Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
MỤC LỤC
- CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 2
- CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ TẠI VIỆT NAM 2
- CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM 2
CHƯƠNG I 3
TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG 3
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 3
1.1. KHÁI QUÁT VỀ VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH 3
1.1.1. Khái niệm và phân loại vốn 3
1.1.1.1. Khái niệm 3
1.1.1.2. Phân loại vốn 4
1.1.2. Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh 6
1.1.4. Các hình thức huy động vốn 11
1.1.4.1. Huy động từ nguồn vốn trong nước 11
1.1.4.2. Huy động nguồn vốn nước ngoài 15
1.2. KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 16
1.2.1. Khái niệm 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG II 26
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA 26
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM 26
2.1. TỔNG QUAN ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ ĐẾN DNVVN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 26
2.1.1. Bối cảnh quốc tế 26
2.1.2. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam 28
2.2.1.1 Huy động từ vốn chủ sở hữu 41
2.2.1.2 Nguồn vốn tín dụng ngân hàng 45
ĐẦU TƯ MẠO HIỂM LÀ PHƯƠNG THỨC MÀ THEO ĐÓ, NHÀ ĐẦU TƯ HAY NHỮNG TỔ
CHỨC CHUYÊN MÔN HÓA RÓT VỐN VÀO NHỮNG DOANH NGHIỆP MỚI THÀNH LẬP,
b, Căn cứ theo qui định của pháp luật về điều kiện của vốn để thành lập doanh nghiệp thì vốn bao gồm: 4
d, Căn cứ theo thời gian 5
e, Căn cứ theo phạm vi huy động vốn 6
1.1.2. Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh 6
1.1.4. Các hình thức huy động vốn 11
1.1.4.1. Huy động từ nguồn vốn trong nước 11
a, Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước 12
b, Vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng 12
c, Huy động vốn chủ sở hữu từ lợi nhuận để lại hoặc phát hành cổ phiếu 12
d, Huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu 13
e, Tín dụng thuê mua 13
f, Vốn liên doanh, liên kết hoặc sáp nhập các doanh nghiệp nhỏ thành một doanh nghiệp lớn 14
g, Tín dụng thương mại 14
h, Các nguồn khác 15
1.1.4.2. Huy động nguồn vốn nước ngoài 15
1.2. KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 16
1.2.1. Khái niệm 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG II 26
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA 26
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM 26
2.1. TỔNG QUAN ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ ĐẾN DNVVN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 26
2.1.1. Bối cảnh quốc tế 26
2.1.2. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam 28
2.2.1.1 Huy động từ vốn chủ sở hữu 41
2.2.1.2 Nguồn vốn tín dụng ngân hàng 45
ĐẦU TƯ MẠO HIỂM LÀ PHƯƠNG THỨC MÀ THEO ĐÓ, NHÀ ĐẦU TƯ HAY NHỮNG TỔ
CHỨC CHUYÊN MÔN HÓA RÓT VỐN VÀO NHỮNG DOANH NGHIỆP MỚI THÀNH LẬP,
CHƯA NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, CÓ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CAO
VÀ THƯỜNG SỬ DỤNG CÁC CÔNG NGHỆ MỚI, HIỆN ĐẠI ĐANG CẦN TÀI TRỢ ĐỂ PHÁT
NSNN Ngân sách Nhà nước
ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
ROE Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
WTO Tổ chức thương mại kinh tế thế giới
SV: Đặng Khánh Vân Lớp: LTĐH 6D
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
PHẦN MỞ
ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn đầu để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
việc đẩy mạnh và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể khẳng định đó là bước
đi hợp với qui luật đối với nước ta, điều này đã được thể hiện trong chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong hơn mười năm qua.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọi
nguồn lực kinh tế, đặc biệt những loại nguồn lực tiềm tàng sẵn có với khả năng có
hạn ở mỗi người, mỗi miền của Tổ quốc. Các loại doanh nghiệp này nếu được
phát triển, chắc chắn sẽ có tác dụng to lớn trong việc giải quyết mối quan hệ mà
quốc gia nào trên thế giới cũng phải quan tâm chú ý đến đó là mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và kiềm chế lạm phát.
