Nghiên cứu sử dụng lectin để xác định kháng thể và kháng nguyên của một số bệnh ung thư thường gặp tt1 - Pdf 26



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Trần Thị Phương Liên

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG LECTIN ĐỂ XÁC ĐỊNH
KHÁNG THỂ VÀ KHÁNG NGUYÊN CỦA MỘT SỐ
BỆNH UNG THƯ THƯỜNG GẶP Chuyên ngành: Hoá sinh học
Mã số: 62 42 30 15

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

LỜI CẢM ƠN Hoàn thành luận án này tôi xin gửi lời cảm ơn tới:



MỤC LỤC

Trang
CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. KHÁNG THỂ DỊCH THỂ 3
1.1.1. Khái niệm 3
1.1.2. Cấu trúc chung của các kháng thể 3
1.1.3. Chức năng sinh học của kháng thể 4
1.1.4. Lớp và các phân lớp của kháng thể 5
1.1.5. Biểu hiện bất thường của kháng thể trong bệnh lí 6
1.2. AFP và UNG THƯ 7
1.2.1. Lịch sử nghiên cứu và sự biến đổi sinh lí của AFP huyết thanh 7
1.2.2. Tính không đồng nhất trong chuỗi đường của các loại AFP 8
1.2.3. Chức năng của AFP 9
1.2.4. Hàm lượng AFP huyết thanh ở bệnh gan mạn tính
và một số bệnh khác 10
1.3 LECTIN 11
1.3.1. Lược sử nghiên cứu lectin 11
1.3.2. Sự phân bố của lectin trong sinh giới 14
1.3.3. Một số tính chất lí hoá của lectin 15
1.3.4. Một số tính chất sinh học và miễn dịch của lectin 18
1.3.5. Ứng dụng của lectin 20
1.3.6. Vài nét về nghiên cứu lectin ở Việt Nam 24

Chương 2. NGUYÊN LIỆU và PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

bằng cột Jacalin-Sepharose-4B tự chế tạo 54
3.2.2. Thiết kế bộ sinh phẩm định lượng IgA
1
bằng kỹ thuật LECTIN-ELISA 59
3.2.3. Định lượng IgA
1
trong HT người bằng kỹ thuật LECTIN-ELISA 68

3.3. BƯỚC ĐẦU SỬ DỤNG LECTIN ConM ĐỂ TẠO BỘ SINH PHẨM XÁC ĐỊNH IgG TỪ HUYẾT
THANH NGƯỜI 70 3.3.1. Nghiên cứu khả năng bắt giữ kháng thể IgG từ huyết thanh của ConM 70
3.3.2. Tinh chế kháng thể IgG từ huyết thanh người bằng cột
ConM-Sepharose-4B tự tạo 72
3.3.3. Thiết kế bộ sinh phẩm định lượng IgG từ huyết thanh bằng kỹ thuật
LECTIN- ELISA 77
3.3.4. Sử dụng lectin ConM xác định hàm lượng KT IgG bằng kỹ thuật
LECTIN-ELISA 85
3.4. ỨNG DỤNG LECTIN ConG TỪ HẠT ĐẬU GƯƠM (Canavalia gladiata Jacq D.C.) ĐỂ BẮT GIỮ,
PHÂN BIỆT CÁC LOẠI KHÁNG NGUYÊN AFP TỪ HUYẾT THANH NGƯỜI UNG THƯ
GAN, VIÊM GAN SIÊU VI TRÙNG VÀ THAI PHỤ 87
3.4.1. Nghiên cứu khả năng bắt giữ AFP của lectin ConG từ hạt đậu gươm
(Canavalia gladiata Jacq D.C.) 87
3.4.2. Nghiên cứu khả năng bắt giữ kháng thể trong huyết thanh của ConG
88
3.4.3. Sử dụng lectin ConG để nhận dạng các kháng nguyên AFP bệnh lí 89
3.5. BÀN LUẬN 91
KẾT LUẬN 96
ĐỀ NGHỊ 98

