TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
HỒ THỊ DIỄM HƢƠNG
MSSV: 6116124
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT QUA HAI
TẬP TRUYỆN NGẮN “GÀO THÉT” VÀ
“BÀNG HOÀNG” CỦA LỖ TẤN
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hƣớng dẫn: BÙI THỊ THÚY MINH
Cần Thơ, 2014
ĐỀ CƢƠNG TỔNG QUÁT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
2.3. Giọng điệu trần thuật
2.3.1. Giọng triết lí suy ngẫm
2.3.2. Giọng giễu cợt, phê phán, lạnh lùng
2.3.3. Giọng hài hƣớc và châm biếm
CHƢƠNG 3: NHÂN VẬT, KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.1.1. Nghệ thuật xây dựng ngoại hình nhân vật
3.1.2. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật
3.1.3. Nghệ thuật khắc họa nhân vật điển hình
3.2. Thời gian nghệ thuật
3.2.1. Thời gian thực tại
3.2.2. Thời gian hồi ức, hồi tƣởng
3.2.3. Thời gian mơ ƣớc, khát vọng
3.3. Không gian nghệ thuật
3.3.1. Không gian bối cảnh
3.3.2. Không gian sự kiện
3.3.3. Không gian
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lỗ Tấn là gƣơng mặt tiêu biểu của văn học hiện đại Trung Quốc, ông đã góp
ngƣời có thể suy ngẫm riêng và điều quan trọng nhất là phải có sự am hiểu nhất định
về tác giả cũng nhƣ con ngƣời Trung Quốc trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.
Vẫn biết đây là một vấn đề tuy không mới mẻ, nhƣng chƣa có nhiều tài liệu
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này ở Việt Nam, vì thế sẽ vấp phải khó khăn trong
quá trình thực hiện đề tài là điều không thể tránh khỏi. Nhƣng với lòng trân trọng đại
văn hào Lỗ Tấn, chúng tôi quyết tâm thực hiện đề tài hấp dẫn này với hi vọng tìm thấy
“giá trị sâu kín” nào đó đang đƣợc nhà văn kí gởi đâu đó đằng sau những trang viết
của mình.
Có thể nói một số đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn vẫn còn là
một mãnh đất phù sa màu mỡ đang rất cần những bàn tay lao động nghệ thuật khám
phá để nhìn thấy giá trị của nó với tài năng của một cây bút bậc thầy nhƣ
Lỗ Tấn. Với mong muốn nhỏ nhoi là phần nào hiểu đƣợc nghệ thuật nói chung và một
số đặc điểm nghệ thuật qua hai tập truyện ngắn “Gào thét” và “Bàng hoàng” của Lỗ
Tấn nói riêng, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Một số đặc điểm nghệ thuật qua hai
tập truyện ngắn “Gào thét” và “Bàng hoàng” của Lỗ Tấn” để tìm hiểu và nghiên
cứu.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Lỗ Tấn (1881 - 1936) nhà văn hiện thực xuất sắc góp phần quan trọng vào việc
tạo nên diện mạo mới cho nền văn học hiện đại Trung Quốc. Mặc dù các tác phẩm của
Lỗ Tấn sáng tác cách đây trên dƣới nửa thế kỉ nhƣng lớp bụi khoảng cách thời gian
không thể nào phủ lên hay che lấp đƣợc. Sức hấp dẫn tác phẩm Lỗ Tấn đã thực sự thu
hút các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học. Điều này không chỉ các nhà nghiên cứu
và lí luận Trung Quốc thừa nhận mà còn nhiều học giả ngoài nƣớc cũng vậy. Nhƣ vậy
việc đề cao Lỗ Tấn nhƣ là ngọn cờ mới của văn học Trung Quốc là phù hợp thực tế
lịch sử, không có gì phải bàn bạc. Đó là sự thực đã đƣợc UNESCO thừa nhận khi
phong tặng Lỗ Tấn danh hiệu Danh nhân văn hóa nhân loại, nhân dịp kỉ niệm một trăm
năm ngày sinh của ông.
có 55 trang khảo cứu công phu về thân thế, nhân cách, địa vị của Lỗ Tấn trong văn
học Trung Quốc và đặc biệt giới thiệu cuốn truyện nổi tiếng “AQ chính truyện”[8, tr.
