Nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng - Pdf 26

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Hà Nội - 2013

2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Phạm Anh Tuấn
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI THU HỒI ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

1.1.2. Khái niệm về thu hồi đất 14
1.1.3. Bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất 16
1.1.4. Định giá đất 16
1.2. Chính sách thu hồi đất và bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ của một số nƣớc trên thế giới. 18
1.6.1. Kinh nghiệm của Australia. 18
1.6.2. Đài Loan Trung Quốc 20
1.3. Chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi nhà nƣớc thu hồi đất ở Việt Nam 22
1.3.1. Chính sách về thu hồi đất 22
1.3.2. Chính sách bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất 27
1.3.3. Chính sách hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất 31
1.3.4. Chính sách tái định cƣ 33
1.3.5. Các phƣơng pháp định giá đất 34
1.3.6. Giải quyết khiếu nại 38
1.3.7. Tổ chức thực hiện việc bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ 40
1.3.8. Đánh giá hệ thống pháp luật đất đai hiện hành về thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ
và giải quyết khiếu nại 41
2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Hải Phòng 47
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 47
2.1.2. Tình hình cơ bản phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng 48
2.1.3. Dân số, lao động 50
2.1.4. Tình hình sử dụng đất tại Hải Phòng 50
2.1.5. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. 54
2.2. Một số kết quả đạt đƣợc trong công tác bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi thu hồi đất trên địa bàn
thành phố Hải Phòng 55
2.2.1. Kết quả công tác bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ. 55
2.2.2. Kết quả xây dựng chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ và TĐC 60
2.3. Thực trạng về công tác bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ trên địa bàn thành phố Hải Phòng 65
2.3.1. Về việc công khai, minh bạch trong công tác bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ 65
2.3.2. Việc lấy ý kiến của nhân dân về quy hoạch, phƣơng án bồi thƣờng, hỗ trợ, TĐC 72
2.3.3. Về định giá đất 76

3.5.1. Quy định rõ trách nhiệm của các cấp, ngành, của từng cán bộ, công chức trong việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo 92
3.5.2. Công khai, minh bạch các chính sách đất đai 92
3.5.3. Công khai hóa quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo 92
3.5.4. Tạo “đƣờng dây nóng” để tiếp nhận ý kiến có liên quan tới khiếu nại, tố cáo và giải quyết
khiếu nại, tố cáo 93
3.5.5. Nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội cấp phƣờng 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
1. KẾT LUẬN 95
2. KIẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 5 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GPMB
Giải phóng mặt bằng
THĐ
Thu hồi đất
TĐC
Tái định cư
UBND