vật, thực vật và vi sinh vật đã được các nhà khoa học phát hiện và nghiên cứu từ trên 100 năm nay (từ năm 1888).
Trong nhiều năm nghiên cứu, các nhà khoa học đã chứng minh rằng lectin có rất nhiều ứng dụng trong Y dược
học. Đặc biệt trong những năm cuối cùng của thể kỉ XX, người ta đã sử dụng sự tương tác đặc hiệu đường rất tinh
vi của lectin với các kháng thể và kháng nguyên (do bản chất hoá học của lectin là những protein liên kết đặc
hiệu với các gốc đường của nhiều loại kháng thể và kháng nguyên có cấu trúc đường riêng biệt) để nghiên cứu sự
biểu hiện của kháng thể, kháng nguyên trong đáp ứng miễn dịch.
Mục tiêu đề tài
Lựa chọn, tinh chế một số loại lectin từ thực vật tương tác đặc hiệu với kháng thể, kháng nguyên để xác
định sự biểu hiện của kháng thể IgA
1
, IgG và kháng nguyên AFP từ huyết thanh của người bình thường, một số
bệnh nhân: Ung thư vòm họng, đa u tuỷ xương, ung thư gan và viêm gan siêu vi trùng.
Nội dung của đề tài
1. Tinh chế lectin (jacalin) từ 3 loài mít (Artocarpus heterophyllus Lamk; Artocarpus masticata Gagn. và
Artocarpus champeden Gagn.) của Việt Nam và sử dụng jacalin để thiết kế bộ sinh phẩm định lượng kháng thể IgA
1

từ huyết thanh người.
2. Xây dựng quy trình, tinh chế lectin ConM, ConG từ 2 loại đậu (Canavalia maritima Aublet và
Canavalia gladiata Jacq D.C.) của Việt Nam để thiết kế bộ sinh phẩm định lượng kháng thể IgG từ huyết thanh
người, phân biệt kháng nguyên AFP (Alpha Feto Protein) từ huyết thanh bệnh nhân ung thư gan, viêm gan siêu vi
trùng và thai phụ.
Những đóng góp mới của luận án
1. Lần đầu tiên phát hiện ra lectin ConM từ hạt đậu dao biển Việt Nam (Canavalia maritima Aublet) có
khả năng bắt giữ bằng liên kết đặc hiệu với kháng thể IgG từ huyết thanh người.
2. Lần đầu tiên phát hiện ra lectin ConG từ hạt đậu gươm Việt Nam (Canavalia gladiata Jacq D.C.) có khả
năng liên kết và phân biệt được các loại kháng nguyên AFP từ huyết thanh bệnh nhân ung thư gan, viêm gan siêu
vi trùng và thai phụ.
3. Bước đầu nghiên cứu tạo hai bộ sinh phẩm để định lượng kháng thể IgA
1