Nhưng để phát triển được doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta đòi hỏi chúng
ta phải giải quyết hàng loạt những khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp
phải, như: Thiếu vốn kinh doanh, thị trường tiêu thụ, môi trường pháp lý, mặt bằng
sản xuất Nhằm góp phần giải quyết những khó khăn trên đối với những doanh
nghiệp vừa và nhỏ, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu về: "Huy động vốn tại doanh
nghiệp vừa và nhỏ-Thực trạng và giải pháp".
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ về mặt lý luận, vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá
trình phát triển kinh tế thị trường nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
- Nhận thức lại vốn kinh doanh, đánh giá thực trạng tình hình sử dụng vốn
vừa và nhỏ khu vực kinh tế tư nhân và nguyên nhân chủ yếu doanh nghiệp dẫn đến
thực trạng đó.
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Việt Nam.
6. Kết luận của khoá luận.
Tên đề tài: “Huy động vốn trong doanh nghiệp vừa và nhỏ.Thực trạng và
giải pháp”. Khoá luận gồm 80 trang, nội dung gồm 3 chương:
- Chương I : TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
- Chương II : THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
- Chương III : GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM
SV: Đặng Khánh Vân Lớp: LTĐH 6D
2
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1. Khái quát về vốn và huy động vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1. Khái niệm và phân loại vốn
1.1.1.1. Khái niệm
Theo sự phát triển của lịch sử, các quan điểm về vốn xuất hiện và ngày càng
hoàn thiện, tiêu biểu có các cách hiểu như sau về vốn của các nhà kinh tế học thuộc
các trường phái kinh tế khác nhau.
Các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn với góc độ hiện vật. Họ cho rằng,
vốn là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh. Cách
hiểu này phù hợp với trình độ kinh tế còn sơ khai – giai đoạn kinh tế học mới xuất
hiện và bắt đầu phát triển.
Theo David Begg, Standley, Fishcher, Rudige Darnbusch trong cuốn “Kinh
nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được
tài sản cố định về mặt giá trị. Do đặc điểm về phương thức chu chuyển vốn nên vốn
cố định được quản lý theo phương thức đặc trưng riêng biệt phù hợp, đó là phương
thức quản lý theo chế độ khấu hao dần dần đối với tài sản cố định.
Vốn lưu động của doanh nghiệp: là số vốn ứng ra để hình thành nên các
tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được
thực hiện thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay
trong một lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết
thúc một chu kỳ kinh doanh.
b, Căn cứ theo qui định của pháp luật về điều kiện của vốn để thành lập
doanh nghiệp thì vốn bao gồm:
Vốn pháp định là vốn tối thiểu phải có của một doanh nghiệp khi thành
lập doanh nghiệp và trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp theo quy định
của pháp luật. Số vốn này là bảo đảm trên cơ sở của luật pháp cho hoạt động kinh
doanh của một doanh nghiệp. Qui mô của vốn pháp định tuỳ thuộc vào tính chất và
qui mô của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
SV: Đặng Khánh Vân Lớp: LTĐH 6D
4
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Vốn điều lệ là loại vốn được hình thành theo điều khoản vốn trong điều lệ
của doanh nghiệp.
c, Căn cứ theo tính chất sở hữu đối với khoản vốn sử dụng thì vốn của doanh
nghiệp được chia thành vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu: Là nguồn vốn do các chủ sở hữu của doanh nghiệp tài
trợ, không phải là một khoản nợ do đó không phải trả lãi cho vốn cổ phần đã huy
động mà sẽ chia lợi tức cổ phần cho các chủ sở hữu. Khi huy động không phải có
bảo đảm bằng tài sản và không hoàn trả những khoản tiền đã huy động.
Vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản cụ thể sau :
- Vốn góp
- Lợi nhuận chưa phân phối.
Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn doanh nghiệp có thể
huy động từ bên ngoài như: liên doanh liên kết ,khoản vốn mà doanh nghiệp có thể
vay của các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, công ty tài chính phát hành trái
phiếu để doanh nghiệp có thể thực hiện vay vốn trung hạn và dài hạn qua thị trường
với khối lượng lớn.
