Nghiên cứu một số chỉ số sinh học hình thể của học sinh trường Trung học cơ sở xã Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam - Pdf 26

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HOÀNG THỊ MAI HOA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HỌC HÌNH THỂ
CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS XÃ LAM HẠ,
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. MAI VĂN HƢNG Hà Nội - 2012
3

PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước đã
đề ra mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, từng
bước theo kịp và hội nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới. Để đạt được mục
tiêu đề ra chúng ta phải phát huy mọi nguồn lực của đất nước. Một trong những
nguồn lực quan trọng và đóng vai trò quyết định đến sự thành công của mục tiêu trên
là nguồn lực con người. Việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu của thời
đại là nhiệm vụ của ngành giáo dục – đào tạo nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Theo đánh giá của liên hợp quốc [8] thực trạng chỉ số phát triển của con
người Việt Nam ở vị trí 116 trong tổng số 173 nước trên thế giới. Chỉ số này thuộc
nhóm thấp của thế giới. Các nghiên cứu về nhân trắc thể lực người Việt Nam trong
thế kỷ XX cho thấy trong khoảng gần 50 năm (1938 – 1985) không thấy có biểu
hiện gia tăng về tầm vóc và thể lực người Việt Nam, chiều cao trưởng thành gần
như đứng yên (160cm ở nam và 150cm ở nữ). Điều này do nạn đói và chiến tranh
đã ảnh hưởng đến tầm vóc của người Việt Nam [23]
Trong những năm gần đây, điều kiện sống của người Việt Nam nói chung và
của học sinh lứa tuổi trung học nói riêng đã có rất nhiều thay đổi. Các yếu tố đó

- Nghiên cứu một số chỉ số hình thái của học sinh ở độ tuổi 12÷15 thuộc
trường THCS xã Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam: chiều cao đứng, cân nặng,
VNTB, vòng cánh tay phải co, vòng bụng, vòng đùi phải, vòng mông, vòng đầu.
- Nghiên cứu một số dấu hiệu sinh dục phụ mô tả về dậy thì của học sinh ở
độ tuổi 12÷15thuộc trường THCS xã Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam bao
gồm: lông ở hố nách, lông trên mu, thời điểm có mụn trứng cá ở nam giới; lông trên
mu, lông ở hố nách, tuyến vú, thời điểm có mụn trứng cá ở nữ giới.
4. Nhƣ
̃
ng đo
́
ng go
́
p mơ
́
i cu
̉
a đê
̀
ta
̀
i
Tuy đề ta
̀
i co
́
kế thư
̀
a ca
́

đoạn phát triển con người từ lúc trứng được thụ tinh cho đến lúc chết. Sinh trưởng là
sự tăng về kích thước và khối lượng làm biến đổi hình thái của cá thể đang ở giai
đoạn lớn. Trong đó sự tăng trưởng về kích thước diễn ra có tính quy luật hơn còn
khối lượng cơ thể có thể biến đổi tùy theo chế độ dinh dưỡng. Phát triển là sự tổng
hợp những biến đổi liên tục về chất, nhưng biến đổi cả về hình thái và chức năng ở
tất cả các cơ thể từ lúc sinh ra cho tới lúc chết [32,33,7].
Sự sinh trưởng và phát triển không đồng nhất với nhau vì có những cơ thể
sinh trưởng chậm, phát triển nhanh (hiện tượng còi cọc của trẻ). Hay ngược lại có
cơ thể sinh trưởng nhanh nhưng phát triển chậm (hiện tượng trẻ lớn nhưng chưa suất
hiện biểu hiện của lứa tuổi dạy thì). Nhìn chung, một trong những mốc quan trọng
nhất để đánh giá sự phát triển rõ rệt nhất ở người chính là lứa tuổi dậy thì với nhóm
học sinh trong độ tuổi THCS.
Theo một số tác giả, quá trình phát triển cơ thể con người diễn ra không đồng đều
[5,11,18,27,48,49,50]. Sự phát triển không đồng đều ở trẻ em thể hiện qua các thời kỳ
khác nhau, có thời kỳ tốc độ tăng trưởng nhanh, còn thời kỳ khác lại tăng trưởng chậm
[11]. Trong quá trình phát triển ở trẻ em từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành có hai
giai đoạn tăng trưởng “nhảy vọt”: Đó là giai đoạn từ 5 đến 7 tuổi và giai đoạn dậy thì
[18,50]. Trong quá trình phát triển ở trẻ em, sự hoàn chỉnh các cơ quan xảy ra không
đồng thì và không đồng tốc [5,11,18,48,49,50].
Nhiều tác giả khác [39,48,49,50], nhận thấy có sự khác nhau về tốc độ phát
triển thể lực giữa nam và nữ. Từ 7 đến 10 tuổi, tốc độ tăng chiều cao của nữ nhanh
hơn của nam. Từ 11 tuổi trở đi, tốc độ tăng chiều cao của nam lại nhanh hơn của nữ.
Đó là nguyên nhân tạo ra điểm giao chéo tăng trưởng chiều cao lần thứ nhất và lần
thứ hai lúc 11 và 14 tuổi [39].
6