231]. Có thể nói Đặng Thai Mai đã mang những tác phẩm của Lỗ Tấn đến với văn học
Việt Nam. Tiếp sau Đặng Thai Mai là Trƣơng Chính và Lƣơng Duy Thứ - đây là hai
chuyên gia quen thuộc chuyên nghiên cứu về Lỗ Tấn. Sau đó, xuất hiện hàng loạt các
nhà văn, các nhà nghiên cứu phê bình văn học tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu về Lỗ Tấn
trong đó có Phan Khôi, Nguyễn Tuân, Anh Đức, Trần Áng và gần đây nhất là Trần Lê
Hoa Tranh. Những công trình nghiên cứu của họ đánh giá rất cao giá trị tác phẩm Lỗ
Tấn nói riêng và về Lỗ Tấn nói chung.
Trở lại với vấn đề trọng tâm, một số đặc điểm nghệ thuật qua hai tập truyện ngắn
“Gào thét” và “Bàng hoàng” của Lỗ Tấn cũng đƣợc giới nghiên cứu phê bình Việt
nam đào sâu khai thác. Tuy nhiên, số lƣợng các công trình nghiên cứu và đƣợc công
bố rộng rãi chiếm số lƣợng không nhiều. Tiêu biểu trong những công trình đó có thể
kể đến một số bài viết của Lƣơng Duy Thứ trong đó có bài “Truyện ngắn của Lỗ
Tấn” từng nêu: “Truyện Lỗ Tấn hầu hết là truyện ngắn. Song nó mang một nội dung
xã hội sâu sắc. Nhiều truyện rất cô đúc, “có kích thước của truyện dài”. Điều đó quyết
định ở chiều sâu tư tưởng của tác giả, song cũng liên quan đến vấn đề cấu trúc tác
phẩm. Lỗ Tấn để công sức nghiền ngẫm xây dựng kết cấu, làm cho nó chặt chẽ, súc
tích mà lại hoàn chỉnh, sinh động. Nhìn chung, tác phẩm Lỗ Tấn tuy đề cập đến những
vấn đề xã hội và nhân sinh sâu sắc, nhưng cấu trúc đơn giản, bình dị, không hề mang
tính chất đồ sộ”[20, tr. 353]. Với bài viết này tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu truyện
ngắn của Lỗ Tấn cũng nhƣ kết cấu trong một số truyện ngắn để thấy đƣợc nét đặc sắc,
nổi bật mà Lỗ Tấn đã gửi gắm trong truyện ngắn của mình.
Hay bài viết về “Một số thủ pháp nghệ thuật độc đáo”, Lƣơng Duy Thứ đã
nhận xét: “Tất cả những đặc sắc nghệ thuật nói ở trên đã làm cho Lỗ Tấn thành công
xuất sắc trong lĩnh vực truyện ngắn. Truyện ngắn “yêu cầu để cho tư tưởng một địa
bàn rộng, cho ngôn ngữ một địa bàn hẹp” không dễ dãi chiều theo tình cảm mình, cố
gắng truyền thần nhân vật, chặt chẽ cô đúc trong kết cấu, tiết kiệm trong miêu tả, vận
mũ cao áo dài. Vậy nguồn cơn nào đã đưa ông đến với quần chúng lao khổ, hòa đồng
với họ, để từ đó vẫy bút tạo nên những hình tượng nhân vật sống động của lớp người
ấy như AQ, như chị Tường Lâm, Nhuận Thổ, Khổng Ất Kỉ,…” [19, tr. 356]. Nhƣ vậy,
có thể nói mối quan tâm của Lỗ Tấn hƣớng về những con ngƣời bất hạnh mà tiêu biểu
là ngƣời phụ nữ trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ. Họ là những con ngƣời khổ cực
nhất, bất hạnh nhất, Lỗ Tấn đã dành mối quan tâm đặc biệt đến những con ngƣời này.
Bài viết dù không đề cập, khám phá về một số đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắn
của Lỗ Tấn nhƣng cũng phần nào cho ngƣời đọc thấy đƣợc những cái độc đáo trong
việc xây dựng một số nhân vật điển hình trong truyện ngắn của ông, đồng thời phản
ánh xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ.
