng thành
kiên cố của lễ giáo phong kiến tồn tại qua hơn bốn ngàn năm.
Ta có thể nói rằng, nhân vật ngƣời điên bị cho là kẻ điên loạn nhƣng lại là
ngƣời tỉnh táo nhất, ông không bị những giáo lí cũ rích thôi miên mà còn tỏ ra nghi
ngờ, và khi phát hiện rằng mình là ngƣời sống trong một dân tộc trải qua bốn ngàn
năm phong kiến, là con cháu của những kẻ có đủ bốn ngàn năm kinh nghiệm ăn thịt
ngƣời, ông ta mới hoảng hốt và gào thét lên, vẫy vùng muốn thoát khỏi những kẻ
20
lúc nào cũng “muốn ăn thịt người khác”. Và khi nghĩ rằng bản thân mình đã rơi
cảnh hoàn toàn tuyệt vọng, mình sẽ bị ăn thịt và cũng không thể nào khuyên nhủ
đƣợc những kẻ khát máu kia, một tia hi vọng cuối cùng lóe lên, đó là “những đứa
trẻ chưa từng ăn thịt người” [5; tr32] những đứa bé chƣa từng tiếp xúc với đạo lí
dạy ngƣời ta giết ngƣời không dùng đến gƣơm đao, ông ta kêu lên “Hãy cứu lấy các
em!” [5; tr32], cứu lấy những mầm non chƣa vƣớng những bụi bẩn của một chế độ
thối nát suy tàn, những con ngƣời xây dựng tƣơng lai, nền tảng cho một xã hội hoàn
toàn mới.
Bên cạnh Nhật ký người điên, các truyện ngắn khác của Lỗ Tấn cũng có đề
cập đến vấn đề này, Lỗ Tấn không mƣợn lời một ai mà trực tiếp vạch trần chế độ
ngƣời bóc lột ngƣời, bàn tay sắt lạnh lùng tàn nhẫn của chế độ phong kiến qua
những số phận, trong đó có thể nói tiêu biểu là nhân vật thím Tƣờng Lâm, ngƣời
phụ nữ bị những lễ giáo, quy tắc phong kiến dồn vào đến đƣờng cùng, vừa là một
ngƣời lao động hiền lành, thím Tƣờng Lâm còn là một ngƣời phụ nữ mà thân phận
của ngƣời phụ nữ trong xã hội cũ thì không mấy khi đƣợc xem trọng. Vì thế mà mẹ
chồng thím gả bán thím nhƣ một món hàng, không cần biết thím có đồng ý hay
tham gia cách mạng nên dè chừng, đổi hẳn cách xƣng hô với AQ, hắn “ban” cho
AQ chữ “bác Q” thật thân tình, ngay cả những chuyện không thể ngờ tới cũng có
thể xảy ra, và cả bọn dân làng Mùi đều cuống quýt lên làm AQ càng khoái chí, tâm
hồn y lúc nào cũng “nhẹ nhàng”, “hớn hở”, bao nhiêu dự tính, bao nhiêu ƣớc mơ
đến với y.
Tuy nhiên, giấc mộng vùng lên của AQ nhanh chóng tan đi vì cuộc cách
mạng Tân Hợi chỉ là cuộc cách mạng nửa vời do bọn địa chủ, quan lại thao túng, lợi
dụng còn lợi ích của nhân dân không hề đƣợc để ý đến chế độ phong kiến không hề
bị thủ tiêu thậm chí bọn địa chủ phong kiến còn nghiễm nhiên trở thành đảng viên
Đảng cách mạng và điều quan trọng là cuộc cách mạng này không dám động đến
các nƣớc xâm lƣợc, không dám đấu tranh giành lại quyền lợi dân tộc, cuối cùng
quyền hành lại rơi vào tay của Lê Nguyên Hồng và Viên Thế Khải, việc Viên Thế
Khải xƣng đế là chuyện nực cƣời nhất sau cuộc cách mạng này, nhà Thanh bị lật đổ
nhƣng lại có một hoàng đế khác thì xã hội có khác gì lúc cách mạng chƣa diễn ra.
Trong khi đó ngƣời dân đâu biết rằng trƣớc và sau cách mạng thì họ nô lệ vẫn hoàn
nô lệ, Lỗ Tấn từng viết: “tôi cảm thấy trước cách mạng, tôi là nô lệ, sau cách mạng
không bao lâu thì bọn nô lệ lừa bịp biến tôi thành nô lệ cho chúng nó” [6; tr102].
