I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC T NHIấN
KHOA SINH HọC
NGÔ THị QUỳNH
NGHIÊN CứU TáC DụNG Hạ ĐƯờng huyết
và mỡ màu của dịch chiết cây sắn thuyền
(Syzygium polyamthum (Wight)Walp)
Chuyờn ngnh: Sinh hc Thc nghim
Mó s: 60 42 30
LUN VN THC S KHOA HC LUN VN THC S KHOA HC
Cỏn b hng dn Khoa hc: GS. TS. Đỗ NGọC LIÊN H Ni - 2012 Đặt vấn đề
Chương 1: Tổng quan
1. Các chất thứ cấp từ thực vật
1.1 Phân loại, cấu tạo hoá học và tính chất của các chất thứ cấp từ thực
vật
1.1.1 Nhóm các hợp chất terpen
1.1.2 Nhóm các hợp chất phenolic
1.1.3. Nhóm các hợp chât alkaloid
1.2.Tác dụng sinh học của các chất thứ cấp
1.2.1. Tác dụng chống oxy hoá
1.1.2. Tác dụng kháng sinh kháng khuẩn
1.2.3. Một số tác dụng khác
1.3. Các hợp chất thứ cấp và bệnh béo phì, ĐTĐ
1.3.1. Bệnh béo phì
30
30
30
32
32
2.1.2. Mẫu động vật
2.2. Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Xử lý mẫu
2.3.2. Khảo sát sơ bộ thành phần hoá học của lá, vỏ cành sắn thuyền
2.3.3. Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết và chống béo phì của các phân
đoạn dịch chiết từ lá, vỏ cành sắn thuyền
2.3.4. Pha thuốc và hóa chất thí nghiệm
2.3.5. Tiến hành thí nghiệm
2.3.6. Tiến hành lấy mẫu thử nghiệm
2.3.7. Phương pháp xác định một số chỉ số hóa sinh trong máu chuột trước
và sau khi điều trị bằng bằng dịch chiết
2.3.8. Xác suất thống kê toán học xử lí số liệu
Chương 3: Kết quả và thảo luận
3.1. Quy trình chiết, tách các phân đoạn từ lá và vỏ cành sắn thuyền
3.2. Định tính sơ bộ thành phần phần hóa học của dịch chiết
3.3. Định lượng polyphenol tổng số trong các phân đoạn dịch chiết
3.4. Kết quả phân tích thành phần hợp chất tự nhiên trong lá và vỏ
cành sắn thuyền bằng sắc ký lớp mỏng
3.5. Kết quả thử độc tính cấp (LD
50
3.8.3 Tác dụng của các phân đoạn dịch chiết lá và vỏ cành sắn thuyền lên
một số chỉ số glucose trong máu chuột ĐTĐ typ 2
3.8.4 Chỉ số GOT máu chuột…
3.8.5 Chỉ số GPT máu chuột……………………………………………………….
Kết luận và kiến nghị……………………………………………………
Kết luận……………………………………………………………………………
Kiến nghị ……………………………………………………………………………
Tài liệu tham khảo………………………………………………………………….
Phụ lục……………………………………………………………………………….
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
“ Thế kỷ thứ 21 là thế kỷ của các Bệnh Nội tiết và Rối loạn chuyển
hoá”. Dự báo này của các chuyên gia y tế từ những năm chín mươi của thế
kỷ thứ 20 đã và đang trở thành hiện thực. Trong số các bệnh Nội tiết và Rối
loạn chuyển hóa có bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) type 2 đã và đang là mối
quan tâm không chỉ của những người làm công tác y tế mà đã trở thành mối
quan tâm của toàn xã hội. Người ta đã chỉ ra rằng béo phì chính là yếu tố
nguy cơ gây ra nhiều bệnh về chuyển hoá nhưng đặc biệt là các bệnh ĐTĐ
type 2, tăng huyết áp, bệnh tim mạch, đột quỵ, sỏi mật, ung thư đường tiêu
hoá [1], [2].
Vậy béo phì là gì? Theo tổ chức Y tế thế giới(WHO) béo phì là tình
cũng như với Bacillus proteus.