Công trình tiếp theo có thể kể đến là “Loại thể văn học” của tác giả Phƣơng
Lựu. Có thể thấy đây là công trình nghiên cứu khá bao quát về nghệ thuật cũng nhƣ
cấu trúc viết truyện ngắn của Lỗ Tấn. Trong bài viết , tác giả đã phát hiện và điểm qua
ý nghĩa của việc kết cấu viết truyện ngắn. Về cấu trúc viết truyện ngắn Lỗ Tấn tác giả
nhận định: “Một vài truyện ngắn tiêu biểu của Lỗ Tấn, trước mắt người đọc hiện ra
không phải chỉ là một vài mẫu đoạn nhỏ trong đời người, mà buộc chúng ta phải liên
tưởng đến cả một giai đoạn lịch sử. Sáng tác của Lỗ Tấn cho phép hoài nghi sự tuyệt
đối của quan niệm cho rằng địa bàn của truyện ngắn chỉ là một hay vài giai đoạn nhỏ
trong toàn bộ cuộc đời của con người mà thôi. Quan niệm đó đúng trong nhiều trường
hợp nhưng truyện ngắn cũng có thể trở thành “tấm bia kỉ niệm vĩ đại” trở thành “tòa
đại lầu chứa tinh thần thời đại” như Lỗ Tấn đã nói”[11, tr. 148]. Lỗ Tấn không những
có sức ảnh hƣởng ở Trung Quốc mà ở nƣớc ngoài cũng vậy. Nhiều nhà nghiên cứu
cũng nhận xét Lỗ Tấn nhƣ “bậc thầy truyện ngắn”. Quả vậy, truyện ngắn của ông
mang phong vị riêng, một nét rất Lỗ Tấn và cũng rất Trung Quốc. Với những công
trình trên, chúng tôi nhận thấy hầu hết những ý kiến, nhận định rất thuyết phục và có
cơ sở khoa học. Những bài viết trên phần nào cho ngƣời đọc thấy đƣợc những cái hay,
cái độc đáo của truyện ngắn Lỗ Tấn, đồng thời cho ngƣời đọc cách tiếp cận mới trên
bình diện nghệ thuật. Tuy nhiên mỗi nhà nghiên cứu lại đứng ở một góc độ, một khía
Lỗ Tấn”, ngƣời viết mong muốn
đạt đƣợc những mục đích sau:
Qua khảo sát, nghiên cứu một số truyện ngắn của Lỗ Tấn để thấy đƣợc một số
đặc điểm nghệ thuật mà ông đã thể hiện qua hai tập truyện ngắn “Gào thét” và “Bàng
hoàng” .
Bên cạnh đó, ngƣời viết cũng muốn tìm hiểu về sự ảnh hƣởng của truyện ngắn
Lỗ Tấn đến ngƣời dân Trung Quốc, cũng nhƣ những yếu tố tiền đề làm nên tƣ tƣởng
của Lỗ Tấn khi viết những truyện ngắn này.
Việc tìm hiểu đề tài để thấy vai trò, vị trí to lớn của nhà văn trong dòng chảy văn
học Trung Quốc lúc bấy giờ và Lỗ Tấn cũng là ngƣời mang một xu hƣớng mới vào
văn học Việt Nam.
Nghiên cứu đƣợc đầy đủ các khía cạnh trên là đã giải quyết đƣợc yêu cầu của đề
tài. Qua đó thấy đƣợc cái hay, cái mới, cái độc đáo tinh túy của tác phẩm và tài năng
kiệt suất của tác giả.
4. Phạm vi nghiên cứu
Văn học Trung Quốc là một trong những nền văn học lớn và rực rỡ của thế giới
với những đại biểu kiệt xuất và cống hiến nhiều kiệt tác cho thế giới từ rất sớm. Mà
trong đó có Lỗ Tấn, với tinh thần chung đó nay tôi đi vào nghiên cứu đề tài “Một số
đặc điểm nghệ thuật qua hai tập truyện ngắn “Gào thét” và “Bàng hoàng” của Lỗ
Tấn” do chỉ nghiên cứu về truyện ngắn nên chúng tôi chỉ khảo sát một số truyện ngắn
của Lỗ Tấn mà thôi.
