Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành Lâm nghiệp Việt Nam những năm 1990-2002 - Pdf 26

Lời cảm ơn
Hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, trong điều kiện hạn chế về thời
gian thực tập, số lợng tài liệu cũng nh giới hạn về lợng kiến thức kinh
nghiệm thực tế, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi xin chân thành cảm ơn sự
giúp đỡ nhiệt tình, chỉ bảo cặn kẽ của thầy giáo TS Lê Nhiệm Tr ờng Đại
học Ngoại thơng Hà Nội, Các cô chú cán bộ công tác tại Viện Khoa học
Lâm nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trờng Đại học
Đông Đô đã dìu dắt dạy dỗ trong những học qua, cảm ơn cha mẹ, ngời đã
sinh ra tôi, nuôi dỡng, dạy dỗ tôi nên ngời.
Trong bài viết này chắc chắn còn nhiều thiếu sót, tôi mong rằng sẽ
nhận đợc nhiều ý kiến đóng góp để đề tài đợc hoàn thiện hơn.
1
Mở đầu
Trong những năm qua, nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng khích lệ
trong công cuộc đổi mới kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam đã từng bớc thoát khỏi
nghèo nàn, lạc hậu và bớc đầu có tích luỹ. Nớc ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng
kinh tế xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm. Đến nay, thế và lực
của nớc ta đã có sự biến đổi về chất. Chúng ta đã tạo đợc những tiền đề cần
thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới: Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc
Trong chiến lợc phát triển kinh tế xă hội đến năm 2010 và những năm
tiếp theo Đảng và chính phủ Việt Nam đã đa ra chỉ tiêu tăng trởng kinh tế với
mức bình quân là 7,5%; năm 2010 tổng sản phẩm trong nớc (GDP) tăng ít nhất
gấp đôi năm 2000 và phấn đấu đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành nớc công
nghiệp theo hớng hiện đại hóa. Để thực hiện mục tiêu tăng trởng đó cần giải
quyết đồng bộ nhiều vấn đề, trong đó đầu t là một trong những thách thức lớn
nhất và khó giải quyết nhất đối với nền kinh tế nớc ta hiện nay. Theo bộ kế
hoạch và đầu t, để đạt tốc độ tăng trởng kinh tế 7- 8 % năm trong 10 năm tới
thì nhu cầu vốn đầu t giai đoạn 2001- 2005 cần khoảng 53- 55 tỉ USD. Con số
này là lợng lớn so với khả năng tích luỹ của Việt Nam, do vậy cần phải tính
đến khả năng huy động nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.

thấp kém.
Đối tác đầu t nớc ngoài thờng muốn cùng đối tác trong nớc kết hợp đầu
t cùng chia lợi nhuận, cùng chịu rủi ro nhng vốn đối ứng trong nớc còn hạn
hẹp.
Trong giai đoạn tới để phát triển Lâm nghiệp nớc ta với tốc độ cao và ổn
định, việc thu hút và sử dụng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài trong nông lâm
3
nghiệp là rất quan trọng, một câu hỏi nghiên cứu đặt ra: Làm thế nào để thu
hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài trong Lâm nghiệp?
Xuất phát từ thực trạng đầu t trực tiếp nớc ngoài trong Lâm nghiệp Việt Nam
và tính cấp thiết của vấn đề này, em chọn đề tài Đầu t trực tiếp nớc ngoài
trong ngành Lâm nghiệp Việt Nam những năm 1990- 2002 . Với đề tài này
em muốn có một cái nhìn toàn cảnh về thực trạng đầu t trực tiếp nớc ngoài
trong ngành lâm nghiệp nớc ta những năm qua, đánh giá một cách sâu sắc hơn
những tác động của đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với ngành lâm nghiệp và thấy
đợc những vấn đề đặt ra đối với hoạt động đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, từ đó
đề nghị một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu
t trực tiếp nớc ngoài trong lâm nghiệp phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của
đất nớc.
Đề tài gồm những vấn đề chính sau:
chơng I : Kiến thức cơ bản về đầu t nớc ngoài và lâm nghiệp Việt Nam.
Chơng II : Thực trạng đầu t nớc ngoài vào lâm nghiệp Việt Nam thời gian
qua.
Chơng III : Các giải pháp và định hớng đầu t nớc ngoài vào lâm nghiệp Việt
Nam.