1.1.2. Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
- Về mặt pháp lý: mỗi doanh nghiệp khi muốn có giấy phép hoạt động sản
xuất kinh doanh cần phải chứng minh được một yếu trong các yếu tố cơ bản đó là
vốn, khi đó địa vị pháp lí của doanh nghiệp mới được xác lập . Ngược lại, thì doanh
nghiệp sẽ không đủ điều kiện để hoạt động. Trong thời gian hoạt động kinh doanh
doanh nghiệp luôn phải đáp ứng được mọi nhu cầu về vốn theo quy định nếu không
doanh nghiệp sẽ bị thu hồi giấy phép kinh doanh hay buộc phải tuyên bố giải thể,
phá sản, sáp nhập. Như vậy vốn là nhân tố hàng đầu đảm bảo sự tồn tại tư cách
pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp
Về mặt kinh tế: Trong hoạt động kinh doanh, vốn là một trong các yếu tố
quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Vốn không những đảm
bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị dây chuyền công nghệ phục vụ cho quá
trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường
xuyên liên tục.
Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiêp trên thương trường. Điều này càng
thể hiện rõ trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay
SV: Đặng Khánh Vân Lớp: LTĐH 6D
6
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
gắt các doanh nghiêp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đầu tư hiện đại
hóa công nghệ. Tất cả những yếu tố này muốn đạt được đòi hỏi doanh nghiệp phải
có một lượng vốn đủ lớn.
Vốn cũng là một yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của
doanh nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kì kinh
ích chung của xã hội. Việc DN lựa chọn nguồn vốn và phương thức huy động vốn
trước hết phải xem xét các yếu tố điều kiện để có thể tiến hành. Phương thức huy
động vốn được chọn phải là phương thức hội tụ đầy đủ các yếu tố hợp lý về pháp
luật cũng như trên các phương diện khác của doanh nghiệp.
Ngoài ra, các chính sách ưu tiên khuyến khích hay hạn chế phát triển đối
với một ngành nghề nào đó cũng sẽ tạo điều kiện hoặc hạn chế khả năng huy động
vốn của doanh nghiệp.
1.1.3.3. Nhân tố nền kinh tế.
Sự phát triển của thị trường tài chính
Sự phát triển của thị trường tài chính ảnh hưởng rất lớn đến nguồn vốn và khả
năng huy động vốn của doanh nghiệp. Một quốc gia có thị trường tài chính hoàn thiện
với đầy đủ các kênh tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp có thể tạo cho doanh
nghiệp cơ hội đa dạng hoá nguồn vốn và khả năng huy động vốn của mình. Doanh
nghiệp có thể chọn phương thức huy động qua kênh trực tiếp là qua thị trường chứng
khoán dưới các hình thức phát hành chứng khoán: cổ phiếu, trái phiếu Hay có thể lựa
chọn phương thức huy động qua kênh gián tiếp là thông qua hệ thống các trung gian
tài chính: các ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các công ty tài chính
Năng lực tăng trưởng của nền kinh tế
Đặt trong bối cảnh tổng quát và dài hạn, năng lực tăng trưởng của nền kinh
tế là yếu tố quan trọng xác định triển vọng huy động các nguồn vốn đầu tư một cách
hiệu quả. Vấn đề tăng trưởng ở đây được nhìn nhận như một yếu tố tạo sức hấp dẫn
ngày càng lớn đối với vốn đầu tư cả trong và ngòai nước. Với năng lực tăng trưởng
được đảm bảo, năng lực tích lũy của nền kinh tế sẽ có khả năng gia tăng. Khi đó
quy mô các nguồn vốn trong nước có thể huy động sẽ được cải thiện. Ngoài ra, triển
vọng tăng trưởng và phát triển ngày càng cao cũng là tín hiệu tốt thu hút các nguồn
vốn đầu tư nước ngoài.
