những giải pháp để mở rộng các kênh huy động vốn của doanh nghiệp - Pdf 10

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Với mỗi công ty thì để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì
công ty cần có vốn để hoạt động. Vốn là một nhân tố sản xuất quan trọng
sống còn, quyết định đến sự thành bại của công ty. Vốn càng lớn thì tiềm lực
của công ty càng lớn, nó tạo điều kiện cho công ty dễ dàng hơn trong các
quyết định đầu tư, trong các dự án đầu tư mới như tham gia vào lĩnh vực kinh
doanh mới…
Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại kỹ thuật điện Hà Nội với vị trí là
một công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực xây lắp điện và cung ứng các
thiết bị ngành điện vốn là một vấn đề rất quan trọng. Vì công ty mới được
thành lập và đi vào hoạt động được bảy năm nên công ty gặp rất nhiều khó
khăn trong hoạt động như thị trường của công ty còn khá nhỏ bé. Trong công
ty các kế hoạch sản xuất, kế hoạch chung cho cả công ty còn chưa có hay đơn
thuần đó chỉ là những bản kế hoạch được xây dựng trong ngắn hạn chưa có
được sự nghiên cứu tỷ mỉ… Hay vấn đề nhân sự trong công ty khi mà công ty
chưa có được đội ngũ nhân viên có trình độ đáp ứng nhu cầu hoạt động sản
xuất kinh doanh… Nhưng đó chưa phải là vấn đề khó khăn nhất của công ty
khi mà vấn đề khó khăn nhất của công ty chính là khả năng huy động vốn
cho các hoạt động của mình. Vì nguồn vốn của công ty còn eo hẹp do vậy mà
khả năng mở rộng thị trường bị hạn chế, khả năng trang bị máy móc thiết bị
cũng bị giới hạn, chưa có được nguồn kinh phí cho công tác xây dựng kế
hoạch… Vì vậy lý do tôi chọn đề tài này là vì:
Công ty mới đi vào hoạt động lại là công ty có quy mô nhỏ do vậy mà
doanh thu và lợi nhuận của công ty còn nhỏ điều này đã hạn chế khả năng tích
luỹ vốn của công ty. Vì công ty muốn tích luỹ vốn từ nội bộ doanh nghiệp thì
1
cần phải có được lợi nhuận lớn để có thể tích luỹ vốn. Trong khi đó thì lợi
nhuận của công ty không phải chỉ được dùng vào việc tích luỹ vốn mà còn
được dùng để chia cổ tức cho các cổ đông, lập các quỹ dự phòng… do vậy mà
khả năng tích luỹ vốn từ phần lợi nhuận để lại của công ty là bị hạn chế.

tìm ra được những bài học kinh nghiệm từ kênh huy động vốn đó. Thêm vào
đó còn tìm hiểu những khó khăn, nhược điểm của những kênh huy động hiện
tại, xem các kênh huy động vốn hiện nay có những khó khăn gì trong việc
huy động để tìm ra những giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn.
Thêm vào đó ngoài việc tìm hiểu nghiên cứu những kênh huy động vốn mà
công ty đang áp dụng thì đề tài còn đi vào tìm hiểu nghiên cứu những kênh
huy động vốn khác mà công ty vẫn còn chưa áp dụng tìm hiểu những ưu điểm
và nhược điểm của từng kênh huy động vốn cũng như là tìm hiểu kinh
nghiệm của các doanh nghiệp khác trong việc áp dụng những kênh huy động
vốn mà doanh nghiệp chưa áp dụng từ đó phân tích xem với điều kiện hiện
tại của công ty thì nên áp dụng kênh huy động vốn nào là hợp lý nhất, phù
hợp với công ty nhất.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài này là nó có những ý nghĩa sau đây:
Thứ nhất là đề tài mong tìm ra được những bài học kinh nghiệm từ việc
khai thác, huy động vốn của các công ty vừa và nhỏ để từ đó mà có thể tìm
cách áp dụng những bài học kinh nghiệm đó vào công ty, xem kinh nghiệm
nào là phù hợp với công ty nhất, là khả thi với công ty nhất, tránh thực trạng
là cứ thấy một hoặc một số công ty khác áp dụng thành công một kênh huy
động vốn mới, tạo ra được nhiều vốn cho công ty thì các công ty khác theo
3
sau thấy thế mà áp dụng khi không có sự tìm hiểu nghiên cứu. Điều này là rất
nguy hiểm vì điều kiện của các công ty là khác nhau, hoạt động trong những
điều kiện khác nhau, trình độ của mỗi công ty là khác nhau cả về trình độ con
người cũng như là trình độ công nghệ. Từ đó sẽ dẫn đến thất bại gây thiệt hại
cho công ty. Vì vậy mà cần phải có những nghiên cứu tìm hiểu phân tích
trước khi áp dụng.
Thứ hai là đề tài tìm ra được những điểm mạnh, điểm yếu của các kênh
huy động vốn hiện tại mà công ty đang áp dụng đề từ đó có những giải pháp
để khắc phục hay phát huy những điểm yếu điểm mạnh đó. Vì nhiều khi việc
mở ra một kênh huy động vốn mới đối với công ty là chưa cần thiết khi mà ta

