Lời mở đầu
Sự tồn tại và phát triển của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị
trờng là một tất yếu khách quan do nhu cầu của thị trờng rất đa dạng và phong phú
mà các Doanh nghiệp lớn không đáp ứng đợc. Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ với đặc
điểm linh hoạt, thích ứng nhanh, dễ dàng thâm nhập mọi ngõ ngách của thị trờng,
có vai trò đáng kể trong việc làm cho nền kinh tế năng động hơn, thu hút vốn và tạo
thêm nhiều việc làm với chi phí thấp.
ở Việt Nam hiện nay, riêng trong khu vực công nghiệp và dịch vụ, số lợng
Doanh nghiệp và nhỏ chiếm trên 94%. Năm 1998, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
trong công nghiệp, vận tải, thơng mại dịch vụ đã thu hút trên 8,5 triệu lao động,
chiếm 45,6% tổng vốn đầu t của các lĩnh vực này, tạo ra 26% giá trị tổng sản lợng
toàn ngành công nghiệp & 54% giá trị công nghiệp địa phơng, chiếm 78% tổng
mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ, đóng góp không nhỏ vào ngân sách nhà nớc. Do vậy,
việc tìm hiểu thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế cũng nh đối với sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cả nớc theo đờng lối mà Đảng và nhân
dân ta đã lựa chọn.
Khó khăn lớn nhất đối với DNVVN hiện nay là thiếu vốn. Tuy tỉ trọng vốn vay
cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tổng vốn tín dụng ngân hàng đã tăng lên ( năm
1995: 50%; năm 1996: 55%; năm 1998: 65% ) nhng nhìn chung, các Doanh nghiệp
này vẫn ở trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng. Do thị trờng vốn trung và dài hạn
mới ở giai đoạn sơ khai, hệ thống ngân hàng còn yếu kém, cha phát huy hết khả
năng của mình cộng thêm sự kém mạnh dạn của các DNVVN nên nhiều nơi chỉ có
khoảng 60% số Doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận đợc với tín dụng ngân hàng (có
nơi chỉ 30 - 35%), đáp ứng đợc khoảng 30% nhu cầu vốn, đặc biệt là vốn đầu t khi
thành lập Doanh nghiệp. Phần lớn lợng vốn còn lại đợc trang trải bằng vốn tự có và
bằng các hình thức huy động phi chính thức. Các nguồn vốn này hiện cha đợc
Thực trạng và giải pháp huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1
nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ. Do đó cha có giải pháp hữu hiệu để huy
động và sử dụng một cách an toàn , có hiệu quả.
nhau giữa các nớc mà còn thay đổi trong một nớc. Cũng cần nói thêm rằng ở hầu
hết các nớc, ngời ta hay nói gộp chung doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp vừa
thành DNNVV, vì các nhà nớc thờng có chính sách chung cho cả hai loại doanh
nghiệp đó.
Thực trạng và giải pháp huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
3
ở Việt Nam, theo công văn số 681/CP-KTN ngày 20-6-1998 của Văn phòng
Chính phủ, DNVVN là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dới 5 tỷ đồng (tơng đơng
387.600 USD vào thời điểm ban hành công văn số 681) và có số lao động dới 200
ngời.
Dựa trên định nghĩa này, một số nhà nghiên cứu đã cụ thể hoá thêm :doanh
nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao động ít hơn 50 ngời hoặc có tổng giá trị vốn
dới 1 tỷ đồng; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động từ 51-200 ngời
hoặc có tổng giá trị vốn (hoặc doanh thu) từ 1tỷ đồng đến 5 tỷ đồng.
1.3 Vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí rất quan trọng và có ảnh hởng ngày càng lớn
tới sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Theo đánh giá của các chuyên viên kinh
tế ở các nớc Nics, Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng 81 - 98% khối lợng các
doanh nghiệp trong nền kinh tế, thu hút số lợng lao động từ 40 - 70%, xuất khẩu
trực tiếp chiếm từ 15 - 66% kim ngạch xuất khẩu ở mỗi nớc, tạo ra giá trị hàng hoá
và dịch vụ chiếm từ 22 - 55% tổng lợng hàng hoá của nền kinh tế.