Chơng I
Kiến thức cơ bản về đầu t trực tiếp nớc ngoài và Lâm
nghiệp Việt Nam.
4

- Bên cung cấp vốn tuy không tham gia vào hoạt động doanh nghiệp nh-
ng trớc khi cho vay đều nghiên cứu tính khả thi của dự án đầu t, có yêu cầu về
bảo lãnh hoặc thế chấp các khoản vay để giảm rủi ro.
- Vốn đầu t dới dạng tiền tệ dễ chuyển thành các phơng tiện đầu t khác,
doanh nghiệp vay vốn toàn quyền sử dụng các khoản vốn vay.
- Chủ đầu t nớc ngoài thu lợi nhuận thông qua lãi suất ngân hàng cố
định theo khế ớc vay độc lập với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp vay, có
quyền sử dụng tài sản thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan bảo lãnh thanh toán
khoản vay trong trờng hợp bên vay không có khả năng thanh toán.
2.2. Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).
Đây là các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản tài trợ có hoàn
lại( cho vay dài hạn với một số thời gian ấn định và lãi suất thấp) của các
chính phủ, các hệ thống tổ chức Liên Hợp Quốc, các tổ chức phi chính phủ, tổ
chức tài chính quốc tế ( Nh WB, ADB và IFM ) dành cho chính phủ và nhân
dân nớc nhận viện trợ. Các cơ quan và tổ chức hỗ trợ phát triển nói trên đợc
gọi chung là đối tác viện trợ nớc ngoài.
ODA là nguồn vốn tài trợ của nớc ngoài, các nhà tài trợ không trực tiếp
điều hành dự án, nhng có thể tham gia gián tiếp dới hình thức nhà thầu hoặc
hỗ trợ chuyên gia. Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản
viện trợ hoàn lại. Tuy vậy, nếu quản lý, sử dụng vốn kém hiệu quả sẽ có nguy
cơ để lại gánh nặng nợ nần trong tơng lai.
Nguồn vốn ODA có các hình thức cơ bản nh: Hỗ trợ dự án, hỗ trợ phi
dự án và tín dụng thơng mại.
6
II. Các vấn đề cơ bản về đầu t trực tiếp nớc ngoài.
1. Khái niệm và bản chất của đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài (Foreign Direct Investment) là một hình thức
của đầu t quốc tế. Sự ra đời và phát triển của nó là kết quả tất yếu của quá trình
quốc tế hoá và phân công lao động quốc tế. Đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc xem
xét nh một hoạt động kinh doanh ở đó có yếu tố di chuyển vốn quốc tế và kèm