Về nghiên cứu truyện ngắn chúng tôi khảo sát ở hai tập truyện ngắn nổi tiếng của
ông là “Gào thét” và “Bàng hoàng”. “Gào thét” gồm mƣời bốn truyện ngắn nhƣ:
Nhật kí người điên, Khổng Ất Kỷ, Thuốc, Ngày mai, Một mẫu chuyện nhỏ, Câu chuyện
cái đầu tóc, Sóng gió, Cố hương, A.Q chính truyện, Tết Đoan Ngọ, Luồng ánh sáng,
Thỏ và Mèo, Kịch vui và đàn vịt, Hát tuồng ngày rước thần. “Bàng hoàng” gồm mƣời
một truyện ngắn nhƣ: Lễ cầu phúc, Trong quán rượu, Một gia đình hạnh phúc, Miếng
toàn diện, logic, khoa học khi đánh giá.
Phƣơng pháp tổng hợp: rút ra nhận xét, đánh giá của mình để bài viết mang tính
chất khoa học và thuyết phục hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh các phƣơng pháp chính trên, tôi còn sử dụng các phƣơng
pháp bổ trợ là chứng minh, lí giải so sánh, đƣa ra khái niệm. Đồng thời, ngƣời viết
cũng vận dụng các lí thuyết về thi pháp học để làm sáng tỏ nội dung đề tài nêu. Việc
nhắc đến các thuật ngữ liên quan là một trong những điều khó tránh khỏi. Việc bổ trợ
những phƣơng pháp này để ngƣời đọc dễ dàng nắm bắt thông tin. Mặc khác, về phía
ngƣời nghiên cứu nó sẽ giúp tôi thuận lợi hơn, đề tài đƣợc rõ ràng sáng sủa và trong
sáng hơn, hiệu quả sẽ khả quan, trình bày sẽ đẹp và bắt mắt hơn.
Đây là đề tài mới, yêu cầu cao về phía ngƣời nghiên cứu và dĩ nhiên cũng có độ
khó của nó. Nhƣng với tinh thần muốn khám phá cái mới tôi sẽ hoàn thành đề tài
nghiên cứu này tốt nhất. Đồng thời, cũng mong muốn đem lại cho ngƣời đọc một nét
khác về một số truyện ngắn của Lỗ Tấn qua cái nhìn về nghệ thuật. Trong chừng mực
giới hạn vốn hiểu biết về truyện ngắn Lỗ Tấn và về kinh nghiệm sống nên khi hoàn
thành đề tài sẽ khó tránh khỏi thiếu sót.
Vì vậy, qua đề tài này sẽ giúp tôi hoàn thiện hơn về nội dung cũng nhƣ hình
thức, nhằm giúp ngƣời đọc ngày càng quan tâm và tìm hiểu nhiều hơn về truyện ngắn
của Lỗ Tấn cũng nhƣ “một số đặc điểm nghệ thuật qua hai tập truyện ngắn “Gào
thét” và “Bàng hoàng” của Lỗ Tấn”.
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1.1. Tình hình văn học Trung Quốc ảnh hƣởng đến tƣ tƣởng Lỗ Tấn
Lỗ Tấn đã sống và cống hiến hết mình cho dân tộc cũng nhƣ đất nƣớc Trung
Quốc. Ông hoàn toàn xứng đáng để nhận đƣợc những gì cao quý thuộc về mình và
công vào thành lũy phong kiến về mặt sáng tác. Tiếp đó “KhổngẤt Kỷ”, “AQ chính
truyện”, “Lễ cầu phúc”,…ra đời đã mổ xẻ phê phán sâu sắc đời sống xã hội và chế độ
phong kiến.
Bƣớc sang thời kì nội chiến cách mạng lần thứ hai, với sự nỗ lực của nền văn học
vô sản Trung Quốc đã trƣởng thành, sáng tác ngày một phong phú và có giá trị. Thời
kì này các nhà văn tƣ sản cách mạng trƣớc kia, mà ngƣời tiêu biểu là Lỗ Tấn, cũng đã
hoàn thành quá trình cải tạo tƣ tƣởng của mình, vững bƣớc trên con đƣờng phục vụ sự
nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản. “Chuyện cũ viết lại” đã đánh dấu bƣớc chuyển
biến từ chủ nghĩa hiện thực cách mạng đến chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa của
Lỗ Tấn.