ở Việt Nam, trong những năm qua hầu hết các doanh nghiệp mới thành lập
đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các Doanh
nghiệp, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trởng kinh tế, tạo
việc làm, thu hút vốn đầu t trong và ngoài nớc làm cho nền kinh tế năng động,
hiệu quả hơn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng hiện đại
- Đóng góp vào tăng trởng kinh tế:
Mỗi năm, DNVVN đóng góp khoảng 25-26% GDP của cả nớc. Năm 1996, giá
trị sản lợng công nghiệp do Doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra là 8.315 tỷ đồng, chiếm
35% giá trị tổng sản lợng toàn ngành và 54% giá trị công nghiệp địa phơng. Tổng
phí về vốn sẽ thấp hơn, bớt rủi ro hơn so với các nguồn vốn từ bên ngoài (vay nợ
Thực trạng và giải pháp huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
5
hoặc đầu t trực tiếp từ nớc ngoài ). Hơn nữa, khi nguồn vốn này đợc phát huy nó
cũng tự làm cho nền kinh tế trở nên năng động hơn vì khi đó mỗi công dân sẽ trở
thành một cổ đông của nền kinh tế, và họ sẽ quan tâm tích cực hơn tới sự vận động
của chính công ty mà họ đang có cổ phần, điều này sẽ cho phép khai thác tối đa
nguồn nhân lực mà chúng ta đang có và hiệu quả đem lại sẽ là vô cùng lớn. Theo dự
kiến kế hoạch 5 năm 2001-2005, để đạt tốc độ tăng GDP bình quân năm là 7.5%,
vốn đầu t phát triển toàn xã hội phải đạt từ 830-850 nghìn tỷ đồng(tơng đơng với
59-61 tỷ USD) tăng bình quân từ 11-12%, trong đó, vốn trong nớc phải chiếm 2/3.
Trong tổng vốn đầu t phát triển toàn xã hội, vốn ngân sách chiếm 20-21%; tín dụng
nhà nớc chiếm 17-18%; vốn của doanh nghiệp nhà nớc 19-20%; vốn nớc ngoài 16-
17%; vốn của kinh tế dân doanh chiếm 24-25%. Nh vậy, đây là một yêu cầu lớn
cũng nh triển vọng lớn đối với các DNVVN của nớc ta.
- Làm nền kinh tế năng động có hiệu quả hơn:
Do số lợng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng lên một cách nhanh chóng trong
những năm vừa qua và do nhu cầu vốn ít, quy mô nhỏ vì vậy họ có khả năng thay
đổi mặt hàng, công nghệ, chuyển hớng kinh doanh một cách nhanh chóng. Nói cánh
khác, với đặc điểm linh hoạt, gọn nhẹ các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể luồn lách
qua các kẽ hở của thị trờng, tìm cách thoả mãn tốt nhất những nhu cầu của thị trờng;
đối với doanh nghiệp lớn, DNVVN cũng có thể làm đại lý, vệ tinh, tiêu thụ hàng
hoá hoặc cunh cấp vật t đầu vào với giá rẻ hơn, do đó góp phần hạ giá thành, nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lớn. Nh vậy, DNVVN đã đóng
vai trò điều tiết thị trờng làm cho thị trờng chở nên linh hoạt, năng động, hiệu quả
hơn.
- Phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh:
Trong thực tế, có những DNVVN vẫn tiếp tục giữ tổ chức của mình là nhỏ
hoặc vừa vì quy mô này là phù hợp với khả năng kinh doanh, ngành, nghề đang theo
đuổi, nhng cũng có các doanh nghiệp phát triển lên thành những doanh nghiệp có
2.2.1 Nguồn vốn chủ sở hữu
Khi mới thành lập, DNVVN cần một số vốn nhất định để khởi nghiệp; số vốn
ban đầu này dùng cho việc thuê nhà xởng, máy móc, thiết bị, thuê nhân công, thanh
toán cho các nhà cung cấp, mua nguyên vật liệu cho sản xuất, tiền quảng cáo và các
khoản chi phí khác liên quan đến hoạt động kinh doanh ban đầu. Số vốn này sẽ đợc
chủ doanh nghiệp huy động từ các nguồn cá nhân nh bạn bè, ngời thân và của
chính ngời chủ doanh nghiệp. Ngoài ra, trong trờng hợp các nguồn vốn này vẫn cha
đủ cho công việc kinh doanh sắp tới của doanh nghiệp thì các chủ doanh nghiệp có
thể kêu gọi góp vốn từ các chủ đầu t đang tìm kiếm các cơ hội đầu t mới thông qua
các trung gian tài chính. Nguồn vốn này có chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp nh-
ng qui mô vốn chỉ có giới hạn và nó thờng không đổi trong suốt quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp. Do vậy, chủ doanh nghiệp phải tính toán cẩn thận lợng
vốn cần thiết cho giai đoạn đầu phát triển, khi mà doanh nghiệp cha tạo đợc niềm
tin đối với các nhà cung ứng, với khách hàng và đặc biệt là với các ngân hàng.
2.2.2 Nguồn vốn chính thức
2.2.2.1 Khấu hao tài sản cố định
Tài sản cố định là những t liệu lao động tham gia vào nhiều quá trình sản xuất.
Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định bị hao mòn dần và chuyển dần giá trị của
nó vào giá thành sản phẩm. Hao mòn tài sản cố đinh là một quá trình mang tính
khách quan, phụ thuộc vào nhiều nhân tố nh chất lợng của bản thân tài sản cố định,
các yếu tố tự nhiên, cờng độ sử dụng tài sản cố định... Trong quá trình sử dụng tài
sản cố định, doanh nghiệp phải xác định mức độ hao mòn của chúng để chuyển dần
giá trị hao mòn vào sản phẩm đợc sản xuất ra từ các tài sản cố định đó. Việc xác
định mức khầu hao cụ thể phụ thuộc vào thực tiễn sử dụng tài sản cố định cũng nh
Thực trạng và giải pháp huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
8
ý muốn chủ quan của con ngời. Đối với các doanh nghiệp nhà nớc trong một chừng
mực nhất định, quá trình xác định khấu hao chịu ảnh hởng ý đồ của Nhà nớc thông
qua các quy định, chính sách cụ thể của cơ quan tài chính trong từng thời kỳ. Các
doanh nghiệp khác có thể tự lựa chọn thời hạn sử dụng và phơng pháp tính khầu hao
kho tài sản lu động không cần thiết, đảm bảo lợng lu kho mỗi loại tài sản hợp lý.
2.2.2.4 Vay vốn của các ngân hàng thơng mại
Vay vốn từ ngân hàng thơng mại là hình thức doanh nghiệp vay vốn của các
ngân hàng thơng mại với các kỳ hạn khác nhau nh ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là mối quan
hệ tín dụng giữa một bên cho vay và một bên đi vay.
Với hình thức vay vốn từ ngân hàng thơng mại doanh nghiệp có thể huy động
đợc một lợng vốn lớn, đúng hạn và có thể mời các ngân hàng cùng tham gia thẩm
đinh dự án nếu có cầu đầu t lớn. Bên cạnh đó để thực hiện đợc hình thức vay vốn từ
các ngân hàng thơng mại đòi hỏi doanh nghiệp phải có uy tín lớn, kiên trì đàm
phán, chấp nhận các thủ tục thẩm định ngặt nghèo. Trong quá trình sử dụng vốn,
doanh nghiệp phải tính toán trả nợ ngân hàng theo đúng tiến độ kế hoạch. Mặt khác,
khi doanh nghiệp vay vốn ở các ngân hàng thơng mại có thể bị ngân hàng thơng
mại đòi hỏi quyền kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian cho
vay, chẳng hạn:
- Ngân hàng cho vay có thể khống chế giá trị tài sản cố định để tránh
ngâm, vốn tránh rủi ro.