trúc phân tử là một chuỗi polypeptide khối lượng khoảng 70 kDa chứa 4% carbohydrate và thành phần đường
này có thể bị cải biến trong bệnh lí được nhận biết đặc hiệu bằng lectin.
1.3. LECTIN
Lectin, một dạng glycoprotein tự nhiên có mặt rất phổ biến ở nhiều nguồn tài nguyên sinh vật như động vật,
thực vật và vi sinh vật đã được các nhà khoa học phát hiện và nghiên cứu từ trên 100 năm nay (từ năm 1888). Đặc
biệt trong những năm cuối cùng của thể kỉ XX, người ta đã sử dụng sự tương tác đặc hiệu đường rất tinh vi của
lectin với các kháng thể và kháng nguyên để nghiên cứu sự biểu hiện của kháng thể, kháng nguyên.
Chương 2. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. NGUYÊN LIỆU
2.1.1. Hạt mít
Các hạt từ quả mít dai (Artocarpus heterophyllus Lamk), mít chay nhung (mít dại) (Artocarpus masticata
Gagn.) và mít tố nữ (Artocarpus champeden Gagn.) được dùng là nguyên liệu để tách lectin.
2.1.2. Hạt đậu
Hạt đậu dao biển (Canavalia maritima Aublet), hạt đậu gươm (Canavalia gladiata Jacq D.C.) được dùng
để tách lectin ConM và ConG.
2.1.3. Huyết thanh, hồng cầu người
- Huyết thanh người bình thường do viện Huyết học và Truyền máu Trung ương cung cấp.
- Huyết thanh bệnh nhân đa u tuỷ xương đã được xác định là mắc bệnh do viện Huyết học và Truyền máu
Trung Ương cung cấp.
- Huyết thanh bệnh nhân ung thư gan, bệnh nhân viêm gan siêu vi trùng đã được xác định là mắc bệnh do
viện Quân đội Trung ương 108, bệnh viện E Trung ương và bệnh viện Ung bướu Hà Nội cung cấp.
- Huyết thanh bệnh nhân ung thư vòm họng đã được xác định là mắc bệnh do bệnh viện Bạch Mai cung
cấp.
- Huyết thanh thai phụ do bệnh viện E Trung ương cung cấp.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sử dụng một số phương pháp Hoá sinh và Miễn dịch như: Định lượng protein theo Lowry, kỹ thuật đo quang
phổ, điện di gel polyacrylamide (SDS-PAGE), sắc kí, ELISA và thẩm tách miễn dịch (Western blotting). 3

* Quy trình tinh chế lectin
ConM được hoàn thiện như sau:
* Đánh giá độ tinh sạch của chế phẩm
lectin ConM
Kết quả cho thấy chế phẩm lectin ConM
thể hiện 3 băng isolectin. Một băng chính lớn

Nạp cột
Rửa cột bằng đệm TBS pH7,4 có Mn
2+
và Ca
2+

Đẩy cột bằng đệm TBS 0,02M pH7,4 có Ca
2+
,
Mn
2+
3mM, Glucose 0,5M.
Thẩm tích loại đường.
Cột Sephadex G-75

h
h
:
:C
C


t
t1
1
:
:P
P
r
r
o
o
t
t
e
e

,
,3
3
:
:C
C
h
h
ế
ếp
p
h
h


m
ml
l

4
4
:
:D
D


c
c
h
hc
c
h
h
i
i
ế
ế
t
tt
t

- Li tâm 8000 v/p/15 phút, lấy dịch nổi
Hạt mít nghiền khô
Dịch chiết thô
Chế phẩm lectin thô
Chế phẩm lectin jacalin
tinh sạch
- Rửa cột bằng đệm PB pH 5,6
- - - Giải hấp phụ bằng đệm PBS pH 8,0.
- Thu các phân đoạn đỉnh. Thẩm tích
Cột CM-cellulose
Nạp cột 4
nhất có khối lượng vào khoảng 33 kDa, một băng có khối lượng vào khoảng 23 kDa, băng nhỏ nhất có khối lượng
khoảng 18 kDa.
3.1.3. Tinh chế lectin ConG từ hạt đậu gươm (C. gladiata Jacq D.C.)
* Quy trình tinh chế lectin ConG được hoàn thiện như sau:

hấp phụ được trung hoà bằng đệm Tris-HCl 0,75M pH 8,8.

Chú thích:
Cột 1,2: Lectin ConG tinh sạch
Cột 3: Protein chuẩn
Hình 3.10. Điện di SDS - PAGE chế phẩm lectin ConG

- Tủa bằng (NH
4
)
2
SO
4
70% bão hoà.
- Li tâm 8000 v/p/15 phút, thu tủa,
hoà tan tủa bằng đệm PBS pH 7,4. Thẩm tích
- Rửa cột bằng đệm PBS pH 7,4
- Giải hấp phụ bằng Glucose 0,2M
- Thu các phân đoạn đỉnh. Thẩm tích
Nạp cột
- Chiết rút bằng đệm PBS 0,02M, pH 7,4.
- Li tâm 8000 v/p/15 phút, lấy dịch nổi.
Hạt đậu gươm nghiền khô
Dịch chiết thô