Cho đến nay chưa có tài liệu nào nghiên cứu về khả năng chống béo phì
và ĐTĐ của các dịch chiết cây sắn thuyền.Chính vì những lý do đó, chúng
tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu ‘Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết
và mỡ máu của dịch chiết cây Sắn thuyền (Sizygium polyanthum (Wight)
Wamp).
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
2.1.Đối tượng nghiên cứu
Lá và vỏ cây Sắn thuyền (Sizygium polyanthum (Wight) Wamp) được
thu hái vào tháng 3 năm 2010 tại xã Đại Lâm tỉnh Bắc Giang.
2.2 Mục đích nghiên cứu
2.2.1. Khảo sát sơ bộ thành phần hoá học của lá và vỏ cành Sắn thuyền
(Syzygium resinosum Gagnep).
2.2.2 Nghiên cứu tác dụng của dịch chiết các phân đoạn đến trọng lượng và
một số chỉ số hoá sinh của chuột béo phì thực nghiệm (BPTN).
2.2.3. Nghiên cứu tác dụng hạ Glucose huyết của một số phân đoạn dịch
chiết trên mô hình chuột béo phì ĐTĐ mô ph ỏng type 2.
2.2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của các cao phân đoạn dịch chiết lá và vỏ cành
sắn thuyền lên các chỉ số enzym gan GOT và GPT trên mô hình chuột ĐTĐ
type 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Chiết, tách các phân đoạn của lá, vỏ cành Sắn thuyền qua các dung môi
hữu cơ.
3.2. Khảo sát thành phần hoá học của lá, vỏ cành của Cây Sắn thuyền (định
tính, phân lập các hợp chất tự nhiên, định lượng polyphenol).
3.3. Thiết kế các mô hình chuột BPTN, chuột ĐTĐ type 2.
3.4. Đánh giá tác dụng của các phân đoạn dịch chiết đến trọng lượng, một số
chỉ số lipid máu của chuột BPTN, nồng độ Glucose huyết và các chỉ số
enzym gan GOT và GPT trên mô hình chuột ĐTĐ của chuột ĐTĐ type 2,
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1. Các chất thứ cấp từ thực vật
1.1 Phân loại, cấu tạo hoá học và tính chất của các chất thứ cấp từ thực vật
Chất thứ cấp từ thực vật là các sản phẩm của quá trình trao đổi chất được
sinh ra bởi thực vật. Chúng là các chất hoá học được tổng hợp và chuyển hoá từ
các chất trao đổi bậc nhất như acid amin, protein, acid nucleic, carbonhydrat, lipid
hoặc từ các sản phẩm trung gian của chu trình đường phân, chu trình Krebs…
Khác với các chất trao đổi bậc nhất, giữ một vai trò trung tâm và tham gia
trực tiếp vào quá trình trao đổi chất của cơ thể, các chất thứ cấp từ thực vật thứ
sinh không phải là các yếu tố đặc biệt cần thiết cho quá trình sinh trưởng, phát
triển, quang hợp và sinh sản, chúng được tạo ra từ các tế bào chuyên biệt với vai
trò điều hoà mối quan hệ qua lại giữa các tế bào trong cơ thể và giữa các cá thể với
môi trường sống.
Tuỳ thuộc vào cấu trúc hoá học và các thuộc tính lý học của chúng mà các
chất thứ cấp từ thực vật được phân thành 3 nhóm chính là: nhóm terpene, nhóm
các hợp chất phenolic và nhóm alkaloid [7], [24].
1.1.3 Nhóm các hợp chất terpen
Terpene là nhóm hydrocarbon thực vật lớn và đa dạng nhất, được hình thành
từ quá trình polymer hoá các tiểu đơn vị isoprene 5 carbon (C
5
H
8
), có công thức
cấu tạo chung là (C
5
khoa học phân loại nhóm acid phenolic gồm các dẫn xuất của acid benzoic (C
6
–
C
1
) và nhóm acid cinnamic (C
6
– C
3
). Cả hai loại acid phenolic này thường tồn tại
trong cây dưới dạng liên kết hoặc ở dạng ester hoá.
* Phân nhóm cumarin
Cumarin là các dẫn xuất của α – pyrone có cấu trúc C
6
– C
3
, dị vòng chứa
oxy. Cumarin là những hợp chất hữu cơ được sinh tổng hợp khá đặc biệt trong cơ
thể thực vật. Curmarin là những chất kết tinh không màu hoặc màu vàng nhạt, vị
đắng, một số lớn dễ thăng hoa, có mùi thơm giống mùi thơm của vanilin hay của
cỏ mới khô.