Tính ốn định của môi trường kinh tế vĩ mô
SV: Đặng Khánh Vân Lớp: LTĐH 6D
8
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
9
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
vốn phù hợp với doanh nghiệp. Đó là một trong những nguyên nhân mà một doanh
nghiệp là công ty cổ phần có nguồn vốn và phương thức huy động vốn khác với một
công ty tư nhân, hay một doanh nghiệp sản xuất có tính thời vụ có nguồn vốn và
phương thức huy động khác với một doanh nghiệp thương mại… Một doanh nghiệp
có quy mô nhỏ, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ không thể so sánh về nguồn tài trợ với một
công ty đa quốc gia có quy mô và cơ cấu quản lý rộng trên toàn thế giới
Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp.
Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến nguồn vốn và
phương thức huy động vốn của doanh nghiệp. Thực chất huy động vốn để đầu tư,
tức là tài trợ cho các tài sản phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh. Trước khi tiến
hành huy động vốn mỗi doanh nghiệp đã phải xem xét đến nhu cầu về tài sản của
doanh nghiệp, quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần bao nhiêu tài sản
lưu động, bao nhiêu tài sản cố định, và dựa trên cơ cấu tài sản thực có trong doanh
nghiệp thì cần tài trợ thêm bao nhiêu, từ đó xác định được nhu cầu vốn của mình và
tiến hành các công tác của hoạt động huy động vốn. Cũng căn cứ vào cơ cấu tài sản
trong doanh nghiệp để có thể lựa chọn nguồn vốn huy động cho phù hợp. Nếu nhu
cầu vốn phần lớn tập trung vào vốn lưu động để tài trợ cho tài sản lưu động thì
doanh nghiệp sẽ vận dụng phương thức huy động nguồn ngắn hạn, ngược lại khi
nhu cầu vốn tập trung đầu tư cho tài sản cố định thì huy động nguồn dài hạn là
phương thức phù hợp hơn.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp là một trong các nhân tố ảnh hưởng lớn
đến nguồn vốn và công tác huy động vốn của doanh nghiệp. Khi xem xét tình hình
tài chính của doanh nghiệp, các chủ nợ, các nhà đầu tư cũng như các chủ sở hữu
doanh nghiệp nắm được chính xác những vấn đề về tài chính của doanh nghiệp, từ
đó quyết định có đầu tư vào doanh nghiệp hay không?
Nếu một doanh nghiệp có tình hình tài chính sáng sủa, lành mạnh.Việc thu
hút vốn vào doanh nghiệp là tương đối dễ dàng và thuận lợi, vì các nhà đầu tư, các
chủ nợ căn cứ vào tình hình tài chính của doanh nghiệp để đánh giá mức độ rủi ro
tiền tệ như là một tiền đề bắt buộc. Không có vốn sẽ không có bất kỳ một hoạt động
sản xuất kinh doanh nào. Một lượng tiền vốn như thế chỉ có thể có được thông qua
con đường ghép nhiều nguồn vốn mà thành. Đó chính là quá trình huy động, tập
trung vốn trong sản xuất kinh doanh.Quá trình này có thể tiến hành bằng một số
hình thức sau :
1.1.4.1. Huy động từ nguồn vốn trong nước
SV: Đặng Khánh Vân Lớp: LTĐH 6D
11
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
a, Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước
Với hình thức này doanh nghiệp sẽ nhận được lượng vốn từ ngân sách nhà
cấp. Thông thường hình thức này không đòi hỏi nhiều điều kiện ngặt nghèo đối với
doanh nghiệp được cấp vốn như các hình thức huy động vốn khác. Tuy nhiên, càng
ngày hình thức này càng bị thu hẹp cả về quy mô vốn và phạm vi được cấp. Ngân
sách cấp vốn cho một số doanh nghiệp nhà nước như một công cụ điều tiết nền kinh
tế hoặc các dự án đầu tư ở những lĩnh vực sản xuất hàng hóa công cộng, hoạt động
công ích mà tư nhân không muốn hoặc không có khả năng.
b, Vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Trong thực tế nền kinh tế thị trường không một doanh nghiệp nào hoạt động
mà không vay vốn ngân hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất. Nguồn vốn
vay ngân hàng có thể chia thành hai loại chính là vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài
hạn.