1
sau tinh chế bằng phương pháp Lowry
Hình 3.14. Biểu đồ về hàm lượng IgA
1
từ
huyết thanh người bình thường (HTBT),
bệnh nhân ung thư gan (HTUTG) và
bệnh nhân ung thư vòm họng
(HTUTVH) sau khi tinh chế
Kết quả ở hình 3.14. cho thấy hàm
lượng IgA
1
trong huyết thanh của người
bình thường trung bình là 3,6  0,54
mg/ml, dao động từ 2,52 đến 4,74 mg/ml.
Hàm lượng IgA
1
trong huyết thanh
bệnh nhân ung thư vòm họng dao động từ 4,75 đến 7,00 mg/ml; trung bình là 5,84  0,59 mg/ml, cao hơn khoảng 1,6 lần
so với người bình thường. Qua xử lí thống kê chúng tôi thấy rằng mức độ tăng này là có ý nghĩa (P = 2,08 x 10
-6
nhỏ
hơn nhiều so với 0,05).
Hàm lượng IgA
1
trong huyết thanh bệnh nhân ung thư gan dao động từ 7,29 đến 13,64 mg/ml; trung bình là
11,32  1,44mg/ml, cao hơn khoảng 3,14 lần so với người bình thường. Qua xử lí thống kê chúng tôi thấy rằng mức
độ tăng này là có ý nghĩa (P = 1,4 x 10
-7
nhỏ hơn nhiều so với 0,05).

1
người bình thường
Cột 3. IgA
1
bệnh nhân ung thư gan
Cột 4, 5. IgA
1
bệnh nhân ung thư vòm
họng

- Rửa cột bằng đệm PBS pH 7,4.
- Giải hấp phụ bằng glycine 0,2M pH 2,6 có trung
hoà mỗi phân đoạn bằng Tris- HCl pH 8,8
- Thu các phân đoạn đỉnh
5.84
11.33
3.60
0.00
2.00
4.00
6.00
8.00
10.00
12.00
14.00
HTUTVH (n=10) HTBT (n=10) HTUTG (n=10)
Hµm l-îng IgA
1
(mg/ml)
P<0.05

0,453; của mít dai là 0,451; của lectin mít tố nữ là 0,456. Như vậy khả năng bắt giữ IgA
1
của 3 loại jacalin này là
tương đương nhau.

* Quy trình tạo bộ sinh phẩm xác định IgA
1

- Bước 1 : Hoạt hoá giếng (Microplate, Nunc. Norway) bằng 100 l dung dịch glutaraldehyde 0,25% pha
trong đệm PBS 0,02M pH 7,4; ở 37
0
C; trong 3 giờ. Rửa 3 lần bằng đệm PBS pH 7,4. Làm khô.
- Bước 2. Gắn bản : Thêm vào mỗi giếng đã được hoạt hoá 50l jacalin tinh sạch trong đệm PBS pH 7,4 có
nồng độ 10g/giếng, bịt kín trong 2 giờ, ở 37
0
C.
- Bước 3. Phủ bản: Thêm vào mỗi giếng đã được gắn bản 250 l đệm blocking, bịt kín trong 2 giờ ; ở
37
0
C. Rửa 3 lần bằng đệm PBS pH 7,4. Làm khô.
- Bước 4 : Tráng giếng bằng dung dịch đệm PBS pH 7,4 có chứa glycerol 15%; 0,02% azit ở 37
0
C ; trong 2
giờ. Làm khô, bảo quản ở 4
0
C trong vòng 4 tháng.
Khi sử dụng, giếng được rửa lại bằng đệm PBS pH 7,4 để loại bỏ hết glycerol, làm khô. Thêm vào đó 50 l
huyết thanh cần phân tích, rồi tiếp tục tiến hành phản ứng ELISA.
* Xác định độ nhạy và mức độ tin cậy của kỹ thuật Jacalin-ELISA
Độ nhạy của kỹ thuật Jacalin - ELISA có thể xuống đến những nồng độ <1ng/ml. Điều đó cho phép thực