Ở đây do đề tài nghiên cứu là tìm hiểu về những phương thức huy động
vốn, các kênh huy động vốn mà các công ty vừa và nhỏ áp dụng do vậy mà
phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là:
Phân tích những kênh huy động vốn mà công ty hiện nay đang áp dụng để
từ đó tìm ra những thuận lợi khó khăn của những kênh huy động vốn này. Và
còn phân tích những kênh huy động vốn khác mà công ty chưa áp dụng tìm ra
những khó khăn thuận lợi của những kênh huy động vốn này.
Từ những phân tích đó mà có những đánh giá về những kênh huy động
huy động vốn này xem các kênh huy động vốn này có ưu điểm và nhược điểm
gì để từ đó có thể áp dụng vào công ty hay không.
Thêm vào đó đề tài còn sử dụng phương pháp điều tra thống kê những
kinh nghiệm của các công ty vừa và nhỏ khác.
5. Kết quả nghiên cứu dự kiến đạt được.
Với đề tài nghiên cứu này kết quả dự kiến đạt được sẽ là tìm ra được một,
một số kênh huy động vốn mới phù hợp với công ty trách nhiệm hữu hạn
5
thương mại kỹ thuật điện Hà Nội. Và từ đó đề xuất những giải pháp hợp lý để
có thể áp dụng thành công các kênh huy động vốn mới này.
6. Bố cục đề tài.
Bài viết được chia thành ba phần.
Phần một: Giới thiệu chung về đề tài.
Phần hai: Nội dung đề tài
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về vốn trong hoạt động của doanh
nghiệp.
Chương II: Thực trạng hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp.
Chương III: Những giải pháp để mở rộng các kênh huy động vốn của
doanh nghiệp.
Phần ba: Kết luận và kiến nghị.
6
NỘI DUNG ĐỀ TÀI

doanh nghiệp. Bản thân bên trong vốn chủ sở hữu cũng bao gồm nhiều loại
như khấu hao, lợi nhuận để lại, quỹ dự phòng…
Theo đó thì lợi nhuận để lại là phần còn lại của kết quả quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi
phí và các khoản khác như phần nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hay là phần
lợi nhuận dùng để chia cổ tức cho các cổ đông. Phần lợi nhuận để lại này được
doanh nghiệp giữ lại dùng để tiếp tục đầu tư vào quá trính sản xuất kinh doanh
trong chu kỳ tiếp theo của quá trình sản xuất, nhằm làm tăng lượng vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp. Đây cũng là một phần vốn rất quan trọng của doanh
nghiệp.
Khấu hao là phần giá trị của tài sản cố định mà doanh nghiệp đã đầu tư
trong quá trình sản xuất nó là nhà xưởng máy móc, thiết bị, công cụ dụng cụ…
phần khấu hao này chính là lượng vốn mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá
trình sản xuất.
Còn quỹ dự phòng đây cũng chính là một phần của khoản lợi nhuận để lại
của doanh nghiệp nhưng phần vốn này không được dùng để đầu tư trực tiếp
vào quá trình sản xuất mà thay vào đó nó được dùng trong những trường hợp
đặc biệt như khi có sự sụt giá hay việc kinh doanh bị thua lỗ thì phần quỹ dự
phòng này được dùng để bù đắp những thiệt hại do thua lỗ hay do trượt giá
gây ra.
8
- Vốn đi vay là lượng vốn mà doanh nghiệp đi vay từ bên ngoài để phục vụ
cho quá trình sản xuất kinh doanh. Vì không một doanh nghiệp nào có thể
hoạt động với 100% lượng vốn tự có của mình được mà bao giờ họ cũng có
những khoản vốn đi vay để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn đi vay
này bao gồm rất nhiều nguồn khác nhau như vốn vay tín dụng ngân hàng là
lượng vốn mà doanh nghiệp đi vay từ các tổ chức tài chính tín dụng trong và
ngoài nước và phải chịu lãi suất đi vay. Hay vốn vay tín dụng thương mại là
lượng vốn mà doanh nghiệp vay của các đối tác kinh doanh như là mua
nguyên vật liệu chịu mà chưa thanh toán ngay cho bên đối tác mà hẹn thanh