doanh nghiệp liên doanh, và trong quá trình hoạt động không đợc giảm vốn
pháp định. Đối các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng tại các vùng có điều kiện
kinh tế, xã hội khó khăn, các dự án đầu t vào miền núi, vùng sâu, vùng xa các
dự án trồng rừng tỷ lệ này có thể thấp đến 20%. Nhng phải đợc cơ quan cấp
giây phép đầu t chấp nhận.
* Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
Doanh nghiệp loại này là doanh nghiệp sở hữu của nhà đầu t nớc ngoài
(tổ chức hoặc cá nhân nớc ngoài) do nhà đầu t nớc ngoài thành lập tại nớc chủ
nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm với kết quả hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài đợc thành lập theo luật pháp nớc chủ nhà.
* Các hình thức xây dựng chuyển giao kinh doanh
- Hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT): Đây
là hình thức chủ đầu t tự chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng kinh doanh công
trình trong một thời gian dài đủ để thu hút vốn đầu t và có lợi nhuận hợp lý.
Sau khi kết thúc dự án, toàn bộ công trình xẽ đợc chuyển giao cho nớc chủ nhà
và không thu bất cứ khoản tiền nào.
- Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh (BTO): Với hình thức
này sau khi xây dựng xong, nhà đầu t chuyển giao cho nớc chủ nhà. Chính phủ
giành cho nhà đầu t quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian nhất
định để thu hồi đủ vốn đầu t và có lợi nhuận hợp lý.
8
- Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT): Đối với hình thức này, sau khi
xây dựng xong , nớc chủ nhà xẽ tạo điều kiện cho chủ đầu t nớc ngoài thực
hiện dự án khác để thu hồi đủ vốn và có lợi hợp lý.
* Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Đây là loại hình đầu t trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết thoả
thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nớc nhận
đầu t, trên cơ sở quy định rõ đối tợng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách
nhiêm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bê tham gia.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên

triển.
Tác dụng của đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với các nớc đang phát triển
rất to lớn, nó vừa có tính tích cực vừa có tính tiêu cực. Vấn đề là ơ chỗ các nớc
đang phát triển phải biết tận dụng những điểm tích cực để phục vụ cho công
nghiệp hoá đất nớc của mình, đồng thời chủ động tỉnh táo phòng ngừa để hạn
chế đến mức tối đa những tác động tiêu cực.
3.1.1. Đầu t trực tiếp nớc ngoài tạo nguồn vốn để phát triển kinh tế.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài là nguồn bổ xung vốn quan trọng để các nớc
đang phát triển thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Bù đắp cho sự
thiếu hụt nguồn vốn trong nớc. Hầu hết các nớc, nhất là các nớc đang phát
triển đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất n-
ớc. Thực tế ở nhiều nớc đang phát triển, mà nổi bật là các nớc ASEAN và
Đông A, nhờ có FDI đã giải quyết một phần khó khăn về vổn nên đã thực
hiện thành công quá trình công nghiệp hoá đất nớc. Các nớc có tỷ lệ tích luỹ
vốn trong nớc còn thấp là một trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài là một hình thức huy động vốn để hỗ trợ cho nhu cầu
đầu t của kinh tế. Bên cạnh đó đầu t trực tiếp nớc ngoài còn có u thế hơn hẳn
10
so với các hình thức huy động vốn khác nh việc vay vốn nớc ngoài luôn đi
cùng với một mức lãi xuất nhất định và đôi khi trở thành gánh nặng cho nền
kinh tế. Hoặc nh các khoản viện trợ thờng đi kềm với các điều kiện về chính
trị, can thiệp vào công việc nội bộ của nền kinh tế. Điều này ít xảy ra với đầu
t trực tiếp nớc ngoài.
Đối với các nhà đầu t của nớc chủ nhà đầu t trực tiếp nớc ngoài góp
phần làm giảm bớt sự rủi ro về tài chính mà các nhà đầu t trong nớc không thể
một mình kham nổi. Bởi vì khi liên doanh với một đối tác đầu t nớc ngoài thì:
Thứ nhất là họ có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh nên ngăn chặn và hạn
chế rủi ro về tài chính. Thứ hai, là trong tình huống xí nghiệp liên doanh với
đối tác nớc ngoài và nớc chủ nhà có nguy cơ đe doạ rủi ro thì công ty mẹ sẽ có
biện pháp cứu giúp cũng nh hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản xuất, trợ giúp tài