Hµm l-îng IgA
1
ng/ml)
OD 490nm7

Hình 3.20. Hàm lượng kháng thể IgA
1

trong huyết thanh người bình thường
(HTBT), bệnh nhân ung thư gan
(HTUTG), bệnh nhân ung thư vòm
họng (HTUTVH), bệnh nhân đa u tuỷ
xương (HTĐUTX)
Với 40 mẫu huyết thanh người bình
thường, hàm lượng kháng thể IgA
1
trung
bình là 3,46  0,66mg/ml. Hàm lượng
IgA
1
trung bình trong huyết thanh bệnh
nhân ung thư gan là 11,54  1,32 mg/ml,
cao hơn khoảng 3,33 lần so với người bình thường, mức độ tăng so với người bình thường là có ý nghĩa thống kê (p
= 4,4 x 10
-43
nhỏ hơn rất nhiều so với 0,05). Hàm lượng IgA
1

3.46
0
2
4
6
8
10
12
14
HT§UT(n=40) HTBT(n=40) HTUTVH (n=40) HTUTG (n=40)
Hµm l-îng IgA
1
(mg/ml)
P<0.05
P<0.05
P<0.05
- Rửa cột bằng đệm PBS pH 7,4.
- Phản hấp phụ bằng glycine 0,2M pH 2,6 có trung hoà
mỗi phân đoạn hứng bằng Tris- HCl 0,75M pH 8,8.
- Thu các phân đoạn đỉnh
Huyết thanh
Dịch chứa các Ig
- Kết tủa bằng (NH
4
)
2
SO
4
45% bão hoà
- Li tâm 8000 v/p/15 phút, thu tủa, hoà tủa trong

Cột ProteinA - Sepharose-4B
Hàm lượng
Protein (mg/ml)
Hàm lượng
IgG (mg/ml)
Hàm lượng
Protein (mg/ml)
Hàm lượng
IgG (mg/ml)
1
67,52
11,98
68,92
11,75
2
69,14
12,23
70,14
12,83
3
70,56
12,98
67,23
11,88
4
72,14
13,08
72,13
13,25
5

69,47  3,57
12,24  0,51
68,83  3,38
12,07  0,56
Hàm lượng kháng thể IgG tinh chế được bằng 2 loại cột ConM-Sepharose-4B và ProteinA-Sepharose-4B là
tương đương nhau. Kết quả hàm lượng kháng thể IgG tinh chế được bằng cột ConM-Sepharose-4B trung bình là
12,24  0,51 mg/ml, dao động từ 11,03-13,14 mg/ml. Kết quả hàm lượng kháng thể IgG tinh chế được bằng cột
proteinA-Sepharose-4B trung bình là 12,07  0,56 mg/ml, dao động từ 10,79-12,99 mg/ml. Kết quả này phù hợp với
những thông số bình thường của người Việt Nam và phù hợp với tác giả Văn Đình Hoa và cộng sự khi họ sử
dụng bộ sinh phẩm xét nghiệm của nước ngoài. Điều này chứng tỏ hoàn toàn có thể dùng cột ConM-Sepharose-4B
để tinh chế kháng thể IgG từ huyết thanh người.
* Đánh giá mức độ tinh sạch của chế phẩm IgG được tinh chế bằng cột ConM -Sepharose-4B và Protein A-
Sepharose-4B Kết quả thể hiện trên hình
3.26. cho thấy chế phẩm IgG thu
được từ cột chuẩn ProteinA-Sepharose-4B và ConM-Sepharose-4B tự tạo là hoàn toàn tinh sạch. Chỉ biểu hiện 2
băng tương ứng với chuỗi nặng (53kDa) và chuỗi nhẹ (25kDa) khi kiểm tra bằng kỹ thuật SDS-PAGE. Như vậy
dùng cột sắc kí lectin ConM cộng hợp Sepharose để tinh chế kháng thể IgG từ huyết thanh người là một phương
pháp mới, thu được chế phẩm IgG có độ tinh khiết cao, quy trình đơn giản, dễ thực hiện trong điều kiện của nước
ta. Kết quả này đã chứng minh rằng lectin ConM liên kết đặc hiệu với kháng thể IgG mà không hề liên kết với
thành phần nào khác trong huyết thanh người.
Hình 3.26. Điện di SDS-PAGE đánh giá độ tinh sạch của chế phẩm IgG