Qua đó cho thấy không có một sự biến đổi nào trong số phận của những ngƣời dân
nghèo, họ vẫn bị bóc lột nhƣ trƣớc và ngày càng lún sâu dƣới lớp bùn tăm tối.
22
Ngay trong tác phẩm AQ chính truyện, khi cậu Tú bắt đƣợc tin cách mạng đã vào
huyện thì liền rủ lão Tây giả làm cách mạng, hắn quấn đuôi sam vòng quanh đầu
cùng gã Tây giả kia đi “cách” những gì có liên quan đến phong kiến, lão Tây giả
say sƣa diễn thuyết về “sự nghiệp cách mạng” của hắn trƣớc mặt bọn vô công rỗi
nghề, đầu óc rỗng tuếch nhƣng khi AQ muốn đầu hàng, muốn làm cách mạng thì
hắn lại xua đuổi y bằng thanh ba toong bạo ngƣợc. Qua đó cho ta thấy mặt hạn chế
của cách mạng Tân Hợi, chỉ là nơi cho bọn ngƣời nhƣ Tú Triệu, Tây giả kiếm lợi
xúc là những yếu tố thúc đẩy câu chuyện phát triển, giúp cho câu chuyện đơn giản
nhƣng không đơn điệu, vẫn có sức thu hút ngƣời đọc.
Bên cạnh đó, Lỗ Tấn cũng khéo đặt nhân vật mình vào những tình huống gay
cấn, xung đột. Ví dụ nhƣ trong truyện ngắn Lễ cầu phúc và Ly hôn, nhân vật đều
vấp phải sự xung đột, không những xung đột với những ngƣời xung quanh mà còn
xảy ra xung đột trong tƣ tƣởng của mình, ở thím Tƣờng Lâm đó là sự mạnh mẽ,
kiên cƣờng chống lại mẹ chồng với nỗi sợ hãi và mặc cảm của một ngƣời phụ nữ có
hai đời chồng và lại để sói tha mất con, để rồi một mình đối mặt với sự dị nghị, rẻ
rúng của những ngƣời xung quanh, mang lấy tiếng “làm bại hoại phong hóa”. Ở cô
Ái là thái độ căm phẫn trƣớc sự phản bội của chồng và sự ức hiếp của gia đình
chồng xung đột với sự rụt rè, sợ hãi trƣớc cƣờng quyền, cô muốn lên tiếng và đã lên
tiếng đòi quyền lợi cho mình, nhƣng lại bị gạt qua một bên và cuối cùng vẫn phải
“ngậm bồ hòn làm ngọt” nhận lấy số tiền bồi thƣờng và quay trở về. Những mâu
thuẫn ấy tạo điểm nhấn cho câu chuyện đơn tuyến, lôi cuốn ngƣời đọc theo dõi câu
truyện.
Là bậc thầy của truyện ngắn, Lỗ tấn theo đuổi lối viết ngắn gọn, súc tích
nhƣng lƣợng thông điệp mà ông muốn truyền tải là không hề nhỏ, chứa đựng những
vấn đề vô cùng nóng bỏng của xã hội thời bấy giờ.
1.2.3 Hoàn cảnh ra đời của hai tập truyện ngắn Gào Thét và Bàng Hoàng
Trong hoàn cảnh đất nƣớc bị xâm chiếm và xã hội ngày càng trở thành một
mớ hỗn độn với những hủ tục lạc hậu pha trộn với những làm gió độc du nhập từ
phƣơng Tây, đẩy xã hội Trung Hoa vào tình trạng lạc hậu trầm trọng, cứ lùi dần vào
bóng tối của một quá khứ đã lụi tàn.
Cho đến khi cách mạng tháng Mƣời nổ ra ở Nga, đó không chỉ là một bƣớc tiến lớn
của xã hội Nga, của lịch sử Nga mà ánh sáng cách mạng còn chiếu rọi tới Trung
Quốc, chiếu sáng trái tim vốn dĩ đã quá mệt mỏi của Lỗ Tấn khi nhìn thấy sự mê
muội, đớn hèn và thục lùi so với thời đại của dân tộc, làm ông mạnh dạng hơn trong
việc đi tìm lẽ phải, chân lí bằng chính ngòi bút của mình.
bài văn ngắn, nói cho to chuyện thì đó là những bài thơ bằng văn xuôi, về sau in
thành tập gọi là Cỏ dại. Có được những tài liệu khá đầy đủ thì lại viết thành truyện
ngắn. Chỉ vì mình đã trở thành một dũng sĩ lưu lãng, không bố trí thành trận được,
cho nên kỹ thuật tư duy có khá hơn trước một tí, tư tưởng tựa hồ cũng không gò bó,
25