Thực tế cho thấy, sự phát triển thể lực ở trẻ em phụ thuộc vào nhiều yếu tố, là
kết quả của sự tác động qua lại giữa cơ thể với môi trường [2,32,33]. Dưới tác động của
yếu tố di truyền và điều kiện của môi trường sống, đã xảy ra quá trình cải tổ về mặt
hình thái và chức năng, làm cho cơ thể trẻ em ngày một hoàn thiện hơn [13, 50].

nông thôn.
Ở tuổi dậy thì kích thước cơ thể tăng nhanh, trung bình mỗi năm chiều cao
tăng thêm 5 ÷ 8 cm và cân nặng tăng thêm 4- 8 kg [34,35]. Do ảnh hưởng của một
số nội tiết như tuyến giáp trạng ( bao quanh bên ngoài phía trên cổ họng ) và tuyến
yên ( như một cái mấu nằm phía dưới bộ óc) tiết ra những chất kích thích làm
xương phát triển nhanh. Tuyến mồ hôi và tuyến nhờn phát triển mạnh làm cho da,
lông và tóc trở nên mượt mà hơn.
Mặt khác, do tuyến yên hoạt động mạnh cho nên các tuyến sinh dục cũng
phát triển mạnh dần lên trong cơ thể trẻ diễn ra hàng loạt các biến đổi về hình thái
và chức năng [32,34,56]. Như sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của cơ quan
sinh dục và xuất hiện các đặc điểm sinh dục phụ. Vì vậy thời kỳ này về mặt chuyên
môn người ta gọi sự biến đổi trong cơ thể các em là sự phát dục.
Các dấu hiệu giới tính ở nữ gồm:
+ Phát triển nhanh cơ quan sinh dục ngoài, tuyến vú, lông mọc ở mu và nách.
+ Khung sương chậu phát triển theo chiều ngang.
+ Mỡ dưới da phát triển dày hơn tạo dáng vẻ mềm mại.
+ Thanh quản phát triển kiểu nữ giới tạo nên giọng nói thanh và cao.
Các dấu hiệu giới tính ở nam gồm:
+ Phát triển cơ quan sinh dục ngoài.
+ Xuất hiện lông ở mu và nách….
+ Cơ phát triển mạnh, vai rộng, sương hông hẹp và cao, tầm vóc to lớn.
+ Thanh quản mở rộng theo kiểu nam giới làm cho giọng nói vang và trầm.
- Những thay đổi về sinh lý
Do sự phát triển nhanh không cân xứng của hệ vận động nên ở lứa tuổi dậy
thì sự phối hợp cử động chưa tốt lắm nên động tác của các em thường vụng về, lóng
ngóng và thiếu chính xác.
8

Đối với hệ tim mạch cũng có ảnh hưởng: Kích thước của tim tăng nhanh
nhưng hệ mạch máu phát triển chậm, nên huyết áp tăng cao hơn bình thường. Nhịp