- Bước 1 : Hoạt hoá giếng (Microplate, Nunc. Norway) bằng 100 l dung dịch glutaraldehyde 0,25% pha
trong đệm TBS 0,02M pH 7,4; ở 37
0
C; trong 3 giờ. Rửa 3 lần bằng đệm TBS pH 7,4. Làm khô.
- Bước 2. Gắn bản : Thêm vào mỗi giếng đã được hoạt hoá 50l lectin ConM tinh sạch trong đệm TBS
pH 7,4 chứa 3mM Ca
2+
và Mn
2+
nồng độ 10g/giếng, bịt kín trong 2 giờ, ở 37
0
C.
- Bước 3. Phủ bản: Thêm vào mỗi giếng đã được gắn bản 250 l đệm Blocking, bịt kín trong 2 giờ ; ở
37
0
C. Rửa 3 lần bằng đệm TBS pH 7,4. Làm khô.
- Bước 4 : Tráng giếng bằng dung dịch đệm TBS pH 7,4 có chứa glycerol 15%; 0,02% azit ở 37
0
C ;
trong 2 giờ. Làm khô, bảo quản ở 4
0
C trong vòng 15 ngày.
Khi sử dụng, giếng được rửa lại bằng đệm TBS pH 7,4 để loại bỏ hết glycerol, làm khô. Thêm vào đó 50
l huyết thanh cần phân tích, rồi tiếp tục tiến hành phản ứng ELISA.
* Xác định độ nhạy và độ tin cậy của kỹ thuật ConM - ELISA trong xác định hàm lượng kháng thể
IgG
Độ nhạy của kỹ thuật ConM-ELISA có thể xuống đến những nồng độ <1ng/ml. Điều đó cho phép thực
nghiệm có thể dùng những mẫu thử dưới 100l huyết thanh.
Để kiểm tra độ mức độ tin cậy của kỹ thuật ConM-ELISA, chúng tôi tiến hành định lượng kháng thể IgG
từ 40 mẫu huyết thanh bệnh nhân đa u tuỷ xương bằng hai kỹ thuật khác nhau là kỹ thuật LECTIN-ELISA do

bình thường hàm lượng kháng thể IgG
trung bình là 12,43  1,57 mg/ml.
Hàm lượng IgG trung bình trong
huyết thanh bệnh nhân đa u tuỷ xương
là 50,08  10,30 mg/ml, cao hơn
khoảng 4,02 lần so với huyết thanh người bình thường, mức độ tăng so với người bình thường là có ý nghĩa thống
kê (P=7,86 x 10
-21
nhỏ hơn rất nhiều so với 0,05). Với bệnh nhân ung thư gan hàm lượng IgG trung bình là 12,13
 1,57 mg/ml, không có sự biến động so với người bình thường. Với bệnh nhân ung thư vòm họng hàm lượng IgG
trung bình là 12,02  1,51mg/ml, không có sự biến động so với người bình thường.