- Doanh nghiệp sẽ không đợc vay thêm dài hạn nếu không có sự đồng ý của
ngân hàng cho vay.
- Doanh nghiệp không đợc đem thế chấp tài sản nếu không có sự đồng ý của
ngân hàng cho vay.
- Ngân hàng cho vay có thể áp đặt cơ chế kiểm soát chi phối hoạt động đầu t
để phòng ngừa doanh nghiệp sử dụng vốn bừa bãi.
Thực trạng và giải pháp huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
10
- Ngân hàng cho vay có thể đòi hỏi can thiệp vào sự thay đổi ban lãnh đạo
của doanh nghiệp....
2.2.2.5 Tín dụng thuê mua
Trong cơ chế kinh tế thị trờng, phơng thức tín dụng thuê mua đợc thực hiện
giữa một doanh nghiệp có cầu sử dụng máy móc, thiết bị với một doanh nghiệp thực
Hiện nay, đối tợng đợc cung ứng vốn theo hình thức này thờng phải là các doanh
nghiệp nhà nớc đợc Nhà nớc xác định duy trì để đóng vai trò công cụ điều tiết kinh
tế; các dự án đầu t ở các lĩnh vực sản xuất hàng hoá công cộng, hoạt động công ích
mà t nhân không muốn hoặc không có khă năng đầu t; các dự án lớn có tầm quan
trọng đặc biệt do Nhà nớc trực tiếp làm chủ dự án. Vì vậy, với hầu hết các DNVVN,
đây là nguồn vốn đặt quá xa tầm với của họ. DNVVN sẽ không trông đợi vào sự
cung ứng vốn từ nguồn này.
2.2.2.7 Quỹ hỗ trợ phát triển
Quỹ hỗ trợ phát triển là một hình thức tín dụng Nhà nớc nhằm hỗ trợ vốn cho
các dự án đầu t của các doanh nghiệp trong nớc. Quỹ này hoạt động dựa trên nguồn
vốn do Nhà nớc cấp hàng năm và các nguồn vốn vay, viện trợ của các tổ chức và
Chính phủ quốc tế. Hiện nay, sau khi ra đời các quy định mới của Chính phủ thì
việc vay vốn của quỹ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều, tỷ lệ vốn vay lớn hơn,lãi suất
tiền vay thấp và điều kiện thế chấp đơn giản hơn. Đây là một nguồn tín dụng lớn với
chi phí thấp đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trờng.
2.2.2.8 Nguồn vốn nớc ngoài đầu t trực tiếp (FDI)
Trong cơ chế kinh tế mở, từ khi có Luật đầu t nớc ngoài, các doanh nghiệp
trong nớc còn có thể đợc cung ứng vốn bằng phơng thức các doanh nghiệp nớc
ngoài đầu t trực tiếp.
Với nguồn vốn FDI doanh nghiệp không chỉ nhận đợc vốn mà còn nhận đợc cả
kỹ thuật công nghệ cũng nh phơng thức quản trị tiên tiến. Hơn nữa, doanh
nghiệp cũng đợc chia sẻ thị trờng xuất khẩu. Tuy nhiên, huy động vốn bằng nguồn
vốn nớc ngoài đầu t trực tiếp doanh nghiệp sẽ phải chịu sự kiểm soát điều hành của
Thực trạng và giải pháp huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
12
doanh nghiệp (tổ chức kinh tế cấp vốn). Mức độ kiểm soát điều hành của doanh
nghiệp nớc ngoài phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của họ. Mặt khác, một khó khăn mà
các doanh nghiệp trong nớc vấp phải là doanh nghiệp khó tìm đợc đối tác nớc ngoài
thích hợp nhằm phát huy u thế mỗi bên. Vấn đề duy trì quan hệ hợp tác trong
khoảng thời gian dài là bao lâu cũng là vấn đề các doanh nghiệp cần cân nhắc một
này mà chỉ có những doanh nghiệp đợc phép phát hành cổ phiếu nh công ty cổ
phần, các doanh nghiệp nhà nớc có qui mô lớn. Nh vậy, các doanh nghiệp vừa và
nhỏ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc khai thác nguồn vốn này; doanh nghiệp
phải có qui mô đủ lớn để có thể hứa hẹn một mức lợi nhuận cao trong tơng lai thì
mới bán đợc cổ phiếu phát hành trên thị trờng.
