MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ HAIKU CỔ ĐIỂN NHẬT BẢN - Pdf 13

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I.1. Văn học Nhật Bản là nền văn học lâu đời, có nhiều thành tựu rực rỡ,
từng được ghi nhận qua hai giải Noben văn học: một của Y.Kawabata năm 1969,
một của K.Oe năm 1994. Văn học Nhật Bản trở thành đối tượng hấp dẫn đối với
rất nhiều nhà nghiên cứu. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về văn học Nhật
Bản chưa nhiều nhất là những công trình nghiên cứu về thơ ca cổ Nhật Bản. Vì
vậy trong tương lai vẫn rất cần những công trình tìm hiểu về nền văn hoá, văn
học Nhật Bản.
I.2. Thơ haiku là một biểu hiện của tinh thần Nhật Bản. Giáo sư R.H.Blyth
trong cuốn Đời sống và tính cách Nhật Bản trong thơ xuyên liễu (Japanese Life
and Character in Senryu) (Hokuseido Tokyo, 1960) đã viết: “Nước Nhật sinh ra
cùng với Basho vào năm 1644. Ông chính là người sáng tạo ra linh hồn Nhật
Bản”. R.Blyth đã đánh giá cao vị trí của haiku cũng như vai trò của Basho trong
văn học Nhật Bản đến mức coi haiku là linh hồn của Nhật Bản và M.Basho là
người sáng tạo ra linh hồn Nhật Bản…
Haiku có nguồn gốc từ thể tanka (đoản ca). Tanka là thể thơ tiêu biểu nhất
của waka (hòa ca) – thơ ca của người Nhật. Tanka là thể thơ ngắn, mỗi bài có 31
âm tiết, chia làm 5 dòng 5 – 7 – 5 – 7 – 7. Thể thơ này chiếm ưu thế trong Vạn
diệp tập – một thi tuyển đồ sộ của văn học Nhật Bản.
Từ thế kỉ thứ XIV – XV, khi tanka bắt đầu có dấu hiệu đi xuống, trên thi
đàn văn học Nhật Bản xuất hiện thể renga (liên ca). Thực chất đây là trò chơi nối
thơ của các nhà thơ tanka. Mỗi bài renga cũng có nhịp phách 5 – 7 – 5 – 7 – 7
nhưng chia thành hai phần rõ rệt, ba câu đầu là kami no ku (thượng cú) gồm 17
âm tiết theo nhịp phách 5 – 7 – 5 và hai câu sau là shimmo no ku (hạ cú) gồm 14
âm tiết theo nhịp phách 7 – 7. Những câu thơ này đan xen với nhau để tạo thành
những chuỗi dài gồm 36, 100 có khi nhiều hơn nữa. Trong bài renga liên hoàn,
1
khổ đầu được gọi là hokku (phát cú) và quy chiếu theo mùa trong năm. Chúng có
thể do một nhóm thi sĩ hoặc một thi sĩ sáng tác với tư cách nhóm.

bản 1 tiết (đọc thêm), bên cạnh đó, thơ haiku hàm súc, khó hiểu, tài liệu về thơ
haiku hiếm. Trong Sách giáo viên Ngữ Văn 10 bộ đại trà, các nhà soạn sách
cũng đã khẳng định: “Thơ haiku là một thể thơ lạ đối với học sinh, không chỉ lạ
về thể loại mà còn lạ về thi pháp”.
Mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc dạy và học thơ
haiku ở phổ thông, chúng tôi đã chọn đề tài Một số đặc điểm nghệ thuật thơ
haiku cổ điển Nhật Bản.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Hiện nay, nền văn học Nhật Bản nói chung và thơ haiku nói riêng được
khá nhiều người quan tâm. Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nhiều công trình
nghiên cứu về văn học Nhật Bản. “Nhìn trong tổng thể và đặt trong tương quan
chung với các nền văn học được dịch và giới thiệu ở Việt Nam thì việc dịch và
giới thiệu văn học Nhật Bản còn quá ít ỏi” [18, 261]. Thơ haiku cũng không phải
ngoại lệ. Các nhà nghiên cứu đã nỗ lực không ngừng để đưa haiku đến gần với
chúng ta hơn.
Sau khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu thơ haiku, chúng tôi chia các
tài liệu các tài liệu nghiên cứu về nó làm ba loại:
Thứ nhất là các loại sách, giáo trình, chuyên luận, chuyên khảo.