Con đƣờng của Lỗ Tấn là con đƣờng từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng đến chủ
nghĩa cộng sản, từ chủ nghĩa hiện thực phê phán đến hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ngay
từ buổi đầu, với một nhiệt tình cao độ, Lỗ Tấn đã dùng ngòi bút của mình vạch trần
thối nát của xã hội cũ, thức tĩnh tinh thần cách mạng của nhân dân, động viên cải cách
xã hội. Các tác phẩm của ông thời bấy giờ, truyện ngắn cũng nhƣ tạp văn, đều tràn đầy
tinh thần chiến đấu chống đế quốc phong kiến và các thế lực đen tối của xã hội cũ. Tuy
thời kì này, tƣ tƣởng của Lỗ Tấn còn chịu sự hạn chế của tiến hóa luận, nhƣng ông
cũng đã tiếp thu đƣợc những ảnh hƣởng tốt của chủ nghĩa Mác – Lê Nin. Tác phẩm
của ông không chỉ đập phá cái cũ còn nỗ lực tìm tòi cái mới. Lỗ Tấn là ngƣời tiếp thu
truyền thống tốt đẹp của văn học cổ điển Trung Quốc, tiếp thu tinh hoa của văn học
dân gian và văn học nƣớc ngoài. Không ngừng tìm kiếm phong cách dân tộc trong
sáng tác. Con đƣờng của Lỗ Tấn cũng chính là con đƣờng của nền văn hóa Trung
Quốc mấy mƣơi năm qua.
1.2. Nhà văn Lỗ Tấn và sự nghiệp sáng tác
1.2.1. Nhà văn Lỗ Tấn
Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân, tên chữ là Dự Tài. Ông sinh ngày 25 tháng 9
năm 1881 tại huyện Thiệu Hƣng, Chiết Giang, Trung Quốc. Gia đình ông là một gia
Năm 1902, Lỗ Tấn sang Nhật du học. Ở đây ông đã bộc lộ tinh thần yêu nƣớc
thiết tha bằng các hoạt động. Ông đã từng viết: “Ngã dĩ ngã huyết tiến Hiên viên”,
“Ta nguyền lấy máu ta để hiến dâng cho Tổ quốc”. Năm 1904 Lỗ Tấn vào học trƣờng
thuốc “Tiên Đài”. Sở dĩ Lỗ Tấn xin vào trƣờng thuốc vì lòng yêu nƣớc nồng nàn, tha
thiết. Bên cạnh đó, lúc này nƣớc Nhật là nƣớc đang là tấm gƣơng trong việc dùng
ngành y để chấn hƣng và phát triển kinh tế, văn hóa xã hội. Vì vậy, khi vào trƣờng
thuốc ông có một ƣớc mơ duy nhất là dùng ngành y để cải tạo xã hội Trung Quốc và
chữa bệnh cho những ngƣời dân nghèo nhƣ cha của ông.
Năm 1906, một hôm Lỗ Tấn xem một bộ phim tài liệu về cuộc đấu tranh Nga–
Nhật, trong bộ phim có cảnh một ngƣời Trung Quốc làm mật thám cho Nga bị quân
đội Nhật bắt đƣợc xử tử trƣớc đám đông và quần chúng Trung Quốc. Trƣớc cảnh
ngƣời dân của mình bị xử tử, công chúng ngƣời Trung Quốc tỏ ra rất vui mừng, hình
ảnh này đã tác động mạnh đến tƣ tƣởng của Lỗ Tấn. Ông nhận ra rằng nghề thuốc chỉ
có thể “chữa bệnh về thể xác cho họ trong lúc này không quan trọng bằng chữa bệnh
tinh thần”. Từ đó ông đi vào con đƣờng văn nghệ quyết tâm dùng ngòi bút của mình
để thức tỉnh tâm hồn của ngƣời dân Trung Quốc còn đang ngủ say, khơi gợi ý chí tự
lực, tự cƣờng của quần chúng Trung Quốc.
Ngoài việc sáng tác văn nghệ, Lỗ Tấn tham gia vào phong trào yêu nƣớc của
thanh niên và ông trở thành lãnh tụ của giới thanh niên Trung Quốc yêu nƣớc lúc bấy
giờ. Cuộc đời và sự nghiệp của Lỗ Tấn gắn liền với cuộc đấu tranh cách mạng của
nhân dân Trung Quốc.