thành phố Hải Phòng (Từ 1997 đến nay)……………………………………… 60 7

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Quy định về sở hữu đất đai qua các thời kỳ lịch sử…………… 13
Hình 1.2: Các trường hợp THĐ……… ……………………….… 23
Hình 1.3: Quy trình THĐ…………………………………………….…… 26
Hình 1.4: Biểu đồ số lượng đơn thư tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về đất đai
gửi tới Bộ Tài nguyên và Môi trường…………………………………………… 44
Hình 3.1: Chu trình chính sách…………………………………………… 85
1. Tính cấp thiết đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với sự nghiệp công
nghiệp hóa - hiện đại hóa thành phố Hải Phòng, việc THĐ để sử dụng vào mục đích
để SDĐ vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát
triển kinh tế là một nhu cầu tất yếu khách quan. Mắt xích quan trọng nhất, là yếu tố
quyết định trong việc THĐ là công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC để GPMB.
Trong khoảng thời gian từ 2003 đến nay, thành phố Hải Phòng đã quyết định
thu hồi 7.484 ha để thực hiện dự án đầu tư, phát triển thành phố, trong đó có nhiều
công trình trọng điểm, dự án lớn như: Đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng,
Nâng cấp và mở rộng Cảng Hải Phòng, Khu đô thị và công nghiệp Bắc Sông Cấm,
Khu Công nghiệp Đình Vũ, Sân Gol Quốc tế và khu đô thị du lịch Đồ Sơn, Nhà
máy Nhiệt điện Hải Phòng.
Việc GPMB để triển khai các dự án, công trình trọng điểm trên góp phần
quan trọng tạo ra tăng trưởng GDP của thành phố hàng năm trên 10%. Thu ngân
sách nội địa tăng nhanh, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực, trong đó nhóm
ngành dịch vụ tăng trưởng nhanh nhất và chiếm trên 50% GDP, công nghiệp duy trì
được tốc độ tăng trưởng khá, tạo ra nhiều ngành có khả năng cạnh tranh trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút đầu tư, đặc biệt là việc thu hút FDI và ODA.
Thu hồi đất, về lý luận, là quyết định của CQNN có thẩm quyền nhằm chấm
dứt một quan hệ pháp luật đất đai đối với người SDĐ. Quan hệ đất đai thì lại mang
tính quyền lực, các chủ thể tham gia vào quan hệ này không có sự bình đẳng về địa
vị pháp lý. Người SDĐ có quyền và nghĩa vụ phải thực hiện các quyết định của
CQNN, họ không có quyền thỏa thuận với CQNN và phải thực hiện các phán quyết
đơn phương từ phía Nhà nước. Nhưng họ lại có quyền khiếu nại, tố cáo. Chính vì
9

vậy, công tác THĐ, bồi thường, hỗ trợ và TĐC luôn luôn nảy sinh nhiều mâu thuẫn,
xung đột về quyền lợi của các bên tham gia.

duyệt “Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải
Phòng đến năm 2020”; Quyết định số 1077/QĐ-TTg ngày 20/8/2007 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt “Nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành
phố Hải Phòng đến năm 2025”, dự kiến đến năm 2020, cần có 32.600 ha đất sạch để
xây dựng các công trình quốc gia, công trình trọng điểm và mở rộng các khu công
nghiệp trên địa bàn thành phố là trên. Một số khu kinh tế lớn sẽ được xây dựng, cụ thể
như khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải với quy mô 21.600 ha. Đặc biệt ngay trước mắt là
đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện; Sân bay quốc
tế Cát Bi; Khu đô thị và công nghiệp Bắc sông Cấm.
Vì tính bức xúc như trên, tác giả đã chọn thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề
xuất giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
trên địa bàn thành phố Hải Phòng".
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng chính sách và công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích hệ thống pháp luật hiện hành về chuyển dịch đất đai gồm cơ chế
THĐ của người đang SDĐ để giao cho các dự án đầu tư, cơ chế thực hiện bồi
thường, hỗ trợ, TĐC và cơ chế giải quyết các khiếu nại của dân để tìm ra những
điểm chưa hợp lý, gây trở ngại cho quá trình thực thi pháp luật. Từ đó, kiến nghị
việc điều chỉnh cần thiết đối với các quy định chưa hợp lý.
- Phân tích quá trình thực hiện việc THĐ, bồi thường, hỗ trợ, TĐC trong thời
gian vừa qua ở Hải phòng để tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu trong triển khai
thực hiện, rút ra những kinh nghiệm thực tế. Từ đó, đề xuất giải pháp phát huy ưu
điểm, hạn chế nhược điểm trong triển khai thực hiện trong thời gian tới.
11

- Phân tích và tổng hợp các kết quả nghiên cứu hệ thống pháp luật, kinh nghiệm

- Các bài báo trên báo hàng ngày, trang thông tin điện tử về các vấn đề mà đề
tài quan tâm.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC trên địa bàn thành
phố Hải Phòng.
Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC.
13

CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về việc thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ
1.1.1. Đất đai và vấn đề sở hữu đất đai
Đất đai là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế
của sản xuất nông, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là
toàn bộ lãnh thổ gắn với chủ quyền của một quốc gia, là nguồn lực hàng đầu để phát
triển bền vững, là cơ sở để phát triển các hệ bảo tồn sinh thái. Đất đai đặc biệt có ý
nghĩ trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có thể kết luận ngắn
gọn về đất đai theo Hiến chương về đất được Ủy ban các Bộ trưởng Châu Âu biểu
quyết tại Nghị quyết 19 năm 1972 như sau: “Ruộng đất là một trong những của cải
quý nhất của loài người, nó tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con
người trên mặt đất”.
Về vấn đề sở hữu đất đai, ngay sau khi giành độc lập, ra đời bản Hiến pháp
đầu tiên năm 1946, Nhà nước ta đã khẳng định “Quyền sở hữu tài sản của công dân
Việt Nam được đảm bảo”, trong đó đất đai là một tài sản quan trong nhất của mọi
con người (Điều 12 Hiến pháp năm 1946). Từ đó cho đến nay, qua mỗi giai đoạn
lịch sử, Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp năm 1992 có những quy
định khác nhau về vấn đề sở hữu đất đai từ đó để xác lập chế độ quản lý và SDĐ, cụ
thể qua hình sau:
Hình 1.1: Quy định về sở hữu đất đai quy các thời kỳ lịch sử



Theo hình trên ta có thể thấy, trước năm 1980 còn nhiều hình thức sở hữu về
đất đai, sản phẩm của thời kỳ quan liêu bao cấp, thì sau năm 1980 ở nước ta chỉ còn
một hình thức sở hữu duy nhất đối với đất đai là sở hữu toàn dân. Quan hệ đất đai ở
nước ta dựa trên nền tảng đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại
diện chủ sở hữu. Quy định này có sự tách bạch giữa chủ thể thực hiện quyền sở hữu
đất đai và người thực hiện quyền SDĐ. Quan hệ về đất đai do đó xuất phát từ quan
hệ mang tính quyền lực.
Trong ba quyền cơ bản nhất của chủ sở hữu là chiếm hữu, sử dụng và định
đoạt, Nhà nước có đủ ba quyền nhưng trao quyền chiếm hữu và sử dụng cho người
sử dụng đất, chỉ nắm quyền định đoạt đối với đất đai và thực hiện quyền nay bằng
các hình thức: Quyết định mục đích SDĐ thông qua việc quyết định, xét duyệt quy
hoạch SDĐ, kế hoạch SDĐ; quy định về hạn mức giao đất và thời hạn SDĐ; quyết
định giao đất, cho thuê đất, THĐ, cho phép chuyển mục đích SDĐ; định giá đất.
Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính
sách tài chính về đất đai.
Nhà nước trao quyền SDĐ cho người SDĐ, cho phép người SDĐ được
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền SDĐ;
thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền SDĐ và bảo đảm cho người sử dụng bằng
cách cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ.
1.1.2. Khái niệm về thu hồi đất
Tất cả các quốc gia trong quá trình phát triển đều có nhu cầu sử dụng đất đai
để xây đựng công trình hạ tầng, công trình phúc lợi xã hội, thực hiện các quy hoạch
chi tiết v.v để phục vụ lợi ích công cộng. Do có tính chất đặc thù nên việc cung
ứng đất đai cho nhu cầu này không thể dựa vào cơ chế thị trường mà phải thông qua
biện pháp mang tính bắt buộc, gọi là trưng thu, trưng dụng có bồi thường (Trung
Quốc, Đài Loan ), hoặc truất hữu ( Pháp ).
Tại các nước có chế độ sở hữu tư nhân đất đai, Hiến pháp trong khi bảo vệ
quyền sở hữu đất đai thì cũng cho phép Nhà nước trưng thu, trưng dụng hoặc truất
hữu đất đai vì lợi ích công cộng. Còn tại các nước mà đất đai thuộc sở hữu toàn dân