Lịch sử nghiên cứu về thơ haiku ở Việt Nam đang dừng lại ở một mức độ
khiêm tốn với lượng sách ít ỏi và một số gương mặt các nhà nghiên cứu, dịch giả
tiêu biểu: Phan Nhật Chiêu, Lê Thiện Dũng, Đoàn Lê Giang, Lưu Đức Trung,
Vĩnh Sính… Các công trình nghiên cứu của họ đã cung cấp cho người đọc một
cái nhìn tương đối toàn diện về thơ haiku trên cả hai mặt nội dung và nghệ thuật.
Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu là người có nhiều công trình nghiên cứu về
thơ haiku nhất. Bên cạnh các bài viết đăng trên các tạp chí trong nước, ông đã
3
xuất bản nhiều cuốn sách viết về thơ haiku như: Basho và thơ haiku (1994), Thơ
ca Nhật Bản (1998), Ba nghìn thế giới thơm (2007)… Trong các cuốn sách đó,
ông đã chỉ rõ những đặc trưng nghệ thuật của thơ haku về hình thức, đề tài, cảm
thức thẩm mĩ. Trong cuốn Văn học Nhật Bản – Từ khởi thủy đến 1868 (2003)

người Nhật có học nào cũng làm thơ haiku”. Có lẽ, tính trữ tình, tuyệt mĩ, cao
siêu trong thơ haiku được thể hiện ở nội dung, ở dấu ấn Thiền tông, tư tưởng
thẩm mĩ, ở nghệ thuật biểu hiện.
Có thể nói, các cuốn sách, giáo trình, chuyên luận, chuyên khảo về thơ
haiku tuy chưa nhiều nhưng đã chỉ rõ và khái quát được các đặc điểm cơ bản về
đặc trưng nội dung và nghệ thuật của thơ haiku. Đây là nguồn tài liệu quý báu
giúp chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Thứ hai là các bài báo đăng trên các tạp chí trong nước.
Thơ haiku được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh và được đăng tải nhiều
trên các tạp chí trong và ngoài nước. Ở trong nước, các bài nghiên cứu trên các
tạp chí đã đi vào giới thiệu khái lược về thơ haiku, các tác giả, tác phẩm tiêu biểu
đặc biệt đi vào so sánh giữa thơ haiku và các thể thơ khác: : Basho – Nguyễn
Trãi – Nguyễn Du những hồn thơ đồng điệu (Đoàn Lê Giang, Tạp chí Văn học,
2003), Basho (1644 – 1694) và Huyền Quang (1254 – 1334) sự gặp gỡ với mùa
thu hay sự tương hợp về cảm thức thẩm mĩ (Lê Từ Hiển, Tạp chí Nghiên cứu
Văn học số 7, 2005), Phác thảo những nét tương đồng và dị biệt của ba thể thơ:
tuyệt cú, haiku và lục bát (Nguyễn Thị Bích Hải trong cuốn Văn học so sánh,
nghiên cứu và triển vọng, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005), So sánh chất
Thiền trong thơ haiku Nhật Bản và thơ mang màu sắc Thiền Tông ở Việt Nam
(Nguyễn Thị Thanh Chung, Tạp chí Khoa học, Đại học Sư Phạm Hà Nội, số 2,
2005), Sự biểu hiện của cái “tĩnh” và “động” trong thơ Trần Nhân Tông và thơ
haiku của M.Basho (Hà Văn Lưỡng, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 1,
5
2006), Haiku – Lục bát một vài ghi nhận (Nguyễn Thị Thanh Xuân, Tạp chí Văn
học 2012), Đặc điểm thơ haiku Nhật Bản (Nguyễn Thị Mai Liên, Nghiên cứu
Đông Bắc Á, 10, 2010), Một số phương diện thi pháp thơ haiku cổ điển Nhật
Bản (Nguyễn Thị Mai Liên, Tạp chí Khoa học, ĐHQG Hà Nội, 5, 2014)
Nhìn chung các bài báo trên thông qua so sánh đều nhằm làm rõ những
đặc trưng nghệ thuật của thơ haiku như: tính ngắn gọn, kiệm lời, kết cấu tạo
khoảng trống…

Thứ ba là các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp.