Về hoá học, cumarin có thể tồn tại trong cây dưới dạng aglycon tan nhiều
trong các dung môi kém phân cực và dạng kết hợp với đường glucose tạo thành
glycoside dễ tan trong nước. Dưới tác dụng của kiềm, cumarin bị mở vòng (do có
vòng lacton) tạo thành muối tan trong nước, nếu acid hoá coumarin sẽ đóng vòng
trở lại. Các dẫn xuất của coumarin có nhóm OH tự do sẽ cho màu xanh với thuốc
thử sắt III. Hiện nay đã biết hơn 1.500 loại khác nhau tồn tại trong tự nhiên trong
800 loài thực vật đã được nhận dạng.
Trong cây, coumarin được coi là một trong số các chất “phòng thủ hoá học
hữu hiệu” giúp thực vật tránh được những bất lợi do môi trường hay dịch bệnh gây
9
10
8
5
7
6
2
3
O
1
4
1'
5'6'
4'
3'
2'
A
C
B
Hình 1.2 Flavan (2-phenyl chroman)
Flavononid có thể tham gia vào nhiều phản ứng hoá học khác nhau như phản
ứng của nhóm hydroxyl(OH), Phản ứng của vòng thơm (diazo hoá), phản ứng của
nhóm carbonyl (phản ứng shinoza) và phản ứng tạo phức với kim loại [7], [9].
Hiện nay có khoảng hơn 4500 các loại flavonoid khác nhau tồn tại trong thực vật
đã được nhận dạng.
Trong cây, flavonoid giữ rất nhiều vai trò mang chức năng sinh lý, sinh thái
có ý nghĩa sống còn như: điều chỉnh sự phân bố năng lượng ánh sáng ở lá cây
(flavonol, anthocyane), làm tăng hiệu quả quang hợp, bảo vệ cây tránh được
những bức xạ sóng ngắn, có tính kháng khuẩn, kháng nấm, giúp cây chống được
thủ hoá học hữu hiệu” bảo vệ cây trước sự tấn công của các vi sinh vật và các loại
côn trùng sâu bệnh ăn lá. Về y học, alkaloid được sử dụng rất đa dạng: làm thuốc
gây ức chế hoặc kích thích hệ thần kinh trung ương, dùng làm thuốc điều hoà
huyết áp chữa loạn nhịp tim, thuốc diệt ký sinh trùng, kháng khuẩn, chống ung thư
và nhiều tác dụng khác[7], [24], [33].
1.2.Tác dụng sinh học của các chất thứ cấp
Tác dụng sinh học của các chất thứ cấp từ thực vật rất đa dạng và phong phú.
Cho đến nay, cơ chế tác dụng của chúng còn nhiều điểm chưa hoàn toàn sáng tỏ.
Một số tác dụng chính của các chất thứ cấp từ thực vật được tập chung nghiên cứu
là tác dụng chống oxy hoá, tác dụng chống viêm, cũng như gần đay là các nghiên
cứu về tác dụng chống các tế bào ung thư hay virut HIV. 1.2.1. Tác dụng chống oxy hoá
Một trong những cơ sở sinh hoá quan trọng để các chất thực vật thứ sinh thể
hiện được hoạt tính sinh học của chúng là khả năng kìm hãm các quá trình oxy hoá
được sinh ra bởi các gốc tự do hoạt động. Tuy nhiên hoạt tính này thể hiện mạnh
hay yếu phụ thuộc vào đăc điểm cấu tạo hoá học của từng chất cụ thể. Các nghiên
cứu tác dụng chống oxy hoá tập trung chủ yếu vào nhóm flavonoid. Do bản chất
cấu tạo từ polyphenol nên flavonoid ở trong tế bào thực vật hoặc trong cơ thể
người và động vật chịu tác động của các biến đổi oxy hoá - khử, bị oxy hoá từng
bước và tồn tại dưới dạng hydroquinon, semiquinon, quinon. Semiquinon hoặc
quinon là những gốc tự do bền vững, có thể nhận điện tử và hidro từ các chất cho
khác nhau để trở lại dạng hydroquinon. Các chất này có khả năng phản ứng với
các gốc tự do hoạt động để tiêu diệt chúng. Kết quả là hạn chế quá trình bệnh lý do
cắt đứt dây chuyền phản ứng oxy hoá.