- Việc THĐ xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện pháp
chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai và một số
trường hợp đương nhiên.
Từ đó có thể định nghĩa: THĐ là văn bản hành chính của CQNN có thẩm
quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đối với đất đai để phục vụ lợi ích của
Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của
người SDĐ. [12]
1.1.3. Bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất
Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
nhưng Nhà nước lại trao quyền chiếm hữu, quyền SDĐ cho người SDĐ. Người
SDĐ tuy rằng không phải chủ sở hữu nhưng lại có 2/3 nhóm quyền của chủ sở hữu
(chỉ không có quyền định đoạt). Do nhu cầu của mình, Nhà nước THĐ, người SDĐ
buộc phải thực hiện nhưng được Nhà nước trả lại quyền SDĐ đối với diện tích thu
hồi bằng các chính sách bồi thường.
Do quan hệ đất đai mang tính quyền lực nên khi Nhà nước THĐ, người có
đất bị thu hồi không có quyền thỏa thuận với các CQNN. Nhà nước tự mình quy
định chính sách bồi thường cho người SDĐ bị thu hồi.
1.1.4. Định giá đất
Định giá đất là một trong bốn quyền định đoạt đối với đất của Nhà nước và
là công cụ quan trọng trong việc thiết lập một cơ chế quản lý đất thích hợp theo
định hướng kinh tế thị trường, nó là cơ sở cho chuyển nhượng quyền sử dụng có trả
tiền theo đấu thầu, đấu giá, và hợp đồng thoả thuận giữa người quản lý và người sử
dụng. Trên cơ sở giao đất có thu tiền SDĐ và người SDĐ có quyền chuyển nhượng
lại, thế chấp, thừa kế, cho thuê và Nhà nước có quyền THĐ theo nhu cầu, lợi ích
của toàn xã hội, tổ chức thống nhất các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng và phát
triển đất và từ đó theo yêu cầu phát triển kinh tế mà giao đất có thu tiền SDĐ, hoặc
cho thuê đất với người sử dụng đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi nảy sinh từ sự phát
triển của nền kinh tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa.
17


18

1.2. Chính sách thu hồi đất và bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ của một số
nƣớc trên thế giới.
1.6.1. Kinh nghiệm của Australia.
Nói chung, các nước thuộc khối Liên hiệp Anh đều có quy định là quyền sở
hữu đất đai không mang tính tuyệt đối, đất đai thuộc quyền sở hữu của nữ hoàng,
người dân chỉ đựơc quyền thuê đất của nữ hoàng và có quyền sở hữu đối với tài sản
gắn liền với đất. Trên thực tế, cũng có trường hợp được thuê dài hạn tới 999 năm và
được hưởng các quyền tương đương như chủ sở hữu, cũng có trường hợp được nữ
hoàng công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai. Ở Australia, chỉ khoảng 20%
diện tích đất thuộc sở hữu tư nhân, còn lại 80% diện tích đất là người SDĐ thuê của
nữ hoàng. Đặc thù về quyền sở hữu đất đai như vậy cũng khá giống với chế độ sở
hữu đất đai ở Việt Nam.
Khung pháp luật đối với hình thức chiếm giữ đất đai bắt buộc để sử dụng và
mục đích công cộng tại Australia được xây dựng và áp dụng chung cho toàn Liên
bang Australia, được quy định cụ thể tại từng bang và được tổ chức có thẩm quyền
thực hiện các trình tự, thủ tục chi tiết. Nguyên tắc chung là phải thực hiện đàm
phán, thoả thuận về giá vào bước thứ nhất; khi không đạt được thoả thuận quyền áp
dụng có chế chiếm giữ đất đai bắt buộc vào bước thứ hai.
Luật chiếm giữ đất đai của Liên Bang quy định rất cụ thể những trường hợp
nào SDĐ vào mục đích công cộng được áp dụng cơ chế chiếm giữ đất đai bắt buộc
và cơ chế tính toán khoản bồi thường cho người bị mất đất. Những điều khoản
chính đáng chủ yếu được áp dụng bao gồm: (1) phải thực hiện bồi thường đầy đủ và
thích hợp cho những tài sản đã bị chiếm giữ bắt buộc; (2) khi có sự không đồng
thuận mà phải nhờ đến phán quyết của cơ quan có thẩm quyền (chủ yếu là hai bên
không thống nhất được về số tiền bồi thường) thì khuyến khích sử dụng phán quyết
của trọng tài hơn là phán quyết của toà án; (3) cơ quan phán quyết phải bảo đảm
điều kiện khách quan và không nghiêng về quyền lợi của bên nào; (4) quyền được
đòi hỏi quyền lợi chính đáng của hai bên là ngang nhau trước phán quyết của cơ