Hiện nay thơ haiku đang được giảng dạy, nghiên cứu tại các trường Cao
đẳng, Đại học, tuy nhiên chưa có nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh lựa chọn thơ
haiku làm đề tài nghiên cứu. Chúng tôi tìm thấy trong Thư viện Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội hai Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục chuyên ngành Lí luận
và Phương pháp dạy học của Nguyễn Thị Mai Anh với đề tài Định hướng dạy
học thơ Haiku ở lớp 10 THPT từ góc nhìn văn hóa và Luận văn Dạy học thơ Hai
– cư Nhật Bản ở lớp 10 trong quan hệ so sánh với thơ Thiền Việt Nam của Trịnh
Thị Tâm. Hai tác giả đã đưa ra hướng tiếp cận thơ haiku cho học sinh – một đối
tượng tiếp nhận khá đặc biệt theo hai hướng: từ góc nhìn văn hóa và trong quan
hệ với thơ Thiền Việt Nam. Các tác giả đều khẳng định: “Thơ haiku là một thể
thơ độc đáo của Nhật Bản, thấm đẫm tinh thần Thiền tông và tinh thần văn hóa
phương Đông. Không thể hiểu thơ haiku nếu không có kiến thức gì về Phật giáo”
[1, 110]. Đặc biệt, tác giả Trịnh Thị Tâm đã đi vào so sánh trên các nét tương
đồng và dị biệt của thơ haiku với thơ Thiền Việt Nam trên các mặt: hình thức, đề
tài, hình ảnh, cảm xúc, tư tưởng, ngôn ngữ.
Luận văn của Bùi Thị Mai Anh có đề tài Chất sabi trong Lối lên miền
Oku, luận văn của Trần Thị Oanh với đề tài Một số cảm thức thẩm mĩ trong thơ
haiku Nhật Bản đề cập đến những lí tưởng thẩm mĩ cơ bản của người Nhật thể
hiện trong thơ như sabi, wabi, aware
7
Luận án của Nguyễn Thị Quỳnh Như với đề tài Thơ Haiku Nhật Bản: Lịch
sử phát triển và đặc điểm thể loại được bảo vệ tại Đại học Khoa học xã hội &
Nhân văn – ĐHQG TPHCM vào ngày 14/6/2013 đã đi sâu vào nghiên cứu, tìm
hiểu những giá trị lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của thơ haiku qua
các thời kì, làm rõ những đặc trưng về nội dung, nghệ thuật của thơ haiku nhằm
đưa ra bức tranh đầy đủ, muôn mặt của thể loại này đến với người đọc.
Nhìn chung thơ haiku trong các công trình nghiên cứu, trong một số sách
báo, tạp chí chỉ được xem xét ở mức khái quát, chưa có chuyên luận nào đi sâu
cụ thể vào phương diện nghệ thuật của thể thơ độc đáo này. Các công trình

được triển khai thành 3 chương:
• Chương 1: Kết cấu hư không
• Chương 2: Không gian - thời gian nghệ thuật
• Chương 3: Luật thơ và biện pháp tu từ
9
CHƯƠNG 1
KẾT CẤU HƯ KHÔNG
I. HƯ KHÔNG TRONG THIỀN VÀ CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT
I.1. Hư không trong Thiền
Nhật Bản là xứ sở của đạo Phật. Trong nhiều tông phái của Phật giáo,
Thiền tông có ý nghĩa to lớn trong văn hóa Nhật Bản. “Thiền đến Nhật Bản từ
thế kỉ thứ 12 và trong suốt tám trăm năm lịch sử nó đã ảnh hưởng tới đời sống
Nhật Bản trong nhiều phương diện” [44, 365]. “Thiền đem đến cho con người
triết lí sâu sắc và sáng suốt. Thiền chính là chốn tâm vốn “tĩnh lặng, sáng suốt”
tuyệt đối của mỗi người”, “tu Thiền chính là làm cho “tính chân” sẵn có nơi tâm
linh của mỗi người bộc lộ ra, có như vậy mới tận dụng được sự tĩnh lặng tột cùng
và phát huy được công năng sáng suốt, rõ ràng bất tận của tính chân” [3, 211].