Ngoài cơ chế trên, flavonoid còn kìm hãm sự phát sinh các gốc tự do hoạt
động do có khả năng tạo phức các ion kim loại chuyển tiếp như Fe
2+
, Cu
1.3. Các hợp chất thứ cấp và bệnh béo phì, ĐTĐ
Trên thế giới đã có rât nhiều bài thuốc điều tri ĐTĐ từ thảo dược theo kinh
nghiệm dân gian. Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu thuốc điều trị ĐTĐ có nguồn gốc
thảo dược đã thu được một số kết quả. Cho tới nay đã có rất nhiều nghiên cứu đã
được thực hiện trên thế giới cũng như trong nước về tác dụng hạ đường huyết,
giảm béo phì của dịch chiết của nhiều loài thực vật, nhiều nhóm hợp chất đã được
tách mà có tác dụng hạ đường huyết. Trong đó có các flavonoid [39] alkaloid [44],
saponin [35]… Bên cạnh đó nhiều nghiên cứu cũng đã được tiến hành để xem xét
cơ chế tác dụng của các chất phân tách từ thực vật trong việc giảm trọng lượng và
glucose huyết trên mô hình chuột thực nghiệm. Chúng ta có thể nêu ra đây một số
hợp chất và dược liệu đã được nghiên cứu và sử dụng trong điều trị béo phì và
ĐTĐ:
Bảng1.1. Một số hợp chất thực vật thứ sinh đã được nghiên cứu và sử
dụng trong điều trị béo phì và ĐTĐ
Loài thực vật
Hợp chất
Cơ chế tác dụng
Bằng lăng nước
(Lagerstroemia speciosa
L.Pers.)
Acid corosolic
Tăng dung nạp glucose,
kích thích Glut 4- yếu tố
vận chuyển glucose đi vào
mô mỡ để chuyển hoá β-
oxy hoá
Chè xanh (Camella
của tuỵ
Dây thìa canh
(Gymnema sylvestre
R.Br)
Dịch chiết ethanol lá
cây
Kích thích tế bào β sản
xuất insulin
Dọc (Garcinia
multiflora)
Dịch chiết phân
đoạn ethylacetat
Giảm trọng lượng
cholesteron tổng số,
triglycerid, nồng độ
glucose huyết, tăng HDL
c
Egenia jambolana
Dịch chiết Ethanol
hạt cây
Hoạt hoá hexokinase,
PFK1, 2 là các enzym
đóng vai trò chủ chốt trong
con đường đường phân
Các cây họ cam chanh
Naringin
(Flavonoid)
Giảm cholesteron tổng số,
triglycerid, nồng độ
glucose huyết, tăng HDL
Thổ phục linh (Smilax
glabra Roxb.)
Dịch chiết các phân
đoạn
Kích thích tế bào β sản
xuất insulin
1.3.1. Bệnh béo phì
1.3.1.1. Khái niệm và phân loại béo phì
Theo tổ chức Y tế thế giới thì béo phì được định nghĩa là tình trạng tích luỹ
mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh
hưởng tới sức khoẻ [6,43].
Tổ chức Y tế thế giới thường dùng các chỉ số khối cơ thể viết tắt là BMI
(Body Mass Index) để nhận định vể tình trạng gày béo. BMI được tính theo công
thức:
Trong đó: W: Khối lượng của một người (kg)
H: Chiều cao của người đó(m)
BMI : đơn vị tính (kg/m)
Chỉ số BMI được Who thống nhất là một tiêu chuẩn để chuẩn đoán mức độ
béo phì và thừa cân. Tuy nhiên tiêu chuẩn này có sự thay đổi chút ít tuỳ theo các
vùng địa lý ở các châu lục khác nhau. Đối với người trưởng thành ở Châu Âu, chỉ
số BMI cao hơn các vùng khác chẳng hạn như ở Việt Nam.