động nhưng mạch phát triển chậm hơn gây trở ngại, khiến cho tim hoạt động không
đều. Hậu quả của tình trạng này là máu của óc khi tăng khi giảm. Điều này đã ảnh
hưởng đến tâm trạng của các em, nhất là các em gái "đa cảm", các em thường có
cảm giác "căng thẳng, mệt mỏi, đôi lúc hoa mắt chóng mặt. Hệ thần kinh đối với
hoạt động của hệ tim mạch chưa hoàn thiện, do đó nhiều khi nhịp tim của các em bị
kích thích nhưng thần kinh không kiểm soát được, nhịp tăng lên đột ngột dễ gây
những cảm xúc tiêu cực bột phát: giận dỗi
1.2. Một số chỉ số hình thái
Các chỉ số thể lực của con người phản ánh mức độ phát triển tổng hợp của
các hệ cơ quan trong cơ thể hoàn chỉnh, thống nhất. Ở bất kỳ người bình thường nào
cũng đều có mức độ phát triển thể lực nhất định. Một trong những biểu hiện cơ bản
của thể lực là các số đo kích thước của cơ thể, trong đó chiều cao, cân nặng và vòng
ngực là các chỉ số cơ bản phản ánh thể lực của con người. Từ các chỉ số cơ bản kể
trên có thể tính thêm các chỉ số khác biểu hiện mối liên quan giữa chúng như chỉ số
pignet, chỉ số khối cơ thể (BMI) Các chỉ số đó có ý nghĩa trong việc đánh giá sự
phát triển thể lực của trẻ em, biểu hiện sự tăng trưởng của cơ thể con người từ lức
mới sinh đến lúc chết.
1.2.1. Chiều cao đứng
Là chỉ số phát triển thể lực quan trọng nhất và được sử dụng trong hầu hết
các lĩnh vực nghiên cứu nhân trắc học. Chiều cao phản ánh quá trình phát triển
chiều dài của xương và nói lên tầm vóc của con người. Sự phát triển chiều cao mang
tính chất đặc trưng cho chủng tộc, giới tính và chịu ảnh hưởng của môi trường
[2,5,16,17,19].
Chiều cao đứng (CCĐ) là một trong những kích thước được đề cập và được
đo đạc trong hầu hết các công trình điều tra cơ bản về hình thái, nhân chủng học,
sinh lý và bệnh lý CCĐ nói lên tầm vóc của một người, do đó các nhà y học dựa
vào CCĐ để đánh giá sức lớn của trẻ em, so sánh CCĐ với các kích thước khác
10

trong cơ thể, phối hợp với các kích thước khác để xây dựng các chỉ số thể lực

VNTB là một trong những kích thước quan trọng do nó phối hợp với CCĐ,
cân nặng để đánh giá thể lực của con người. Tuy nhiên, đây cũng là kích thước dễ
thay đổi, người ta nhận thấy đo nhiều lần trên cùng một người, các kết quả có thể
chênh lệch nhau 2-3 cm. VNTB lớn thì thể lực tốt, do nó liên quan đến khả năng hô
hấp của con người [10].
1.2.4. Vòng đùi và vòng cánh tay phải co
Ở đây, chúng tôi chỉ nói về các loại vòng cơ có liên quan nhiều đến cân nặng.
Các vòng cơ ở chi biểu hiện sự phát triển của ba yếu tố: xương, cơ và tổ chức mỡ
dưới da. Như vậy, đo các vòng cơ ở chi cho phép ta đánh giá tình trạng phát triển cơ
thể nói chung và nhất là tình trạng tập luyện và dinh dưỡng của cơ thể.
Các vòng này cũng có ý nghĩa như cân nặng và do đó có mối tương quan chặt
chẽ với cân nặng. Các vòng cơ ở chi không những có thể làm thay đổi cân nặng và hơn
nữa, còn có những ưu điểm sau đây trong việc đánh giá thể lực một người [10]:
+ Các vòng chi biểu hiện sự phát triển cơ rõ hơn cân nặng. Một kết quả
nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng các vòng chi trên 10 thanh niên tập cử tạ trong 4
tháng liền, trong đó các vòng cánh tay tăng rất mạnh, khoảng 2-3,5 cm [37].
+ Cân nặng biểu hiện sự tăng mỡ nhiều hơn so với các vòng chi. Một điều
hiển nhiên là chúng ta có thể tăng cân rất nhanh do an dưỡng (ăn uống, nghỉ ngơi)
mà không phải do tập luyện và lao động. Sự tăng cân biểu hiện tình trạng dinh
dưỡng tốt của cơ thể. Như vậy, sự tăng cân rõ ràng là biểu hiện sự béo nhiều hơn,
trong khi đó, sự tăng các vòng chi biểu hiện sự phát triển cơ nhiều hơn.
1.2.5. Vòng bụng và vòng mông
Muốn đánh giá độ béo của cơ thể và do đó đánh giá được mức độ dinh dưỡng
và khả năng hấp thụ của cơ thể, người ta thường đo vòng bụng và vòng mông. Tuy
nhiên, việc đo vòng bụng nếu không đúng kỹ thuật thường cho số liệu chính xác
không cao, do không có một thành xương vững chắc như thành ngực.
Có thể đánh giá mức độ béo của cơ thể theo chỉ số:
[Vòng bụng/ Vòng ngực] x 100
12