lợng làm việc trực tiếp trong các dự án có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài ở
Trung Quốc là 16 triệu ngời, ở Việt Nam là 22 vạn ngời. Việc tạo công ăn việc
làm cũng có nghĩa tăng thêm thu nhập cho ngời lao động và từ đó là điều kiện
tăng tích luỹ trong nớc.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần phát triển nguồn nhân lực nâng cao
kỹ năng quản lý kinh doanh cho nớc chủ nhà. Chính các chủ đầu t nớc ngoài
tổ chức mở các lớp đào tạo về quản lý kỹ năng làm việc đã góp phần tích cực
vào việc bồi dỡng đào tạo đội ngũ lao động ở nớc sở tại. Để cán bộ và công
nhân nớc sở tại có khả năng quản lý và sử dụng cá công nghệ tiên tiến và yêu
cầu của công việc. Đó chính là đội ngũ nòng cốt trong việc học tập, tiếp thu kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến, năng lực quản lý điều hành tiên tiến của nớc ngoài.
Cùng với nó các nhân viên ngời bản xứ có thể tiếp cận đợc kho thông tin
khổng lồ và kỹ năng quản lý của công ty mẹ. Mặt khác các dự án đầu t trực
tiếp nớc ngoài có yêu cầu cao về chất lợng lao động và trả lơng với mức cao,
quản lý tiên tiến, sử dụng công nghệ hiện đại điều đó đã kích thích và đặt ra
12
yêu cầu khách quan cho nhiều ngời lao động nớc chủ nhà phải tự học tập nâng
cao năng lực lao động, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ để có thể tham gia
làm việc tại các công ty có vốn đầu t nớc ngoài.
3.1.3. Nâng cao năng lực công nghệ.
Song song với việc tạo nguồn vốn bổ xung cho các nớc đang phát triển
đầu t trực tiếp nớc ngoài còn là một kênh quan trọng để đa kỹ thuật mới kỹ
năng quan lý mới vào các nớc đang phát triển. Thông qua đầu t trực tiếp nớc
ngoài nớc chủ nhà có thể tiếp nhận đợc những công nghệ này. Qua đó đầu t
trực tiếp nớc ngoài có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật của nớc nhận đầu t nh
góp phần tăng năng xuất cuả các yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành sản phẩm,
và xuất khẩu. Thúc đẩy phát triển các nghề mới đặc biệt là những ngành đòi
hỏi hàm lợng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá trình
công nghiệp hoá và hiện đại hoá chuyển dịch cơ cấu, tăng trởng nhanh ở các
nớc nhận đầu t. cùng với việc chuyển giao các công nghệ phần cứng tiên

một và đi đến chỗ bị xoá sổ. Ngoài ra đầu t trực tiếp nớc ngoài còn làm phát
triển một số vùng nhất định nhất là những vùng có nhiều lợi thế và nhiều năng
lực phát triển và đợc khuyến khích nhiều. Những tác động này đã làm cho cơ
cấu nền kinh tế của nớc nhận đầu t thay đổi một cách mạnh mẽ.
3.1.5. Một số lợi ích khác của đầu t trực tiếp nớc ngoài .
Thông qua hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài của các nớc đang phát
triển có thể tiếp cận với thị trờng thế giới. Bởi vì hầu hết các hoạt động đầu t
trực tiếp nớc ngoài đều do các công ty đa quốc gia thực hiện mà các công ty
này có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hoạt động dài
hạn dựa trên cơ sở thanh thế, uy tín của họ về kiểu dáng của sản phẩm
Với các nớc đang phát triển sử dụng đầu t trực tiếp nớc ngoài nh một
công cụ để hợp tác quốc tế và kích thích liên kết kinh tế với các cơ sở kinh tế
14
trong nớc. Thông qua tiếp xúc với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
các doanh nghiệp trong nớc mở rộng đợc quy mô và năng lực kinh doanh của
mình.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần cải thiện căn bản cán cân thanh toán
quốc tế cho các nớc đang phát triển. Bởi vì hầu hết các dự án đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài là sản xuất sản phẩm Hớng vào xuất khẩu. đầu t trực tiếp nớc ngoài
đóng góp vào việc xuất khẩu hàng hóa khá lớn đối với các nớc đang phát
triển .
Đầu t trực tiếp nớc ngoài là một trong những hình thức hợp tác đầu t
quốc tế. Thông qua hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài, nớc chủ nhà có thêm
điều kiện mở rộng quan hệ quốc tế.
3.2. Những tác động tiêu cực của đầu t trực tiếp nớc ngoài.
3.2.1. Về kinh tế
Bên cạnh những tác động tích cực đến nền kinh tế các nớc đang phát
triển thì đầu t trực tiếp nớc ngoài còn có những tác động tiêu cực.
Hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài nhiều khi làm cho lợi ích của nhà
đầu t nớc ngoài nhiều khi vợt qua lợi ích nớc sở tại. Vì để thu hút đầu t trực