Bảng 1.2. Phân loại BMI của người trưởng thành ở Châu Âu và Châu Á [3,10]
Mức độ thể
trọng
BMI
Đánh giá yếu tố nguy cơ bệnh
Châu Âu
Theo tổ chức Y tế thế giới, hiện nay số người bị béo phì trên thế giới đã lên
tới 1,7 tỷ người. Còn hiệp hội béo phì Mỹ, hiện nay có khoảng 60 triệu người dân
Mỹ bị béo phì, tăng gấp gần 3 lần năm 1991 (25 triệu người). Số người béo phì
cũng đang báo động ở châu âu, đứng đầu bảng là nước Anh với hơn 23% số người
béo phì, và châu âu hiện có tới hơn 14 triệu trẻ em thừa cân và béo phì. Còn ở
Nam mỹ thì Braxin cũng là nước có tỉ lệ người dân bị béo phì cao (chiếm 16%) [3
,18], trong đó tỷ lệ người trên 20 tuổi chiếm 40% dân số
Trong khi đó ở Châu Á, theo báo cáo của Trung Quốc, tốc độ gia tăng tình
trạng béo phì đã lên tới 97% trong năm qua.Tổ chức dinh dưỡng chính thức đầu
tiên của Trung Quốc và cơ quan khảo sát sức khoẻ cho biết từ giữa năm 1992 đến
năm 2002, đã có hơn 60 triệu người bị béo phì trong đó có 12% thanh thiếu niên
và 8% trẻ em.
Tình hình béo phì đang tăng lên với tốc độ báo động không những ở những
quốc gia phát triển mà cả ở các quốc gia đang phát triển. [10]
Theo điều tra mới nhất của viện Dinh dưỡng (2007) Việt Nam hiện có 16,8%
số người ở độ tuổi từ 25 – 64 đã thừa cân, béo phì. Theo đó thì cứ 100 người trong
độ tuổi trưởng thành thì có 17 người béo phì, và tỉ lệ người béo phì ở thành phố
gấp 3 lần ở nông thôn. Tình trạng thừa cân béo phì tăng nhanh ở tuổi ngoài 45
(chiếm 2/3 số người béo phì) và nữ giới có tỉ lệ béo phì cao hơn nam giới. Còn đối
với trẻ em thì tình trạng béo phì cũng ở mức đáng ngại . Tỷ lệ béo phì ở người dân
thành thị cao gấp 3 lần so với nông thôn.Ví Dụ như: ở Hà Nội có tới 4,9% số trẻ ở
độ tuổi từ 4 – 6 bị thừa cân béo phì, ở thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ này còn cao
hơn nhiều, có tới 6% số trẻ dưới 5 tuổi và 22,7% số trẻ đang học ở cấp I bị thừa
cân béo phì. Đây thật sự là mối đe dọa tiềm ẩn trong tương lai, ảnh hưởng lớn đến
sức khỏe của mỗi người và sự phát triển của kinh tế và xã hội. [10] 1.3.1.3 . Nguyên nhân gây ra bệnh béo phì [3]
Mọi người đều biết cơ thể giữ được cân nặng ổn định là nhờ trạng thái cân
bằng giữa năng lượng do thức ăn cung cấp và năng lượng tiêu hao cho lao động và
phì trở thành mục tiêu sức khoẻ cộng đồng quan trọng. Ở Việt Nam tỷ lệ người
béo co khuynh hướng gia tăng nhanh ở các đô thị.
1.3.1.4. Bệnh lý học bệnh béo phì [3]
Cho đến nay, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng béo phì có quan hệ mật thiết
đối với nhiều bệnh khác nhau như bệnh tim, rối loạn trao đổ lipid máu, bệnh tiểu
đường, xơ vữa động mạch [1, 13]
Hai nguy cơ rõ rệt của người béo phì:
Tỷ lệ bệnh tật cao: Béo phì là một trong các yếu tố nguy cơ chính của các
bệnh mãn tính không lây như bệnh mạch vành, đái tháo đường không phụ thuộc
insulin, sỏi mật. Ở phụ nữ mãn kinh, các nguy cơ ung thư túi mật, ung thư vú và
ung thư tử cung tăng lên ở người béo phì, còn ở nam giới béo phì, bệnh ung thư
thận và tuyến tiền liệt hay gặp hơn. Tỷ lệ tử vong cũng cao hơn, nhất là trong các
bệnh kể trên.