Cuộc đời của Lỗ Tấn sống hết mình cho cuộc cách mạng của nhân dân Trung
Quốc sẵn sàng đấu tranh vì tự do cho đồng bào ông. Ngay cả khi sáng tác nghệ thuật
cũng vậy ông đã dùng nó vào việc giành lại độc lập tự do cho dân tộc và chữa bệnh
tinh thần cho quốc dân. Do làm việc quá sức, sau một thời gian bệnh nặng ngày 19
tháng 10 năm 1936, Lỗ Tấn đã qua đời tại nhà số 9, phố Đại Lục, Thƣợng Hải, Trung
Quốc. Bất chấp sự ngăn cản của chính quyền phản động, nhân dân và quần chúng cách
mạng ở Thƣợng Hải đã phủ lên quan tài ông lá cờ thêu ba chữ “Dân tộc hồn”. Đây
1.2.2.2. Tạp văn và một số thể loại khác
Bên cạnh đó, tạp văn cũng chiếm một số lƣợng khá lớn trong sự nghiệp sáng tác
văn học Lỗ Tấn. Theo nhà nghiên cứu Trần Xuân Đề, Lỗ Tấn có 650 bài tạp văn đƣợc
thu thập trong 16 tập, chia làm hai loại một loại thiên về nghị luận và một loại thiên về
trữ tình, tự sự. Có thể kể đến một số tác phẩm nhƣ: “Quan niệm của tôi về tiết liệt”,
“Nôra đi rồi thì ra sao”, “Dạo bút dưới đèn”, “Kỷ niệm Lưu Hòa Trân”, “Hoa hồng
không hoa”,… Nội dung những bài tạp văn này là quan điểm của nhà văn về xã hội
Trung Quốc thông qua những vấn đề mà ông đề cập nhƣ vấn đề ngƣời phụ nữ, vấn
đề “người ăn thịt người” hay thái độ xót xa về tình cảnh của đất nƣớc Trung Quốc
thời phong kiến. Tính chiến đấu phản đế, phản phong thể hiện rất rõ trong những tác
phẩm này, đồng thời Lỗ Tấn đã kế thừa tƣ tƣởng vô sản nhƣ một phƣơng tiện hữu hiệu
để tăng tính chiến đấu cho các tác phẩm của mình.
Lỗ Tấn còn có tập thơ văn xuôi “Cỏ dại” giàu tính hiện đại, nói về cuộc đấu
tranh không khoan nhƣợng chống thế lực đen tối đang ám ảnh, thể hiện nỗi u uất và
buồn đau, nỗi căm hờn và tinh thần chiến đấu.
Ngoài ra, Lỗ Tấn còn sáng tác kịch, viết nghiên cứu lý luận phê bình và
dịch nhiều tác phẩm của văn học Nga sang tiếng Trung Quốc. Nhƣng truyện ngắn và
tạp văn vẫn đƣợc coi là những thành công rực rỡ nhất trong sự nghiệp văn học của
ông.
1.3. Đôi nét về hai tập truyện ngắn “Gào thét” và “Bàng hoàng”
1.3.1. Hoàn cảnh sáng tác
Lỗ Tấn sáng tác nhiều thể loại nhƣ thơ trữ tình, truyện ngắn, tạp văn, lịch sử văn
học. Nhƣng thành công nhất và để lại ấn tƣợng trong lòng ngƣời đọc vẫn là thể loại
truyện ngắn.
Theo Lại Nguyên Ân truyện ngắn là “Thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường
được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và
xã hội. Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng”[1, tr. 361].
mình trên văn đàn văn học thế giới. Ông đƣợc xem nhƣ là một bậc thầy về thể loại
truyện ngắn. Ông dùng ngòi bút của mình để vạch trần những âm mƣu xấu xa, đƣa bọn
chúng ra ánh sáng, đồng thời cũng đánh thức xã hội đầy mê muội với những hũ tục lạc
hậu, mê tính dị đoan. Vì vậy, ông đƣợc ví nhƣ ngƣời đặt nền móng đầu tiên cho nền
văn học hiện đại Trung Quốc. Những tác phẩm của ông vẫn tồn tại mãi trong lòng
ngƣời đọc nhƣ “A.Q chính truyện”, “Nhật kí người điên”, “Thuốc”, “Cố
hương”,…Trong đó tác phẩm “A.Q chính truyện” là một kiệt tác trong sự nghiệp
sáng tác văn chƣơng của ông. Nó gắn liền với Lỗ Tấn – ngƣời khai sáng cho nền văn
học hiện đại Trung Quốc.