động sẽ tăng lên, kết quả là giá thành sản phẩm cao. Vì vậy họ muốn thay thế
công nghệ này bằng những công nghệ có hàm lợng chất sám cao để hạ giá
thành sản phẩm.
Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây ra những thiệt hại cho nớc
nhận đầu t nh là:
* Rất khó có thể xác định đợc giá trị thật của những máy móc chuyển
giao đó, do đó nớc nhận đầu t thờng bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp vốn
trong các xí nghiệp liên doanh, và hậu quả bị thua thiệt trong việc chia sẻ lợi
nhuận.
16
* Chất lợng sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao do đó sản phẩm trong
nớc khó có thể cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
3.2.3. Về cơ cấu ngành và lãnh thổ.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài làm cơ cấu đầu t theo ngành và lãnh thổ của n-
ớc sở tại bất hợp lý, gây ra tình trạng đầu t tràn lan kém hiệu quả và tài nguyên
thiên nhiên bị khai thác quá mức. Các nhà đầu t trực tiếp nớc ngoài nhiều khi
sản xuất và bán những hàng hoá không thích hợp cho các nớc đang phát triển
thậm chí đôi khi còn có hại cho sức khoẻ con ngời và gây ô nhiễm môi trờng
Vì mục đích của nhà đầu t là kiếm lợi nhuận nên họ đầu t vào những nơi có lợi
nhất, do đó nhiều khi lợng vốn nớc ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối
giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. Sự mất cân đối này có thể dẫn đến
bất ổn về chính trị.
3.2.4. Về các vấn đề khác.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài thờng đẩy các công ty nớc sở tại đi đến phá
sản do các công ty có vốn đầu t nớc ngoài có thế mạnh về tài chính kỹ thuật và
có khi còn đợc hởng nhiều u đãi hơn các công ty bản địa.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài gây ra tình trạng phân phối không đồng đều ở
nớc sở tại. Khi các công ty nớc ngoài vào nớc sở tại họ tuyển dụng ngời lao
động tại địa phơng và thờng họ đợc hởng tiền lơng cao hơn mức trung bình
của địa phơng. Điều này gây ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các tầng lớp