doanh được. Có vốn doanh nghiệp mới có thể thực hiện các hợp đồng, ký kết
các hợp đồng kinh doanh liên kết, có vốn thì doanh nghiệp mới có thể mua
sắm trang thiết bị, thay thế các trang thiết bị cũ, đổi mới công nghệ sản xuất,
trả lương cho công nhân… Theo đó thì vốn có vai trò quan trọng đối với các
hoạt động sau.
2.1. Đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Hoạt động đầu tư là hoạt động rất quan trọng thông qua hoạt động đầu tư
mà doanh nghiệp có thể tăng trưởng và phát triển. Đầu tư ở đây có thể là đầu
tư vào một dự án kinh doanh mới hay là đầu tư vào mua sắm trang thiết bị
mới, xây dựng nhà xưởng… Nhưng để có thể tiến hành hoạt động đầu tư thì
doanh nghiệp cần phải có vốn. Vốn như là dòng máu mang dinh dưỡng đến
nuôi cơ thể vậy. Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp như là hoạt động nhằm
làm tăng tiềm lực cho doanh nghiệp, làm tăng quy mô của doanh nghiệp nhờ
có hoạt động đầu tư mà doanh nghiệp có thể lớn mạnh, có thể tham gia được
vào nhiều các lĩnh vực kinh doanh khác nhau… Nhưng quyết định đầu tư còn
phụ thuộc vào vốn mà doanh nghiệp có. Theo đó thì vốn có những vai trò sau:
10
Quy mô của vốn mà doanh nghiệp có và có thể huy động sẽ quyết định đến
khả năng đầu tư vào dự án kinh doanh của công ty, quyết định đến quy mô của
dự án kinh doanh hay phạm vi của dự án. Vì khi công ty muốn quyết định đầu
tư vào một hoạt động mới hay một dự án kinh doanh mới thì yêu cầu đầu tiên
mà doanh nghiệp cần cân nhắc là lượng vốn cần phải có để đầu tư vào dự án,
quy mô của vốn sẽ quyết định đến quy mô của dự án vì ta không thể đầu tư
vào một dự án lớn khi mà ta không có đủ vốn cần thiết, nếu như ta cố tình đầu
tư thì trong quá trình hoạt động sẽ liên tục xảy ra tình trạng thiếu vốn từ đó sẽ
dẫn đến tình trạng dự án sẽ không thể hoạt động suôn sẻ, ảnh hưởng đến tính
khả thi của dự án thậm chí nó còn gây thiệt hại tới doanh nghiệp. Vì vậy khi
quyết định đầu tư thì công ty bao giờ cũng cân nhắc tới yếu tố vốn.
Thêm vào đó quy mô vốn cũng ảnh hưởng tới phạm vi của dự án. Vốn
càng lớn thì dự án đầu tư sẽ có phạm vi càng rộng và ngược lại nếu mà quy

sẽ không thể tiến hành liên doanh được, quy mô vốn góp của mỗi bên sẽ quyết
định đến vai trò của doanh nghiệp trong liên doanh này, doanh nghiệp có quy
mô vốn càng lớn thì càng có vai trò quyết định, vai trò lớn. Vì vậy mà tiềm lực
vốn của doanh nghiệp sẽ quyết định đến khả năng tham gia vào lĩnh vực kinh
doanh mới của doanh nghiệp.
Thêm vào đó thì khi doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào thì
luôn muốn mở rộng thị trường hoạt động của mình vì khi thị trường càng được
mở rộng thì quy mô của doanh nghiệp càng lớn lên, sức mạnh của doanh
nghiệp càng được củng cố… nhưng để có thể mở rộng thị trường, tăng doanh
thu và lợi nhuận thì doanh nghiệp cần phải có đầu tư vào hoạt động xúc tiến
12
thị trường, đầu tư trang thiết bị máy móc, nghiên cứu để có thể nâng cao chất
lượng sản phẩm, giảm giá thành và chi phí sản xuất để có thể cạnh tranh. Vì
vậy nếu có tiềm lực vốn lớn doanh nghiệp sẽ có thể có ưu thế trong cạnh tranh
trên thị trường nhờ có vốn mà doanh nghiệp có thể đi trước đầu tư vào công
nghệ mới để chiếm lĩnh thị trường, mở rộng thị trường.
Nói chung thì với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp cho dù đó là đầu tư
vào dự án kinh doanh hay là đầu tư để tham gia lĩnh vực kinh doanh mới, hoặc
mở rộng thị trường thì yếu tố vốn là rất quan trọng nó quyết định đến sự thành
bại của hoạt động đầu tư.
2.2. Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì vốn cũng có
vai trò quyết định đến, vì hoạt động sản xuất kinh doanh muốn được diễn ra
thì cần phải có máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, công nhân… Vì vậy cần có
vốn để đầu tư vào những nhân tố sản xuất đó. Đồng thời vốn cũng có vai trò
quyết định hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vòng quay của vốn sẽ quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
công ty. Nếu vòng chu chuyển vốn càng ngắn thì điều đó chứng tỏ hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu quả. Vì vòng quay của vốn ở đây
chính là nói lên vòng quay của sản phẩm, khi mà vốn được thu hồi càng nhanh