• Vay ngắn hạn
Vay ngắn hạn là phương thức huy động vốn quan trọng đối với các doanh
nghiệp. Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng có thể đáp ứng nhu cầu vốn tức thời
cho doanh nghiệp từ vài ngày cho tới cả năm với lượng vốn theo nhu cầu kinh
doanh của doanh nghiệp.
• Vay dài hạn
Vay dài hạn là hình thức huy động vốn bằng cách đi vay các tổ chức tài chính
dưới dạng hợp đồng tín dụng và doanh nghiệp phải hoàn trả khoản vay theo lịch
Tín dụng thuê mua là một hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loại tài
sản, máy móc thiết bị. Thuê mua là sự thoả thuận theo hợp đồng được kí kết giữa
hai hay nhiều bên có liên quan đến một hay nhiều tài sản, trong ðó ngýời cho thuê
( chủ sở hữu tài sản) chuyển giao tài sản cho ngýời thuê ( người sử dụng tài sản)
được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và người thuê phải trả cho
ngýời cho thuê một khoản tiền thuê tương xứng với quyền sử dụng.Tín dụng thuê
mua có hai phương thức chủ yếu:
• Thuê vận hành
Thuê vận hành là một thoả thuận mà theo đó người cho thuê chuyển cho
người thuê quyền sử dụng tài sản trong một thời gian để lấy tiền thuê. Trong hình
thức thuê vận hành người ta không dự kiến là quyền sở hữu tài sản sẽ được chuyển
giao khi hết thời hạn thuê và thông thường người thuê chỉ sử dụng tài sản một của
SV: Đặng Khánh Vân Lớp: LTĐH 6D
13
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
thời kì hữu ích của tài sản. Hết thời hạn thuê, bên thuê trả lại tài sản này cho người
cho thuê. Thuê vận hành có hai đặc trưng chính:
Thời hạn thuê thường rất ngắn so với toàn bộ thời gian hữu ích của tài sản,
điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần thông báo trước một thời gian ngắn.
Người thuê chỉ trả tiền thuê theo thoả thuận, người cho thuê phải chịu mọi
chi phí vận hành của tài sản cùng với những rủi ro về hao mòn vô hình của tài sản.
Cho thuê vận hành thường hạn chế trong các tài sản có thời gian sử dụng lâu
dài hoặc có một thị trường thiết bị cũ năng động. Người cho thuê vận hành thường
hiểu biết rất rõ về tài sản cho thuê.
• Thuê tài chính
Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn theo hợp
đồng. Theo phương thức này, người cho thuê thường mua tài sản, thiết bị mà người
thuê cần và đã thương lượng từ trước các điều kiện mua lại tài sản từ người cho
thuê. Trong nhiều trường hợp bên thuê có thể bán tài sản của mình cho người cho
thuê rồi thuê lại. Trong hợp đồng thuê tài chính thì thời gian thuê chiếm phần lớn
Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, nguồn vốn được thể hiện trong
khoản mục phải nộp và phải trả công nhân viên chiếm tỷ trọng không lớn và cũng
không đóng vai trò quan trọng lắm. Tuy nhiên trong một thời điểm nào đó nó cũng có
thể giúp doanh nghiệp giải quyết những nhu cầu vốn mang tính chất tạm thời.
Các khoản phải nộp và phải trả của doanh nghiệp bao gồm:
- Các khoản thuế phải nộp nhưng chưa nộp.
- Các khoản phải trả người lao động nhưng chưa đến kỳ trả.
- Các khoản đặt cọc của khách hàng.
- Phải trả cho các đơn vị nội bộ.
1.1.4.2. Huy động nguồn vốn nước ngoài
Nguồn vốn nước ngoài đưa vào các nước đang và chậm phát triển được thực
hiện qua một số hình thức chính như sau:
- Tài trợ phát triển chính thức (ODF- Official Development Finance): là tất
cả các nguồn tài chính mà chính phủ các nước phát triển và các tổ chức đa phương
dành cho các nước đang phát triển. Nguồn này bao gồm Viện trợ phát triển chính
thức (ODA- Official Development Assistance) và các hình thức tài trợ khác. Trong
đó ODA chiếm tỉ trọng chủ yếu trong ODF.