Từ Thiền – nói đầy đủ là Thiền na hay Thiền định – xuất phát từ chữ Zen
trong tiếng Nhật. Chữ Zen có nguồn gốc từ chữ Ch’an trong tiếng Trung. Chữ
Ch’an lai bắt nguồn từ Dhyana trong tiếng Saskrit, Ấn Độ. Dhyana nghĩa là tịch
lự, trầm tư chiêm nghiệm về một vấn đề cho đến khi thức ngộ thấu đáo, triệt để.
Thiền “là thể tĩnh vốn tĩnh lặng tràn đầy sáng suốt của chân tâm, nói gần
hơn Zen (Thiền) chính là sự vận hành của tâm tỉnh giác” [3, 211]. Thiền luôn đòi
hỏi sự tĩnh tâm, đề cao trạng thái tĩnh và hư. “Hư” là trống không nhưng không
phải là trống rỗng tuyệt đối không có gì cả mà “hư” để tâm trở nên không tạp
niệm, không thiên kiến. Bản chất của Thiền đã xác định “hãy là chính mình khi
đó anh sẽ mênh mông như không gian, tự do như chim trên trời, cá dưới nước,

những viễn đá lớn tượng trưng cho những hòn đảo nổi lên trên mặt biển. Những
đường lăn tăn, gợn sóng gợi lên hình ảnh những con sống ngoài khơi. Thế nhưng
sóng và biển ở đây chỉ lặng yên mà không hề chuyển động, điều này đem lại cho
chúng ta cảm giác giữa hữu và vô” [37]. Đó là sự hài hòa, tịch mịch, trống vắng.
11
Bước vào vườn cảnh, tâm hồn con người ta trở nên thanh sạch và sáng trong, đó
là lúc con người trút bỏ được bụi đời, những bộn bề của cuộc sống để thư giãn,
cân bằng lại trạng thái tinh thần. Khi đó, tâm và cảnh sẽ hòa làm một, không gian
và thời gian như đứng yên để con người chiêm nghiệm, để nhận ra những vẻ đẹp
tự nhiên, bình dị và sống động trong hiện tại.
Thư pháp được xem là môn nghệ thuật cao cấp, mang tính đặc thù, có
ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tâm linh của người dân Nhật Bản. Chỉ với cây
bút lông và thỏi mực, người Nhật đã đẩy môn nghệ thuật đậm nét phương Đông
này lên một bậc cao hơn với tên gọi môn Hitsuzendo tức Thư pháp Thiền. “Hitsu
là nét bút hấp thụ và phỏng chiếu cảnh giới tâm của hành giả, Zen là sự vận hành
của tâm một cách toàn triệt trong thời gian và hoàn cảnh hiện tại, thoát khỏi tâm
lượng hẹp hòi và Do là sự vận hành tương tục của Đạo” [15, 104]. Viết thư pháp
cũng là cách để các hành giả tu Thiền. Triết lí hư không của Phật giáo Thiền
tông thể hiện khi các hành giả hạ tâm vào công phu tu thập họ gạt phăng khỏi
tâm thức những thấy – biết (tư kiến), đạt được trạng thái giác ngộ cao, những
giây phút thể nghiệm hoặc chiêm ngưỡng trang trọng và ý vị. Thư pháp Thiền
dùng một vòng tròn, dạng đơn giản nhất trong tất cả các hình ảnh, để biểu lộ sự
đa dạng của đạo Phật – trống không nhưng tròn đầy, vô tận, rõ ràng và trọn vẹn.
Người nghệ sĩ thể hiện mỗi nét bút như thể đang đối diện với giây phút cuối
cùng của cuộc đời mình (hữu và vô nhất thể thành một), tâm hồn của mình được
khắc họa trên trang giấy. Quá trình thể hiện và thưởng thức các bức thư pháp
Thiền “giúp con người “quán chiếu u uẩn” của chính mình hay còn được gọi là
“quán chiếu bát nhã” (trí tuệ đạt được thông qua chiêm nghiệm)” [3, 214].
Tranh mặc hội (sumie): cũng giống như tranh thủy mặc Trung Quốc,
tranh mặc hội sumie chỉ dùng bút lông thấm mực nho quệt, phẩy… lên giấy

của mình để xem xét, đánh giá như thế mới đạt được khoảnh khắc đốn ngộ.