1.3.2. Các nghiên cứu về sinh lý sinh sản và sinh dục trên thế giới
Trong hơn một nửa thế kỷ trước, các đề tài nghiên cứu về sinh lý sinh dục và
sinh sản ngày càng được quan tâm, mở rộng hơn, nhất là từ khi vấn đề hạn chế sinh
đẻ được đặt ra một cách quyết liệt trên thế giới. Ngoài ra, còn có các công trình
nghiên cứu về các hiện tượng sinh học trong sinh sản như việc sinh noãn, sinh tinh
trùng, hiện tượng thụ tinh và làm tổ của trứng đã được thụ tinh [10]. Nhờ đó mà
những hiểu biết về sinh lý học sinh sản ngày càng đạt đến mức độ cao hơn.
Năm 1927, Aschleim & Zondek (Đức) và nhóm nghiên cứu của Smith &
Engel (Mỹ) đã độc lập nghiên cứu nhưng cùng tìm ra kết quả là: trong nước tiểu có
hai chất tác dụng lên hoạt động của tuyến sinh dục là Prolan A và Prolan B, sau này
gọi là kích nang tố (FSH) và kích hoàng thể tố (LH) [10].
Ngay sau đó (vào năm 1930), các nhà khoa học là Moore và Price lại phát
hiện ra hai chất này do tuyến yên tiết ra, đó là cơ sở để giải thích cơ chế điều hòa
của tuyến yên đối với chức năng sinh dục.
Năm 1932, hai nhà khoa học Hohlweg và Junkman đã chứng minh rằng hệ
thần kinh trung ương (đặc biệt là vùng dưới đồi Hypothalamus) có vai trò quan
trọng trong việc điều hoà chức năng sinh sản. Đây là những tác giả đầu tiên đưa ra
khái niệm “điều hòa ngược” đối với hệ thống nội tiết. Sau nhiều công trình nghiên
cứu về vai trò của Hypothalamus đối với các chức năng sinh dục, người ta đã kết
luận: kích thích điện vào vùng củ xám, vùng trước thị có tác dụng gây rụng trứng,
tổn thương ở cuống tuyến yên cũng có tác dụng này.
Sự biệt hóa hành vi sinh dục đã được nhà khoa học Dautchakoff nghiên cứu
đầu tiên vào năm 1930, sau đó công trình này đã được Phoenix và CS của ông xác
nhận vào năm 1959. Quá trình biệt hóa được diễn ra trong thời kỳ phôi thai, đó là
giai đoạn tổ chức biệt hóa của vỏ não theo hướng biệt hóa đực hoặc cái.
Người ta đã tìm thấy trong Hypothalamus những chất tiếp nhận đặc hiệu đối
với hoóc môn sinh dục. Lúc đầu người ta chỉ thấy sự gắn đặc hiệu đối với hormone
sinh dục tại Hypothalamus và tuyến yên. Từ năm 1953 trở lại đây, người ta đã biết
được chức năng sinh dục của hệ Limbic.