vùng nhiệt đới. Rừng Việt Nam không chỉ cung cấp nhiều loại lâm sản có giá
trị cao mà còn có vai trò quan trọng đối với việc bảo vệ và cải thiện môi trờng
sinh thái. Nhiều khu rừng có giá trị bảo tồn thiên nhiên, nghiên cứu khoa học,
là cảnh quan đẹp, nơi nghỉ mát, tham quan du lịch v.v
18
Lâm nghiệp mà cụ thể là ngành công nghiệp rừng là ngành kinh tế quan
trọng, chúng ta có nhiệm vụ quản lý và xây dựng 9,3 triệu ha rừng tự nhiên và
rừng trồng cùng với hơn 10 triệu hecta đất rừng có khả năng sản xuất nông
lâm nghiệp .
Nhà nớc rất quan tâm tới việc bảo vệ và phát triển rừng. Vì vậy, nghề
rừng đã từng bớc đợc xây dựng, củng cố, phát triển và đã có những đóng góp
tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần nâng cao đời
sống nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc vùng trung du và miền núi.
Hơn một phần ba thế kỷ qua, khoa học-công nghệ đã trở thành một
trong những động lực phát triển kinh tế lâm nghiệp, đóng góp tích cực vào
thành tựu của ngành qua từng giai đoạn.
2. Lịch sử hình Ngành Lâm nghiệp Việt Nam.
2.1. Quá trình hình thành các bộ phận nghiên cứu Khoa học Lâm nghiệp.
Ngành Lâm nghiệp, từ sau các mạng tháng tám, trong suốt cuộc kháng
chiến chống Pháp cho đến khi hoà bình đợc lập lại trên phần nữa đất nớc, mãi
đến năm 1961 vẫn do Bộ Nông lâm cũ quản lý, cho nên các tổ chức manh nha
Viện nghiên cứu Lâm nghiệp trớc đây trớc đây cũng dần dà hình thành trong
khuôn khổ tổ chức của Bộ Nông lâm cũ, cụ thể là khuôn khổ của Vụ Lâm
nghiệp, cơ quan giúp Bộ quản lý toàn Ngành Lâm nghiệp lúc đó.
a. Sự ra đời của Viện Nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp.
Theo Nghị định 140-CP ngày 29/9/1961 của Chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hoà, Tổng cục Lâm nghiệp đợc thành lập, Viện nghiên cứu lâm
nghiệp là một bộ phận của Tổng cục cũng đợc hình thành trên cơ sở đó.
Viện nghiên cứu lâm nghiệp là cơ quan khoa học kỹ thuật đầu ngành
của Lâm nghiệp có hai phân viện trực thuộc là Phân Viện Việt Bắc và Phân

10. Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới.
20
11. Trung tâm khoa học sản xuất cùng Đông Nam Bộ.
12.Trung tâm nghiên cứu lâm sainh Lâm Đồng.
13.Trung tâm ứng dụng khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp.
14. Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật rừng ngập mặn Minh
Hải.
15.Trung tâm thực nghiệm Lâm nghiệp Kon Nà Nừng.
16. Trung tâm giống và kinh doanh đặc sản rừng (EAKmat).
17. Xí nghiệp chế biến hạt điều.
Với cơ cấu tổ chức nh trên, Viện nghiên cứu Lâm nghiệp đảm nhiệm
nghiên cứu khoa học kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực có liên quan đến Lâm
nghiệp, tuy nhiên còn nhiều lĩnh vực mà trên thực tế Viện cha có khả năng vơn
tới nh động vật rừng, thực vật dới tán rừng v.v
Viện có nhiệm vụ đào tạo cán bộ trên đại học cho chuyên ngành lâm
sinh học, công nghiệp rừng, gia công chế biến lâm sản.
Tính đến năm 2001, đội ngũ cán bộ nghiên cứu thờng xuyên của Viện
có 480 ngời, trong đó có 1 giáo s, 26 tiến sĩ, 8 nghiên cứu sinh, 18 thạc sĩ, 16
học viên cao học và 204 kỹ s. Ngoài ra còn lực lợng hợp đồng làm việc theo
thời vụ.
Nguồn kinh phí phục vụ hoạt động nghiên cứu của Viện chủ yếu là từ
Ngân sách Nhà nớc do Bộ Khoa học công nghệ và môi trờng phân phối, ngoài
ra còn kinh phí do các hợp đồng nghiên cứu và hợp đồng dịch vụ mang lại.
Rừng không chỉ có ở miền núi, Trung du mà đã có ngay ở vùng đồng
bằng, vùng cát ven biển Nhờ có trồng cây mà bộ mặt nông thôn xã hội chủ
nghĩa đã có nhiều đổi mới. Nhiều nơi đã tự túc một phần gỗ củi và góp phần
cho nhu cầu của Nhà nớc.
Từ ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay phong trào trồng cây
đã phát triển mạnh ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tiêu biểu là TP HCM,
Long An, Đồng Nai Những năm gần đây thực hiện chính sách giao đất giao