Viện trợ phát triển chính thức (ODA- Official Development Assistance) : là
SV: Đặng Khánh Vân Lớp: LTĐH 6D
15
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
một phần của tài chính phát triển chính thức ODF, trong đó có yếu tố viện trợ
không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện
trợ.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): là một loại hình thức di chuyển vốn
quốc tế. Trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều
hành hoạt động sử dụng vốn. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thể hiện dưới ba
hình thức chủ yếu:
− Doanh nghiệp liên doanh.
− Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
doanh nghiệp như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp
của quản lý thấp Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn
đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó chúng thường được dùng làm cơ
sở để tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế. Nhóm
tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay
vốn, doanh thu, lợi nhuận.
1.2.2. Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trên thế giới, định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ được hiểu và quy
định khác nhau tuỳ theo từng nơi. Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp có
hai nhóm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Nhóm tiêu chí định tính dựa
trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hoá thấp, số
đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp Các tiêu chí này có ưu
thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế.
Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong, kiểm chứng mà ít
được sử dụng để phân loại trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào
các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Trong
đó:Số lao động: có thể lao động trung bình trong danh sách, lao động thường
xuyên, lao động thực tế;Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn),
tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại;Doanh thu: có thể là tổng doanh
thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số
này).Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động.
Còn một số tiêu chí khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước.
Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ
SV: Đặng Khánh Vân Lớp: LTĐH 6D
17
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
Trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình độ phát triển càng cao thì trị
số các tiêu chí càng tăng lên. Ví dụ như một doanh nghiệp có 400 lao động ở Việt
Nam không được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng lại được tính là
) = I
b
* I
a
*S
a
/ I
d
Trong đó:
F(S
ba
): quy mô một doanh nghiệp thuộc một ngành và trên một lãnh thổ
SV: Đặng Khánh Vân Lớp: LTĐH 6D
18
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
cụ thể.
I
b
,I
a
,I
d
: tương ứng là hệ số vùng, ngành, hệ số tăng trưởng quy mô doanh
nghiệp;S
a
: quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế một
quốc gia, khu vực và toàn cầu. Các ưu thế và nhược điểm của loại hình doanh
nghiệp này sẽ được trình bày dưới đây nhằm đem lại một cái nhìn sâu vào bản
chất của loại hình này, cho phép ta định ra hướng đi rõ ràng trong việc xác định
ít lao động nên có khả năng mạo hiểm sẵn sàng mạo hiểm. Trong trường hợp
thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể
làm lại từ đầu được. Bên cạnh đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ có động cơ để đi
vào các lĩnh vực mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh
với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt. Họ phải dựa vào
lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm.
• Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu
quả với chi phí cố định thấp.
Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố
định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép.
Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn. Với
chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn,sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình,
các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng
như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị
trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều
hạn chế.
• Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động.
Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ tất nhiên là không lớn lắm. Số
lượng lao động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động trong
xí nghiệp chưa quá mức rõ rệt. Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người
lao động khá gắn bó. Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp.Các hạn
chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn. Các hạn chế khách quan
đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính các lợi thế của doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
• Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của các DNVVN nằm trong chính đặc
điểm của nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm
SV: Đặng Khánh Vân Lớp: LTĐH 6D
20
Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến
nh ấ
t , do đặc tính phân bố rải rác của chúng. Các doanh nghiệp loại
này thường phân tán nên chúng có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều
vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động, đặc biệt là với các vùng sâu, vùng xa,
vùng chưa phát triển kinh tế, với các đối tượng lao động có trình độ tay nghề thấp.
Nhờ vậy chúng vừa giải quyết thất nghiệp vừa góp phần giảm dòng người chuyển
SV: Đặng Khánh Vân Lớp: LTĐH 6D
21