13
II. KẾT CẤU HƯ KHÔNG TRONG THƠ HAIKU
II.1. Giới thuyết khái niệm kết cấu hư không
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, kết cấu là “toàn bộ tổ chức phức tạp và
sinh động của tác phẩm” [13, 156]. “Kết cấu là phương tiện cơ bản để khái quát
nghệ thuật”, “nếu như những yếu tố kĩ thuật, thủ pháp là có giới hạn thì kết cấu
là vô hạn, vì mỗi tác phẩm là một “sinh mệnh”, một “cơ thể sống” nên kết cấu
tác phẩm là một kiến trúc, một tổ chức cụ thể, phù hợp với nội dung cụ thể của
tác phẩm” [13, 157].
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân đã khẳng định, kết cấu
là “sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật; tức là sự cấu tạo tác
phẩm, tùy theo nội dung và thể tài. Kết cấu gắn kết các yếu tố của hình thức và
phối thuộc chúng với tư tưởng. Các quy luật của kết cấu – là kết quả của nhận
thức thẩm mĩ, phản ánh những liên hệ bề sâu của thực tại” [2, 169].
Những định nghĩa trên đây đều là những tiền đề cơ sở để chúng tôi bước
đầu tìm hiểu về kết cấu hư không – đặc trưng thi pháp của thơ haiku. Như vậy,
kết cấu là nền tảng, là cơ sở cho việc thể hiện tư tưởng, nội dung của tác phẩm,
là công cụ vô hình để tác giả thể hiện ý đồ nghệ thuật của mình.
Trong nhiều tài liệu, các tác giả vẫn thường sử dụng thuật ngữ kết cấu
chân không để chỉ đặc trưng thi pháp của thơ haiku nhưng chúng tôi sử dụng
thuật ngữ kết cấu hư không cho bài viết của mình. Bởi “chân không” là thuật ngữ
vật lí dùng để chỉ khoảng trống rỗng tuyệt đối, còn hư không là thuật ngữ của
Thiền tông” [21, 67], thể hiện triết lí hư không của đạo Phật. Thơ haiku thấm
đẫm tinh thần Thiền tông, do đó, triết lí hư không của đạo Phật đã thấm nhuần
vào từng câu, chữ, hình ảnh trong thơ haiku, tạo nên đặc trưng thi pháp của thơ
haiku – kết cấu hư không.
Như đã nói ở trên, hư không là khoảng trống, là sự tĩnh lặng, u tịch. Khi ta
bắt gặp một bức tranh Nhật Bản được vẽ theo kiểu trọng tâm dồn về một góc
phần còn lại là khoảng trống mênh mông, khi bước vào vườn cảnh ta cảm nhận

“không”. “Không” là sự tự do tuyệt đối của tinh thần, là bản chất của Thiền, là
đặc trưng của nền văn hóa Nhật Bản. Kết cấu hư không được tạo nên từ triết lí
tương giao hòa hợp, bình đẳng của vạn vật, chúng sinh, từ triết lí vô ngã, vô
thường không đứng yên mà luôn chuyển động, biến đổi không ngừng theo chu
trình sinh, trụ, dị, diệt của vạn vật trong vũ trụ. Con người phải hòa vào chốn hư
không để giải thoát tâm linh, phải tự chính mình làm sạch và lấp đầy khoảng
trống trong tâm. Đây cũng chính là triết lí sống mà người Nhật hằng theo đuổi.
Trong thơ haiku, kết cấu hư không được biểu hiện bên ngoài bài thơ, giữa
các hình ảnh, từ ngữ, biểu hiện ở các hình ảnh tượng trưng và qua nghệ thuật
cảm nghiệm – nhất tâm đồng sáng tạo.
II.2. Hư không bên ngoài bài thơ: ngôn ngữ thơ cực tiểu
Ngắn gọn, không dài dòng, cô đọng là một đặc trưng nổi bất nhất của thơ
haiku. Mỗi bài haiku chỉ gói gọn trong 17 âm tiết, thi thoảng có bài 19 âm tiết
phân bố thành ba dòng 5 – 7 – 5 âm (5 – 9 – 5 âm). Thơ haiku được viết theo
hình thức của Nhật Bản từ trên xuống dưới chỉ có một dòng, giống như một dòng
thác đổ.
quán bên đường
các du nữ ngủ
trăng và đinh hương
(Basho – Nhật Chiêu dịch)
Ngôn ngữ cực tiểu đã ra những khoảng trống tối đa bên ngoài bài thơ.