giao rừng, nhằm hạn chế nạn phá rừng , phát triển kinh tế xã hội miền núi.
- Tăng cờng quản lý Nhà nớc về quản lý và bảo vệ rừng theo các luật
bảo vệ và phát triển rừng, luật bảo vệ môi trờng và luật đất đai nhằm tăng hớng
quản lý bảo vệ rừng từ trung ơng đến địa phơng.
- Phòng chữa cháy rừng và phòng trừ sâu bệnh nhằm hạn chế sự phá
hoại của sâu bệnh, tác hại của cháy rừng.
* Trồng rừng và trồng cây nhân dân:
- Giai đoạn 1955-1975 Diện tích rừng trồng là 219.290 ha.
- Giai đoạn 1976-1985 diện tích rừng trồng là 1.054.281 ha.
- Giai đoạn 1986-1995 diện tích rừng trồng là 1.015.449 ha.
- Giai đoạn 1996 đến nay diện tích rừng trồng là 1.471.394 ha.
- Trong quá trình trồng rừng phải chú ý đến vấn đề cơ cấu cây trồng,
giống, kỹ thuật cây trồng, quản lý, khoa học kỹ thuật.
- Phong trào trồng cây phân tán áp dụng chủ yếu ở các vùng đồng bằng,
thị trấn, thành phố. Hiện nay nớc ta có khoảng hơn 2000 triệu cây phân tán.
- Đẩy mạnh gây trồng các loại cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị, tăng c-
ờng các khu rừng củi cung cấp cho thị trấn, sản xuất thủ công nghiệp và nông
thôn.
3. Cơ cấu tổ chức ngành Lâm nghiệp Việt Nam
3.1. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn là cơ quan của chính phủ thực
hiện quản lý Nhà nớc về nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi và phát triển nông
thôn. Có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý Nhà nớc quy
định tại chơng IV luật tổ chức Chính phủ và tại Nghị định số 15 CP ngày 02
tháng 3 năm 1993 của Chính phủ.
* Chức năng,nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ:
23
- Trình Chính phủ các dự án Luật, Pháp lệnh và các văn bản pháp quy
về các lĩnh vực do Bộ phụ trách.
- Trình Chính phủ chiến lợc, quy hoạch tổng thể, kế hoạch dài hạn,

- Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành.
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ và kiểm dịch động thực vật
(bao gồm xuất nhập khẩu và nội địa), công tác kiểm lâm, bảo vệ công trình
thuỷ lợi, đê điều và các dòng sông.
- Tổ chức và quản lý việc hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực thuộc Bộ
quản lý.
- Thực hiện nhiệm vụ thờng trực của Ban phòng chống bão lụt Trung -
ơng sông Mê Công của Việt Nam giao cho Bộ.
- Tổ chức quản lý các khu rừng phòng hộ và đặc dụng.
- Quản lý việc cấp và thu hồi giấy phép thuộc các lĩnh vực do bộ quản
lý.
* Cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
1. Các cơ quan giúp Bộ trởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nớc.
a. Các vụ:
- Vụ kế hoạch và quy hoạch.
- Vụ đầu t xây dựng cơ bản.
- Vụ khoa học công nghệ và chất lợng sản phẩm.
- Vụ chính sách nông nghiệp và chất lợng sản phẩm.
- Vụ hợp tác quốc tế.
- Vụ tài chính-kế toán.
- Vụ tổ chức cán bộ.
b. Các cục quản lý Nhà nớc chuyên ngành.
- Cục phát triển lâm nghiệp.
25

Trích đoạn Nguyên nhân của những tồn tại nói trên 1 Nguyên nhân chủ quan. Nhân tố trong nớc.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status