vai trò rất quan trọng trong việc thực thi pháp luật.
20

Australia là một đất nước có nền kinh tế thị trường phát triển ở mức độ cao,
công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP, canh tác nông nghiệp
thực hiện theo phương thức trang trại quy mô lớn với trình độ công nghiệp hoá rất
cao. Kinh tế của Australia hội nhập ở mức độ cao trong quá trình toàn cầu hoá, các
sản phẩm chủ yếu có tỷ trọng xuất khẩu rất cao trong quá trình toàn cầu hoá, các sản
phẩm chủ yếu có tỷ trọng xuất khẩu rất lớn. Người dân Australia có trình độ dân trí
cao, ý thức chấp hành pháp luật rất tốt. Về quản lý đất đai và định giá đất, Australia
là nước đạt trình độ cao trên thế giới. Định giá đất ở Australia đã đạt được những
thành tựu lớn cả về lý luận khoa học, triển khai thực tiễn và tổ chức bộ máy quản lý.
Lý thuyết định giá đất áp dụng ở Australia được xây dựng trên một thị trường đất
đai hoàn chỉnh, đề cập đến tất cả các yếu tố tác động đến giá đất như quan hệ cung -
cầu về đất, mức độ hạ tầng, tâm lý người SDĐ. Thông tin về giá đất ở tất cả các khu
vực được cập nhật thường xuyên và công khai trên thị trường. Giá đất, giá bất động
sản do các nhà định giá xác định đều phù hợp với giá thị trường và được mọi người
chấp nhận.
Mỗi Bang của Australia đều có một Cục Quản lý đất đai và một cục định giá.
Trong thời gian 5 năm trước đây, các Cục này đều là cơ quan hành chính của Bang.
Sau đó, các cơ quan này đựơc chuyển dần sang thành các cơ quan dịch vụ công,
thực hiện các dịch vụ về quản lý đất đai và định giá đất theo yêu cầu của nhà nước
cũng như của thị trường.
1.6.2. Đài Loan Trung Quốc
Đài Loan Trung Quốc là vùng lãnh thổ đạt được những thành tựu lớn trong
thực hiện cải cách ruộng đất và xây dựng hệ thống quản lý đất đai. Về chế độ sở
hữu đất đai, cách tiếp cận của Đài Loan cũng tương tự như Việt Nam nhưng dùng
cách diễn đạt khác nhau. Điều 143 của Hiến pháp Đài Loan có quy định rõ “ toàn bộ
đất đai trong lãnh thổ của Cộng hoà Trung Hoa (Đài Loan) thuộc về toàn dân.
Quyền sở hữu tư nhân về đất đai, do người dân chiếm giữ theo quy định của pháp

87,2% (theo kết quả đánh giá năm 2006). Khi xem xét giá trị bồi thường cụ thể,
22