trưởng nhảy vọt về cân nặng ở nữ lúc 13 tuổi, ở nam lúc 15 tuổi và kết thúc tăng trưởng
15

cân nặng cơ thể lúc 19 tuổi ở nữ và 20 tuổi ở nam. Do đó, nữ bước vào thời kỳ tăng tiến
và ổn định về chiều cao, cân nặng sớm hơn so với nam.
Từ năm 1980 đến năm 1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp [18] nghiên cứu dọc trên
101 học sinh Hà Nội từ 6÷17tuổi. Với 31 chỉ tiêu nhân trắc học được nghiên cứu,
tác giả đã rút ra kết luận là chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 11÷12 tuổi ở nữ, 13-
15 tuổi ở nam, chiều cao trung bình của nữ trưởng thành là 158cm và của nam là
163cm. Cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam. Vòng
ngực trung bình của nữ trưởng thành là 79cm và của nam là 78cm. Năm 1989,
nhóm tác giả Thẩm Thị Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền, Vũ Xuân Khôi và cs
[19] đã tiến hành nghiên cứu chiều cao, vòng đầu, vòng ngực, chỉ số dài chi dưới
trên 8000 người từ 1÷55 tuổi ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Nhóm tác giả nhận
thấy, chiều cao của nam tăng nhanh đến 18 tuổi, của nữ tăng nhanh đến 14 tuổi và
có quy luật gia tăng chiều cao cho người Việt Nam (tăng 4cm/20 năm). Vòng ngực
tăng nhanh nhất ở nam lúc 13÷16 tuổi và ở nữ lúc 11÷14 tuổi.
Đào Huy Khuê [27] nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về sự tăng trưởng và
phát triển của cơ thể trên 1478 học sinh từ 6÷17tuổi ở thị xã Hà Đông. Tác giả nhận
thấy, hầu hết các thông số hình thái đều tăng dần theo tuổi, nhưng nhịp độ tăng
không đều. Tốc độ tăng tối đa các thông số nghiên cứu của nữ là lúc 11÷15 tuổi và
của nam lúc 14÷16 tuổi. Từ 6÷9 tuổi, các kích thước của nữ và nam không có sự
khác biệt rõ rệt. Từ 11÷15 tuổi, các kích thước của nữ thường cao hơn của nam và ở
giai đoạn 16÷17tuổi, các chỉ số này của nam lại vượt của nữ. Tác giả cũng cho rằng,
có sự gia tăng chiều cao của người Việt Nam.
Năm 1991-1995, nhóm tác giả Trần Văn Dần và cs [11], nghiên cứu trên 13747
học sinh từ 8-14 tuổi ở các địa phương Hà Nội, Vĩnh Phú, Thái Bình về các chỉ số
chiều cao, cân nặng và vòng ngực trung bình. Kết quả nghiên cứu cho thấy, so với số
liệu trong cuốn “HSSH” [51] thì sự phát triển chiều cao của trẻ em từ 6-16 tuổi tốt hơn,
đặc biệt là trẻ em thành phố, thị xã, nhưng sự gia tăng cân nặng chỉ thấy rõ ở trẻ em Hà

cũng không có sự khác biệt. Tuy nhiên, các chỉ số hình thái - thể lực của học sinh nam,
nữ các dân tộc Mường, Thái, Kinh đều cao hơn so với học sinh nam, nữ các dân tộc
Tày, Dao. Sự vượt trội của các chỉ số hình thái -thể lực ở học sinh các dân tộc Mường,
17