1.3.2. Nội dung truyện ngắn khảo sát trong luận văn
Lỗ Tấn là đỉnh cao của văn học hiện đại Trung Quốc. Trong các tác phẩm của
mình, Lỗ Tấn đề cập đến rất nhiều vấn đề nhƣ cuộc sống của ngƣời nông dân, cuộc
sống của ngƣời phụ nữ, cuộc sống ngƣời trí thức và vấn đề cách mạng,… Tuy vậy,
cuộc sống ở nông thôn, hình ảnh của ngƣời nông dân chất phác và cuộc sống bần cùng
của họ là đề tài chủ yếu trong truyện ngắn của Lỗ Tấn. Ngòi bút của Lỗ Tấn đã đi sâu
vào thế giới nội tâm, vào những sầu não thƣơng tâm, những dằng dặc, đau đớn trong
tâm hồn họ. Thông qua đó, Lỗ Tấn đã đặt ra vấn đề mới, mang tính thời đại sâu sắc về
vấn đề ngƣời phụ nữ, vấn đề cách mạng,…
“Nhật ký người điên” đây là quyển nhật ký của một ngƣời bị mắc bệnh “bách
hại cuồng”, đƣợc viết trong khoảng thời gian từ ngày 2 tháng 4 năm Dân quốc thứ tƣ
đến tháng 1 năm 1918. Anh ta là em trong một gia đình gồm hai anh em trai, mọi
ngƣời trong xóm từ già đến trẻ đều nhìn anh bằng ánh mắt khác lạ, họ xem anh là một
kẻ điên. Còn đối với anh, anh nghĩ rằng mọi ngƣời ở đây kể cả anh trai của mình đều
là những kẻ ăn thịt ngƣời và họ đang chờ cơ hội để ăn thịt anh. Câu nói của anh ở cuối
tác phẩm cũng là lời của tác giả: “Hãy cứu lấy trẻ em!” nhƣ một lời thức tĩnh nhân
dân đấu tranh xóa bỏ lịch sử bốn ngàn năm ăn thịt ngƣời đó.
“Khổng Ất Kỷ” đây là câu chuyện kể về một ngƣời nho sĩ tên là Khổng Ất Kỷ.
kể lại câu chuyện mà mình đã gặp. Anh ta thấy một vụ va chạm giao thông. Trong khi
anh lái xe thì lo cho bà lão còn anh ta thì có thái độ không quan tâm. Sau sự việc xảy
ra anh đã vô cùng ân hận và xấu hổ vì có thái độ nhƣ thế. Qua truyện ngắn cho thấy sự
vô tâm và hờ hững của đại bộ phận ngƣời dân Trung Quốc lúc bấy giờ.
“Câu chuyện cái đầu tóc” là truyện ngắn viết về nhân vật “tôi”. Anh sống trong
xã hội Trung Quốc dần mở cửa, Cách mạng Tân hợi thành công. Nhƣng sự thật đáng
buồn là hầu hết ngƣời dân đều không nhớ đến ngày kỉ niệm này. Việc cắt bỏ hay để
đuôi sam là một việc hệ trọng đối với ngƣời dân lúc bấy giờ. Nó có liên quan đến sinh
mệnh, công việc của họ. Qua truyện ngắn tác giả cũng nhằm phê phán những hủ tục
lạc hậu của ngƣời dân qua việc cắt hay để đuôi sam.
“Sóng gió” là câu chuyện kể về nhân vật Bảy Cân. “Sóng gió” đƣợc phản ánh
trong gia đình anh Bảy Cân cũng là sóng gió lớn ngoài xã hội khi Trƣơng Huân lập lại
ngôi hoàng đế ở Bắc Kinh. Sóng gió trong gia đình anh xoay quanh cái đầu tóc của
anh là có để đuôi sam hay không. Nhƣng lại có liên quan đến sự việc xảy ra ngoài xã
hội là chế độ phong kiến đang dần lập lại, Cách mạng Tân hợi không đƣợc nhƣ trƣớc
nữa. Một cuộc cách mạng không đƣa đến kết quả, cơ sở xã hội không có gì thay đổi.
Tác phẩm là một lời phê phán đối với Cách mạng Tân hợi. Một cuộc cách mạng không
triệt để và xa rời quần chúng.