chính quyền địa phương đề nghị mức tăng giá đất công bố hàng năm sao cho phù
hợp với giá thị trường để uỷ ban định giá đất quyết định.
Quy định của pháp luật về cơ chế chiếm giữ đất để sử dụng và mục đích
công, định giá đất hàng năm và điều chỉnh tăng giá đất để tính bồi thường ở Đài
Loan có nhiều nét tương đồng với hệ thống pháp luật đất đai hiện hành ở Việt Nam.
Điểm khác biệt quan trọng nhất là cơ quan có thẩm quyền quyết định giá đất phù
hợp với thị trường, giá trị bồi thường là một uỷ ban định giá đất bao gồm nhiều
thành viên quyết định, không phải do cơ quan hành chính quyết định. Một điểm nữa
cần lưu ý, các địa phương cấp tỉnh đều có Sở Định giá đất là cơ quan quản lý
chuyên môn về giá đất giúp việc cho lãnh đạo dịa phương, độc lập với cơ quan quản
lý tài chính và cơ quan quản cơ chế giao trách nhiệm quyết định giá đất theo thị
trường, mức bồi thường cho một uỷ ban định giá đất.
1.3. Chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi nhà nƣớc thu hồi đất
ở Việt Nam
1.3.1. Chính sách về thu hồi đất
Tại khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 quy định “Thu hồi đất là việc
Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã
giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của
Luật này”. [15]
1.3.1.1. Các trƣờng hợp thu hồi đất
Để khẳng định đất đai là tài sản, là nguồn vốn quan trọng, trong các trường
hợp cần thiết, Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 xác định rõ các trường hợp bị THĐ.
So với Luật Đất đai năm 1993 phạm vi THĐ được xác định hẹp hơn và chủ yếu
phục vụ các nhu cầu quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và
phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế trong một số trường hợp. Tác giả xin được chia
thành 3 nhóm theo sơ đồ minh họa dưới đây:
Hình 1.2. Các trƣờng hợp thu hồi đất

đai
Tổ chức được giao đất không thu tiền, có thu tiền SDĐ mà tiền
SDĐ có nguồn gốc từ ngân sách hoặc cho thuê đất thu tiền thuê
đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc
không còn nhu cầu SDĐ
Đất được giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi
hết thời hạn
Người SDĐ cố ý hủy hoại đất
Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong 12 tháng
liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong 18 tháng
liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong 24 tháng liền
Đất được giao không đúng đối tượng, không đúng thẩm quyền
Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm; đất không được chuyển quyền
SDĐ mà để bị lấn, chiếm;

Người SDĐ cố ý không thực hiện nghĩa vụ
Đất được giao, cho thuê, không sử dụng trong 12 tháng liền hoặc
tiến độ sử dụng chậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự
án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không
được cho phép

Cá nhân SDĐ chết mà không có người thừa kế
Người SDĐ tự nguyện trả lại đất
SDĐ không đúng mục đích, không có hiệu quả

Đƣơng
nhiên
THĐ
Nhà nước SDĐ vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế

ngoài đã được CQNN có thẩm quyền xét duyệt hoặc cho phép đầu tư mà dự án đó
không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế; các dự án
đầu tư thăm dò, khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp
luật về khoáng sản; SDĐ để làm mặt bằng di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh
dịch vụ theo yêu cầu bảo vệ môi trường hoặc theo quy hoạch mà không thể bố trí
vào khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế; các dự án đầu tư kết cấu hạ
tầng phục vụ công cộng bao gồm các công trình giao thông, điện lực, thuỷ lợi, cấp
nước, thoát nước, vệ sinh môi trường, thông tin liên lạc, đường ống dẫn xăng dầu,
25

đường ống dẫn khí, giáo dục, đào tạo, văn hoá, khoa học kỹ thuật, y tế, thể dục, thể
thao, chợ.
- Đối với dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch SDĐ đã được
xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền SDĐ, nhận góp vốn
bằng quyền SDĐ của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực
hiện thủ tục THĐ.
1.3.1.3. Thẩm quyền thu hồi đất
Để đảm bảo quyền lợi của người SDĐ và của Nhà nước, Điều 44 Luật Đất
đai và các Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, Nghị định 84/2007/NĐ-
CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định về thẩm quyền THĐ, có 2 cấp được
quyết định THĐ:
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định THĐ đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài (trừ trường hợp
người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với
quyền SDĐ ở tại Việt Nam). [15]
- Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định THĐ đối với hộ gia đình, cá nhân,
cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua
nhà ở gắn liền với quyền SDĐ ở tại Việt Nam. [15]
Trong trường hợp THĐ để giao hoặc cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
thuê mà trên khu đất thu hồi có hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng hoặc có cả tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status