Trong một số lượng ngôn từ tối thiểu như thế, người đọc phải vận dụng hết khả
năng liên tưởng của mình để lí giải sự bí ẩn của ngôn từ:
từ bốn phương trời xa
cánh hoa đào lả tả
gợn sóng hồ Bi – wa
(Basho – Đoàn Lê Giang dịch)
16
Bài thơ chỉ có 17 âm tiết ngắn gọn nên nhà thơ tả cảnh mùa xuân chỉ bằng
hình ảnh cánh hoa đào mỏng manh như những “đám mây hoa” rụng xuống mặt

mà nhà thơ Tagore (Ấn Độ) nhận xét trong thơ haiku “nhà thơ chỉ giới thiệu đề
tài rồi bước nhanh sang một bên” và “lý do khiến nhà thơ rút nhanh chóng thế vì
người đọc Nhật có quyền năng tinh thần về tưởng tượng rất lớn” [21, 56 – 57].
Trên thế giới, bên cạnh thơ haiku (Nhật Bản), có thơ lục bát (Việt Nam),
thơ ngũ ngôn tứ tuyệt (Trung Quốc), thơ ghazal (thơ đôi – Ả rập), thơ sijo (Hàn
Quốc) là những thể thơ ngắn nhất thế giới. Mỗi thể loại đều là những thể thơ
truyền thống, có ảnh hưởng sâu rộng tới thi ca dân tộc và thi ca khu vực. Tuy
nhiên các thể loại bên cạnh những điểm tương đồng vẫn có những điểm khác biệt
để làm nên nét đặc trưng riêng của mỗi thể thơ.
đất khách mười mùa sương
về thăm quê ngoảnh lại
Edo là cố hương
(Basho – Đoàn Lê Giang dịch)
Tôi bắt gặp cái liếc nhìn của em với mái tóc rối bời
Trái tim phiêu lãng của tôi đã là của em từ đó
(Ghazal tiếng Urdu – Mir - Ấn Độ – Mai Liên dịch)
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
(Ca dao – Việt Nam)
Tĩnh dạ tư
Đầu giường ánh trăng rọi
Mặt đất như phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương
(Thơ ngũ ngôn tứ tuyệt – Lí Bạch – Tương Như dịch)
18
Em sẽ bẻ đôi đêm đông dài giá lạnh
Ủ ấm một nửa dành ngày kia anh đến
Để nối thêm dài đêm ân ái của chúng ta.
(Thơ sijo – Hwang Jin Y – Hà Văn Lưỡng dịch)

Bài thơ trên thể hiện nỗi nhớ quê hương, hoài niệm về một thời đã qua
của Basho. Nhưng nhà thơ không bày tỏ trực tiếp mà gửi gắm thông qua hai hình
ảnh “chim đỗ quyên” và “kinh đô”. Giữa hình ảnh “chim đỗ quyên” và hình ảnh
“kinh đô” hoàn toàn tách biệt không có bất cứ sợi dây liên hệ nào. Do đó, để hiểu
được nội dung bài thơ người đọc cần phải dùng kiến thức của mình để tìm ra mối
liên hệ giữa các hình ảnh đó. “Chim đỗ quyên” là thi liệu quen thuộc của văn học
Trung Quốc và văn học Việt. Theo điển tích, vua Thục mất nước hóa thành chim
đỗ quyên, tiếng chim kêu nghe khắc khoải như nỗi hoài niệm về một thời vàng
son đã qua. “Kinh đô” trong bài thơ là Kyoto (Kinh đô cũ của Nhật Bản) nơi
Basho đã sống suốt đời trai trẻ (1666 – 1672), sau đó ông chuyển lên sống ở
Edo. Hai mươi năm sau ông trở lại Kyoto. Đứng trên cùng một không gian
nhưng tâm tưởng nhà thơ lại ở hai khoảng thời gian khác nhau. “Kinh đô” trong
dòng thơ thứ hai là hiện tại, “kinh đô” trong dòng thơ thứ ba là quá khứ. Cảnh
vật đã thay đổi, mọi thứ không còn được như xưa nên khi nghe tiếng chim đỗ
quyên hót ông lại nhớ tới “kinh đô” của hai mươi năm trước. Có lẽ, bóng hình xứ
sở đã in dấu rất sâu đậm trong tâm trí nhà thơ nên mới chỉ nghe tiếng chim nhà
thơ đã ngậm ngùi nhớ lại mảnh đất một thời mình gắn bó. Nỗi nhớ “cố hương”
xuất phát được gợi lên từ “tiếng chim quyên” trong thơ Basho làm ta nhớ tới nỗi
nhớ “cố hương” của Hạ Tri Chương khi nghe thấy “hương âm” trong bài “Hồi
hương ngẫu thư”:
20
Thiếu tiểu li gia lão đại hồi
Hương âm vô cải mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?