1.3.1.5. Béo phì và quá trình trao đổi Glucid- lipid
Đã có những nghiên cứu chứng minh rằng, tỷ lệ những người mắc bệnh béo
phì có nguy cơ mắc các bệnh về rối loạn lipid máu và xơ vữa động mạch là rất
cao, và cũng cao hơn so với người bình thường. Để xác định sự rối loạn lipid máu
và xơ vữa động mạch, người ta thường dựa vào một số chỉ số như: Cholesterol
máu, triglycerid, LDL (Low density lipoprotein - lipoprotein có tỷ trọng thấp),
HDL (High density lipoprotein - lipoprotein tỷ trọng cao).[43]
Cholesterol máu có vai trò rất quan trọng đối với sức khoẻ con người: giúp
cho sự hoạt động của màng tế bào thần kinh, là tiền chất tổng hợp nên các hormon
steroid (các hormone thượng thận, hormone sinh dục ). Cholesterol được tạo ra từ
hai nguồn là do cơ thể tự sản xuất ra (gan sản xuất ra 80%), và do thức ăn cung
cấp. Cholesterol ở người bình thường tương đối ổn định, khi vì một lý do nào đó
mà nó tăng quá cao thì gây hiện tượng “tăng mỡ máu”.
Cholesterol thực chất không hoà tan trong máu, nên khi lưu thông trong máu
chúng được bao quanh bởi một lớp áo protein (còn gọi là lipoprotein), chúng
giống như những chiếc xe vận tải chuyên chở Cholesterol. Có hai loại lipoprotein
quan trọng là lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) và lipoprotein tỷ trọng cao (HDL).
nhiên nó cũng hay gây tác dụng phụ là buồn nôn, tiêu chảy, gây toan máu
+ Orlistat (Xenical): làm ức chế lipase và sự hấp thu mỡ ở ruột, tác dụng phụ
của orlistat là làm suy giảm khả năng hấp thụ vitamin tan trong mỡ.
+ Các thuốc ức chế sự thèm ăn như: ephedrine, caffeine [3]
Phẫu thuật để giảm cân: áp dụng đối với những bệnh nhân có BMI trên 35,
kèm theo các bệnh lý và rối loạn liên quan. Phẫu thuật mang lại thành công rất lớn,
nhiều người giảm được đến 50% cân nặng trong vòng 1 – 2 năm đầu sau phẫu
thuật, tuy nhiên nó cũng gây ra nhiều tác dụng phụ như suy nhược, khô da, rụng
tóc tạm thời…
Tuy nhiên sử dụng thuốc cũng thường gây ra những tác dụng phụ không
mong muốn do đó một xu thế hiện nay là tìm kiếm các thảo dược từ thiên nhiên để
điều trị béo phì và các biến chứng của chúng. Ưu điểm của các dạng thuốc này là
ít tác dụng phụ, dễ kiếm, giá thành rẻ do có nguồn gốc tự do có nguồn gốc từ tự
nhiên. Cho tới nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng giảm trọng
lượng, chlolesteron, TG, LDL
c
, và làm tăng nồng độ HDL
c
của nhiều loại thảo
dược khác nhau. Chẳng hạn như Cassia mimosoid(Yâmmoto và cộng sự, 2000),
chè hoa vàng Camelia sinensis (Han và cộn sự, 2001: Wu và cộng sự, 2004),
Dioscorea nipponia(Kwon và cộng sự, 2003), Plantycodon grandiflorum (Kwon và
cộng sự, 2003), Salicia reticulata(Yoshikawa và cộng sự, 2002), Salix matsudara
(Han và cộng sự, 2003)[39,43].
1.3.2. Bệnh đái tháo đường(ĐTĐ)
Danh từ bệnh ĐTĐ (Diabetes mellitus) có nguồn gốc từ Hylạp . ĐTĐ là bệnh
phổ biến nhất và đang càng ngày phát triển trên toàn cầu. Biểu hiện của bệnh là sự
tăng đường huyết, không dung nạp glucose dẫn đến ĐTĐ. ĐTĐ cũng là nguyên
nhân gây ra các biến chứng mù mắt, suy gan, thần kinh, tim mạch, hoại tử cơ quan
vận động như chân