Thái, Kinh so với ở học sinh các dân tộc Tày, Dao có thể có liên quan với sự khác biệt
về điều kiện kinh tế- xã hội giữa các huyện ở tỉnh Hòa Bình.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về thể lực của học sinh ở Việt Nam khá
phong phú. Tuy kết quả nghiên cứu trong các công trình có sự khác nhau ít nhiều,
nhưng đều xác định được là chúng biển đổi theo lứa tuổi và mang đặc điểm giới tính.
Trong quá trình phát triển ở trẻ em có hai giai đoạn nhảy vọt tăng trưởng. Mốc đánh
dấu lứa tuổi nhảy vọt của các công trình là tương đối thống nhất đó là chiều cao tăng
nhanh nhất từ 13÷15 tuổi ở nam, 11÷13 tuổi ở nữ và có sự khác biệt về những chỉ số
này giữa nam và nữ, giữa học sinh thành phố, thị xã và học sinh nông thôn.
1.4.2. Các nghiên cứu về sinh lý sinh sản và sinh dục ở Việt Nam.
Trong những năm 60 và nửa đầu thập kỷ 70, nhiều tác giả trong nước đã
nghiên cứu về tuổi có kinh lần đầu; chu kỳ kinh nguyệt của công nhân, nông dân,
học sinh nông thôn và thành thị. Những kết quả này đã được thống kê trong cuốn
“Hằng số sinh học người Việt Nam (1975)” [51].
Năm 1965, Nguyễn Huy Cận và cs đã nghiên cứu về tuổi thấy kinh nguyệt
lần đầu của người Việt Nam, cho kết quả là 16,5 tuổi.
Năm 1970, Vũ Thục Nga đã nghiên cứu kích dục tố tuyến yên toàn phần
trong vòng kinh bình thường của phụ nữ Việt Nam.
Năm 1971, Nguyễn Thế Phương đã nghiên cứu sự biệt hoá sinh dục của vùng
Hypothalamus, kết quả là đã phân lập được những chất tiếp nhận đặc hiệu với hoóc
môn sinh dục tại Hypothalamus.
Theo Hằng số sinh học người Việt Nam (1975) [51], tuổi dậy thì hoàn toàn ở
các em gái khoảng 13÷14tuổi, ở các em trai khoảng 14÷16 tuổi.
Từ năm 1976 đến 1980, các tác giả Đinh Kỷ và cs [30], Lương Bích Hồng,
Cao Quốc Việt và CS đã nghiên cứu những biến đổi của cơ thể ở lứa tuổi dậy thì

chu kỳ kinh nguyệt của nữ trong thời gian còn ở trong nước và sự thay đổi khi
sống ở nước ngoài.
Nguyễn Thị Hảo nghiên cứu trong 2 năm (1984÷1985) trên 13 phụ nữ 18÷25
tuổi chưa lập gia đình và 15 phụ nữ 25÷35 tuổi có từ 2 con trở lên. Các đối tượng
đều sống ở Hà Nội được thu thập toàn bộ băng vệ sinh trong những ngày chảy máu,
19

chiết xuất bằng natrihydroxit, rồi xác định lượng máu kinh nguyệt dưới dạng
hermatine kiềm.
Trong 3 năm (1992÷994), Trịnh Văn Bảo và Trần Đức Phấn đã tiến hành
nghiên cứu trên 296 nam tuổi 18-68 ở ngoại thành Hà Nội với các chỉ tiêu: lượng
tinh dịch, độ nhớt, độ pH, mật độ tinh trùng, tỷ lệ tinh trùng sống, tỷ lệ tinh trùng di
động khỏe, tỷ lệ tinh trùng dị thường.
Trong dự án nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình
thường thập kỷ 90 thế kỷ XX, vấn đề sinh lý sinh sản, sinh dục được chia thành 2 đề
mục: Tuổi dậy thì ở trẻ em (chủ nhiệm: Cao Quốc Việt) và chu kỳ kinh nguyệt của
phụ nữ và học sinh Hà Nội (chủ nhiệm: Phạm Thị Minh Đức). Đáng chú ý có các
nghiên cứu: Tuổi bắt đầu dậy thì của trẻ gái và trẻ trai; Tuổi xuất tinh lần đầu; Tinh
dịch đồ; Tuổi có kinh nguyệt lần đầu; Độ dài chu kỳ kinh nguyệt; Số ngày chảy máu
trong mỗi chu kỳ; Số lượng máu kinh nguyệt trong mỗi chu kỳ; Tuổi mãn kinh.
Các nghiên cứu về tuổi dậy thì ở trẻ nam, trẻ nữ; tuổi mãn kinh, lượng máu
kinh đang được nhiều tác giả tiến hành trên nhiều đối tượng khác nhau nhằm rút ra
quy luật phát triển của con người Việt Nam trong những giai đoạn khác nhau, ở
những vùng, miền khác nhau.
1.5. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Hà Nam
1.5.1. Dân số tỉnh Hà Nam
Theo thống kê mới nhất, dân số của Hà Nam là 785.057 người, với mật độ dân
số là 912 người/km
2
, tỷ lệ tăng tự nhiên là 8‰/năm. Trong đó dân số nông thôn là