2.2.2.11 Vay vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trờng vốn
Hình thức vay vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trờng vốn là hình thức
cung ứng vốn trực tiếp từ công chúng: doanh nghiệp phát hành lợng vốn cần thiết d-
ới hình thức trái phiều thờng là có kỳ hạn xác định và bán cho công chúng. Khác
với hình thức phát hành cổ phiếu, hình thức huy động vốn phát hành từ trái phiếu
mang đặc trng rất cơ bản là tăng vốn gắn với tăng nợ của doanh nghiệp.
Vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu có những u điểm chủ yếu là: có thể
thu hút đợc một lợng vốn lớn cần thiết, chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp hơn so
với vay ngân hàng, không bị ngời cung ứng kiểm soát chặt chẽ nh vay ngân hàng và
doanh nghiệp có thể lựa chọn loại trái phiếu thích hợp với yêu cầu của mình.
Tuy nhiên, hình thức huy động vốn từ trái phiều cũng có những hạn chế nhất
định. Hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm chắc các kỹ thuật tài chính để
tránh áp lực nợ đến hạn và vẫn có lợi nhuận, đặc biệt khi kinh tế suy thoái, lạm phát
cao. Chi phí kinh doanh phát hành trái phiều khá cao vì doanh nghiệp cần có sự trợ
giúp của một hoặc một số ngân hàng thơng mại. Doanh nghiệp phải tính toán thoả
mãn điều kiện: tài sản cố định phải nhở hơn tổng số vốn và nợ dài hạn của doanh
nghiệp. Mặt khác, không phải mọi doanh nghiệp mà chỉ những doanh nghiệp nào
thoả mãn các điều kiện theo luật định mới đợc phép phát hành trái phiếu. Đối với
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc tiếp cận và huy động vốn từ nguồn này cũng là
một thách thức rất khó khăn mà không phải doanh nghiệp vừa và nhỏ nào cũng làm
đợc.
2.2.2.12 Vốn liên doanh, liên kết
Thực trạng và giải pháp huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
14
Với phơng thức này, doanh ngiệp liên doanh, liên kết với một hay một số
có nhiều nhà cung ứng cạnh tranh với nhau, doanh nghiệp càng có lợi thế về giá cả,
thời hạn trả,....Khi quá trình này diễn ra một cách thờng xuyên thì nguồn tín dụng
này đóng vai trò nh một nguồn tín dụng trung hoặc dài hạn. Với hình thức tín dụng
này doanh nghiệp có thể đầu t chiều sâu với vốn ít mà không ảnh hởng đến tình
hình tài chính của mình. Hình thức tín dụng mua máy móc, thiết bị theo phơng thức
trả chậm có ý nghĩa rất lớn đối với loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ vì các doanh
nghiệp này vốn ít, thiếu các điều kiện cần thiết để vay vốn và đổi mới công nghệ.
Bên cạnh đó, hình thức mua máy móc thiết bị theo phơng thức trả chậm cũng
có những hạn chế nhất định. Chẳng hạn, mua theo phơng thức này doanh nghiệp sẽ
phải chịu chi phí kinh doanh sử dụng vốn khá cao. Mặt khác, sẽ chỉ mua theo phơng
thức trả chậm đợc nếu doanh nghiệp có uy tín, có truyền thống tín dụng sòng phẳng
cũng nh tình hình tài chính lành mạnh.