Dịch thơ:
Bé đi già mới về nhà
Tiếng quê vẫn thế tóc đà rụng thưa
Trẻ con trông thấy hững hờ
Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao?

(Basho – Nhật Chiêu dịch)
Trước cảnh đẹp những cánh hoa đào mỏng manh rơi xuống nhà thơ cứ
ngỡ như những “đám mây hoa”. Nhà thơ đang đắm chìm trong vẻ đẹp thanh tao
ấy của thiên nhiên mà không biết tiếng chuông vọng lại từ ngôi đền nào. Tiếng
chuông vang lên như đang phá tan sự yên tĩnh trong không gian. Nhưng không,
tiếng chuông vang lại càng tô đậm sự tịch lặng của cõi hư vô. Trong không gian
tịch lặng ấy, nhà thơ đang trầm mặc để lắng nghe những âm thanh vang vọng của
đời sống, để cảm nhận những vẻ đẹp tinh tế của đời thường.
Tóm lại, hư không giữa các từ ngữ, hình ảnh được thể hiện thông qua việc
nhà thơ đặt các từ ngữ, hình ảnh cạnh nhau, giữa chúng không có cảm xúc của
thi nhân, những lời bình luận hay những gợi ý dù là nhỏ nhất. Tất cả hiện lên
khách quan, chân thực. Người đọc dùng kinh nghiệm và liên tưởng của mình để
kết nối chúng lại, từ đó lí giải và chiêm nghiệm.
II.4. Nghệ thuật tượng trưng
Nghệ thuật trượng trưng là một trong những biện pháp tạo nên kết cấu hư
không. Trong thơ haiku, nghệ thuật tượng trưng biểu hiện trong việc sử dụng các
22
hình ảnh mang tính đa nghĩa, biểu tượng, trong cách cảm nhận bằng sự tương
giao của các giác quan khi cảm nhận hình ảnh, thanh sắc, hương vị.
Hình ảnh được sử dụng vừa mang nghĩa thực vừa mang nghĩa tượng trưng
tạo nên tính đa nghĩa cho thơ haiku. Người đọc phải sử dụng kinh nghiệm của
mình để cắt nghĩa, lí giải, chiêm nghiệm các nghĩa được gợi ra. Trong thơ haiku,
các nhà thơ không miêu tả trực tiếp sự vật và bày tỏ nỗi lòng. Họ lôi cuốn người
đọc bằng thủ pháp ám thị (gián tiếp), họ khơi gợi hứng thú của độc giả bằng cái
bí ẩn đằng sau lớp ngôn từ, hình ảnh. Các hình ảnh của đời sống được nhà thơ
thả vào trong bài để chúng bồng bềnh trôi. Con ếch nhảy vào chỉ nghe tiếng
nước vang lên:
ao cũ
con ếch nhảy vào
vang tiếng nước xao

không ngừng ấy:
trong bụi măng tre
con chim họa mi cất tiếng hót
bài hát của tuổi già
(Basho – Thanh Châu dịch)
Đặc biệt để gợi lên ý nghĩa biểu tượng, thơ haiku thường sử dụng quý ngữ
(từ chỉ mùa). Quý ngữ có thể là mùa nhưng cũng có thể là hình ảnh tiểu biểu cho
một mùa trong năm. Chính nhờ quý ngữ mà không gian và thời gian trong thơ
haiku được mở ra, tạo điều kiện cho người đọc khám phá những ý nghĩa ẩn tàng
trong thơ.
Vẻ đẹp thiên nhiên đã “tạo nên cho dân tộc Nhật Bản một cảm thức đặc
biệt tinh tế trước những vẻ đẹp của thiên nhiên qua những hình sắc, âm thanh,
mùi vị” [9, 3]. Các hình ảnh gợi lên trong thơ haiku chính là sự thể hiện mối
tương giao giữa các hình sắc, âm thanh và mùi vị đó. Mối tương giao này khiến
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status