21

Chương 2.
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
2.1.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là học sinh trường THCS xã Lam Hạ, TP Phủ Lý, Hà
Nam, tất cả có 4 nhóm với 4 độ tuổi khác nhau từ 12-15 tuổi ( tính theo độ tuổi
đến trường của học sinh, còn tính tuổi sinh học thì mỗi độ tuổi cộng thêm một
năm). Các đối tượng nghiên cứu đều có sức khỏe và trạng thái tâm sinh lý bình
thường không mắc bệnh mạn tính. Tuổi của các đối tượng được tính theo quy ước
chung của Tổ chức y tế thế giới.
2.1.2. Một số hình ảnh trong quá trình điều tra nghiên cứu

22 23

2.1.3. Phân bố đối tượng nghiên cứu.
Tổng số đối tượng nghiên cứu là 416 học sinh trong đó có 214 học sinh nam
và 202 học sinh nữ. Các đối tượng nghiên cứu được phân bố như sau:

216
202
416

2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang (coss – sectional study) các chỉ
tiêu hình thái của học sinh 12÷15tuổi của học sinh trường THCS Lam Hạ, thành phố
Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
2.2.1. Chọn mẫu nghiên cứu
Mẫu được chọn ngẫu nhiên trong số học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 của trường
THCS xã Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, sau đó tiến hành nghiên cứu
trên tất cả các học sinh đã chọn.
24

2.2.2. Các chỉ số nghiên cứu
Các chỉ số về hình thái thể lực: gồm chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung
bình, vòng đùi phải, vòng cánh tay phải co, vòng bụng, vòng mông và vòng đầu.
Các dấu hiệu dậy thì bao gồm các dấu hiệu: thời điểm có mụn trứng cá, mức
độ phát triển lông nách, mức độ phát triển lông mu đối với học sinh nam; thời điểm
có mụn trứng cá, mức độ phát triển lông nách, mức độ phát triển lông mu, mức độ
phát triển tuyến vú đối với học sinh nữ.
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu các chỉ số
- Chỉ số về hình thái - thể lực
Các chỉ số về hình thái thể lực được xác định theo phương pháp được dùng
phổ biến trong nghiên cứu y sinh học [14] gồm có:
Chiều cao đứng: đơn vị là cm, dụng cụ là thước treo chia độ có độ chính xác
đến 1mm. Theo phương pháp cổ điển của Martin ( bốn điểm nhô ra nhất về phía sau
là chẩm, lưng, mông, gót; đầu để thẳng sao cho đôi mắt và điển giữa bờ trên lỗ tai
ngoài ngang vuông góc với trục cơ thể) [50]. Người được đo ở tư thế thẳng đứng
trên nền phẳng, hai gót chân sát nhau sao cho bốn điểm chẩm, lưng, mông và gót

A3: Lông sẫm màu, rậm, phủ kín, không còn nhìn thấy chân lông, đạt mức
của người trưởng thành.
+ 5 giai đoạn phát triển của lông mu [54]:
P0: Chưa có lông.
P1: Có lông rồi nhưng là lông tơ, thưa.
P2: Lông sẫm màu, rậm hơn nhưng còn nhìn thấy phần da dưới chân lông.
P3: Lông sẫm màu, rậm, phủ kín, không còn nhìn thấy chân lông, đạt mức
của người trưởng thành.
P4: Lông rậm, phát triển rộng hơn phần mu, thậm chí mọc lên rốn, ngực.
+ 5 giai đoạn phát triển tuyến vú [54]:
Ma0: Tuyến vú chưa phát triển.
Ma1: Bầu vú bắt đầu phát triển, có hiện tượng sưng ở quầng thâm núm vú,
trông giống chũm cau.
Ma2: Bầu vú phát triển hơn, nhô cao trên lồng ngực.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status