Thứ hai, vốn khách hàng ứng trớc. Trong quá trình kinh doanh, khi ký hợp
đồng đặt hàng khách hàng thờng phải đặt cọc trớc một số tiền nhất định, số tiền đặt
cọc này doanh nghiệp đợc sử dụng mặc dù cha sản xuất và cung cấp sản phẩm hay
dịch vụ cho khách hàng. Tuỳ theo lợng mua hàng của khách, thông thờng doanh
nghiệp chiếm dụng đợc từ hai nguồn:
- Vốn ứng trớc của khách hàng lớn
- Vốn ứng trớc của ngời tiêu dùng
Thông thờng số vốn chiếm dụng này là không lớn. Mặt khác, để sản xuất sản
phẩm (dịch vụ) doanh nghiệp phải đặt hàng (nguyên vật liệu,...) nên lại bị ngời cấp
hàng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp cũng theo hình thức này nên nếu các quá
trình kinh doanh diễn ra bình thờng thì số d vốn chiếm dụng này là không lớn.
Tuy nhiên, kinh doanh trong thị trờng hiện tại đòi hỏi doanh nghiệp phải tính
toán, cân nhắc rất cẩn trọng vì không phải chỉ tồn tại lợng vốn nhất định khách hàng
đặt cọc trớc mà bên cạnh đó lại tồn tại lợng tiền khách hàng chiếm dụng lại khi mua
hàng của doanh nghiệp, lợng tiền đó nhiều khi là rất lớn.
Thực trạng và giải pháp huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
16
Chơng 2
khăn. Thị trờng và khách hàng bị thu hẹp cộng với sự lúng túng trong quản lý đã
dẫn tới việc một số doanh nghiệp bị phá sản hoặc buộc phải giải thể hạn chế phần
nào vai trò của loại hình Doanh nghiệp này trong phát triển kinh tế.
Trình độ công nghệ, trang thiết bị, máy móc vừa cũ, vừa lạc hậu lại không đồng
bộ đã dẫn đến việc sản phẩm làm ra không phù hợp với nhu cầu, thị hiếu ngời tiêu
dùng do đó hạn chế rất lớn khả năng cạnh tranh của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
trên thị trờng.
Lực lợng công nhân kỹ thuật và lao động lành nghề đợc đào tạo làm việc trong
các doanh nghiệp còn quá ít; việc đào tạo, đào tạo lại diễn ra không thờng xuyên và
đồng bộ dẫn đến tình trạng thừa ở nơi này nhng lại thiếu ở nơi khác không đáp ứng
đợc yêu cầu của sản xuất, cộng với đội ngũ cán bộ thiếu kỹ năng quản lý và điều
hành nên việc quản lý và sử dụng lao động vô cùng khó khăn dẫn đến hiệu quả hoạt
động của Doanh nghiệp vừa và nhỏ không cao, năng suất lao động thấp, thu nhập
không ổn định.
Tình trạng thiếu vốn của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, đây là một vấn đề bức
súc và đáng lo ngại nhất hiện nay. Sự suy giảm của kinh tế khu vực sau cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ diễn ra cuối năm 97 đầu năm 98 đã có tác động trực tiếp tới
nền kinh tế nớc ta đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một số nhà đâù t nớc
ngoài đã rút vốn đầu t ở VN về khôi phục kinh tế trong nớc, một số khác do e ngại
Thực trạng và giải pháp huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
18
về sự ổn định của nền kinh tế trong nớc và khu vực (đây là thị trờng chủ yếu của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ) không đầu t thêm hoặc rút vốn đầu t sang thị trờng khác
dấn đến sự sụt giảm khủng khiếp của nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài. Và cuối
cùng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là ngời gánh chịu trực tiếp hậu quả của việc suy
giảm nguồn vốn này.{số liệu cụ thể}. Hơn nữa việc tiếp cận với các nguồn vốn khác
lại rất khó khăn, trong đó nguồn vốn chủ yếu đối với các hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp là nguồn vốn vay từ các ngân hàng thơng mại nhng thực tế hiện
nay lại có rất ít các Doanh nghiệp đủ các điều kiện thế chấp, bảo đảm tiền vay theo
yêu cầu của ngân hàng để vay vốn, tỷ trọng vốn vay ngân hàng của các Doanh