“Cố hương” là truyện ngắn đƣợc kể lại qua nhân vật “tôi”. Anh trở về quê
hƣơng sau hơn 20 năm xa cách. Lúc này thời tiết đang độ giữa đông, trời âm u, gió
lạnh lùa vào khoang thuyền, làng xóm giờ đây tiêu điều xơ xác. Hình ảnh làng quê cũ
chợt hiện lên trong ký ức trẻ thơ đã làm anh có chút không vui. Về thăm làng lần này,
anh có ý định từ giã quê lần cuối để lo cho công việc và chuyển nhà đi nơi khác sinh
sống. Hình ảnh thân quen khiến anh nhớ đến ngƣời bạn cũ thƣở nhỏ là Nhuận Thổ một cậu bé nông dân khỏe mạnh, tháo vát, hiểu biết và hồn nhiên. Ngày ấy hai đứa trẻ
chơi thân với nhau, sau 20 năm xa cách gặp lại, anh nhận thấy Nhuận Thổ đã thay đổi
đi rất nhiều. Anh trở thành một ngƣời nông dân nghèo khổ, đần độn, mụ mẫm đi. Anh
buồn bã rời quê với niềm băn khoăn không biết tƣơng lai của cháu Hoàng và Thuỷ
Sinh (con của Nhuận Thổ ) sau này sẽ ra sao. Hình ảnh con đƣờng ở cuối truyện nói
văn chuyên viết sách thiếu nhi. Ông ta có thú vui tao nhã giữa chốn phồn hoa nhƣ Bắc
Kinh là nuôi những con vật mà mình yêu thích. Khi nuôi những con vật này ông thấy
lòng mình bình yên và cảm nhận thiên nhiên một cách sâu sắc nhất. Con vật mà cuối
cùng ông nhận nuôi là những con vịt. Những con vịt này luôn gắn bó với nơi đây dù
ông không còn xuất hiện ở đây nữa.
“Hát tuồng ngày rước thần” là câu chuyện của nhân vật “tôi”. Đó là những trải
nghiệm đầy thú vị khi anh ở Bắc Kinh, nơi cho là phồn thịnh nhất nhƣng lối sống thì
không giống nhƣ ông ta mong muốn. Qua việc đi xem hát tuồng cũng thấy đƣợc sự
khác biệt giữa hai nơi là Bắc Kinh và quê nhà của anh. Ở Bắc Kinh tuy là phồn thịnh
thật nhƣng con ngƣời sống với nhau không có tình cảm. Họ chỉ vì lợi ích của riêng
mình mà thôi. Còn ở quê nhà của anh, tuy không đƣợc nhƣ ở Bắc Kinh nhƣng con
ngƣời luôn đối xử với nhau bằng tình cảm mà không nơi nào có đƣợc.
“Lễ cầu phúc” là truyện kể về thím Tƣờng Lâm là ngƣời phụ nữ nông thôn, thím
sống với chồng nhƣng không có con. Khi chồng chết, mẹ chồng cay nghiệt, thím bỏ
lên thị trấn ở cho nhà Lỗ Tứ. Thím làm không tiết sức, ăn ít làm nhiều nên gia đình
này rất thích, giao cho thím hết các việc quan trọng nhƣ lễ cầu phúc, thím cảm thấy
mãn nguyện. Một hôm, thím đi vo gạo ở bờ sông thì bị mẹ chồng cho ngƣời bắt trói,
đem bán để lấy tiền cƣới vợ cho con trai thứ hai. Lúc đầu thím phản kháng lại nhƣng
vô ích, sau đó thím có con với ngƣời chồng mới, đặt tên là A Mao. Nhƣng không may,
ngƣời chồng này mất, con bị sói ăn, gia đình chồng đuổi thím đi, thím trở về ở cho gia
đình Lỗ Tứ. Nhƣng gia đình này không cho thím động vào đồ cúng nữa, vì thím đã có
hai đời chồng. Sau đó thím bị đuổi ra khỏi nhà, gặp Lỗ Tấn thím muốn biết con ngƣời
khi chết có linh hồn không. Thím không muốn có linh hồn vì thím sợ bị xẻ đôi ngƣời
vì tội có hai chồng. Mặt khác, thím muốn có linh hồn để gặp lại A Mao. Cuối cùng
thím bị đói rét và chết vùi trong tuyết đêm giao thừa.
“Trong quán rượu” là tác phẩm kể về nhân vật “tôi” trong một lần về thăm quê
có trở lại quán rƣợu Nhất Thạch Cƣ, nơi đã ghi dấu nhiều kỉ niệm thời thơ ấu của anh.
Tại đây anh gặp lại Lã Vĩ Phủ, là một nhà giáo cũng là một ngƣời bạn lúc xƣa của anh.