3.4. ỨNG DỤNG LECTIN ConG TỪ HẠT ĐẬU GƯƠM (Canavalia gladiata Jacq D.C.) ĐỂ BẮT GIỮ, PHÂN BIỆT CÁC LOẠI
KHÁNG NGUYÊN AFP TỪ HUYẾT THANH BỆNH NHÂN UNG THƯ GAN, VIÊM GAN SIÊU VI TRÙNG VÀ THAI PHỤ
* Nghiên cứu khả năng bắt giữ AFP của ConG từ hạt đậu gươm (Canavalia gladiata Jacq D.C.)
Các thí nghiệm nghiên cứu khả năng bắt giữ AFP chuẩn cho kết quả dương tính, chứng tỏ rằng lectin
ConG có bắt giữ AFP.
* Nghiên cứu khả năng bắt
giữ kháng thể IgG trong huyết
thanh của ConG
Để chứng minh được khả năng
bắt giữ IgG của ConG, chúng tôi tiến
hành một quy trình thực nghiệm
trong đó có sử dụng 5 loại kháng thể
kháng 5 lớp Ig khác nhau của người.
Kết quả thu được đã chứng minh
rằng lectin ConG chỉ liên kết với
kháng thể IgG.
Cột 1. ConG bắt giữ AFP (màu nhạt
dần khi nồng độ AFP giảm dần)

Hình 3.33. ConG bắt giữ AFP 11

Hình 3.34. ConG bắt giữ IgG * Sử dụng lectin ConG để nhận dạng các kháng nguyên AFP
ConG đã được sử dụng để nhận dạng các loại AFP từ huyết thanh bệnh nhân ung thư gan, viêm gan siêu vi
trùng và thai phụ bằng kỹ thuật Western Blotting. Kết quả cho thấy đã có sự phân biệt về khả năng bắt giữ của
ConG với 3 loại AFP trên (hình 3.35).

23kDa và 31 kDa của lectin ConG.
Cột 4,5,6: AFP của bệnh nhân viêm
gan siêu vi trùng bắt giữ 2 băng
14kDa và 23kDa của ConG.
Cột 7,8,9,10: AFP của thai phụ chỉ
bắt giữ 1 băng 14 kDa của ConG.

• 12
- Sử dụng lectin từ hạt mít dai (A. heterophyllus Lamk) cộng hợp với Sepharose - 4B để bắt giữ IgA
1
từ huyết
thanh của người. Kết quả cho thấy hàm lượng IgA
1
trung bình ở người bình thường là 3,46  0,66 mg/ml, ở bệnh nhân
ung thư gan là 11,54  1,32 mg/ml - tăng khoảng 3,33 lần so với người bình thường, ở bệnh nhân ung thư vòm họng là
5,52  0,46 mg/ml - tăng khoảng 1,59 lần so với người bình thường, ở bệnh nhân đa u tuỷ xương là 0,31  0,07 mg/ml
- thấp hơn khoảng 11 lần so với người bình thường.
2. Lectin ConM từ hạt đậu dao biển (Canavalia maritima Aublet), đã được tinh sạch bằng cột Sephadex G-75
và độ tinh sạch được kiểm tra bằng SDS-PAGE cho 3 băng protein có khối lượng 33kDa, 23kDa và 18 kDa.
- Đã chứng minh lectin ConM chỉ liên kết đặc hiệu với kháng thể IgG, không liên kết với các kháng thể khác và
các protein huyết thanh của người bằng kỹ thuật ELISA.
- Sử dụng lectin ConM tạo cột ái lực ConM-Sepharose-4B để tinh chế IgG. Chế phẩm IgG sau khi tinh chế cho
hai băng protein có khối lượng của chuỗi nặng 53kDa và chuỗi nhẹ 25kDa.
3. Đã sử dụng lectin ConM từ đậu dao biển (Canavalia maritima Aublet) để định lượng IgG từ huyết thanh
của người. Kết quả cho thấy hàm lượng IgG trung bình trong huyết thanh người bình thường là 12,43  1,57
mg/ml, ở bệnh nhân ung thư gan là 12,13  1,57 mg/ml - không biến động so với người bình thường, ở bệnh nhân
ung thư vòm họng là 12,02  1,51 mg/ml - không biến động so với người bình thường, ở bệnh nhân đa u tuỷ xương


13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status