vốn.
Nhìn chung thì vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh là rất
quan trọng ngoài yếu tố con người ra thì vốn là rất quan trọng nó quyết định
đến hiệu quả hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh, nói lên sự hiệu quả
trong hoạt động của doanh nghiệp.
14
2.3. Đối với việc tăng tài sản của doanh nghiệp.
Tài sản của doanh nghiệp cũng chính là lượng vốn mà doanh nghiệp có, ở
đây tài sản chính là biểu hiện về mặt vật chất của vốn. Số lượng tài sản mà
doanh nghiệp có cũng nói lên được tiềm lực của doanh nghiệp, nói lên quy mô
của doanh nghiệp và trình độ năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì vậy mà việc tăng tài sản của doanh nghiệp luôn được doanh nghiệp tiến
hành qua các kỳ sản xuất kinh doanh, nó được tiến hành thường xuyên liên tục
trong mỗi doanh nghiệp. Nhưng việc tăng tài sản của mỗi doanh nghiệp cũng
cần phải có vốn vì tài sản ở đây là trang thiết bị máy móc nhà xưởng… đều
cần có vốn.
Nguồn vốn sẽ quyết định đến khả năng mua sắm tài sản mới của công ty.
Việc mua sắm tài sản mới sẽ góp phần làm tăng tài sản của công ty nhưng để
có thể mua được tài sản mới thì công ty cần có được một lượng vốn nhất định.
Doanh nghiệp một khi muốn mua sắm thêm tài sản mới để nâng cao năng lực
sản xuất kinh doanh của công ty, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thì
điều đầu tiên là phải cân nhắc tới số lượng vốn mà doanh nghiệp hiện có và có
thể huy động để mua sắm, việc mua sắm tài sản mới này cũng như là một dự
án đầu tư vậy do vậy mà yếu tố vốn có vai trò quyết định đến việc đầu tư mua
sắm tài sản mới.
Việc mua sắm tài sản để thay thế các tài sản cũ hỏng không thể dùng được
nữa cũng thường được diễn ra trong mỗi doanh nghiệp điều này cũng làm ảnh
hưởng tới nguồn vốn của doanh nghiệp vì việc mua sắm tài sản để thay thế
này cũng cần có vốn để tiến hành.
Nói tóm lại dù hoạt động nào trong doanh nghiệp thì cũng cần có vốn để

vay tín dụng ngân hàng các công ty lớn với giá trị tài sản lớn của mình có thể
16
đem ra thế chấp để vay được số lượng vốn lớn cần thiết để cung cấp vốn cho
những hoạt động đầu tư của mình nhưng trái lại với các công ty vừa và nhỏ thì
việc vay tín dụng ngân hàng một khối lượng vốn lớn là không dễ dàng khi mà
giá trị tài sản mà công ty có chưa nhiều nên chưa thể tạo được lòng tin đối với
ngân hàng để cho vay.
Một điểm mạnh nữa của những doanh nghiệp có quy mô lớn là doanh
nghiệp có quy mô vốn lớn thì thường hoạt động trong nhiều lĩnh vực, hoạt
động lâu trên thị trường nên có được lòng tin của khách hàng và các đối tác
nên họ có thể tiến hành vay tín dụng thương mại từ các đối tác cũng trở lên dễ
dàng. Họ có thể thoả thuận với bên đối tác kể cả bên cung cấp và bên phân
phối cho vay những khoản vay tín dụng thương mại một cách dễ dàng hơn
điều đó sẽ tạo lợi thế cho họ trong việc huy động vốn.
Một doanh nghiệp có quy mô vốn lớn cũng có thuận lợi hơn các công ty
vừa và nhỏ khác trong việc vay vốn từ kênh huy động vốn phát hành cổ phiếu
hay trái phiếu. Vì muốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ra thị trường thì
điều đầu tiên cần phải đáp ứng được là quy mô vốn của doanh nghiệp phải đủ
lớn để có thể phát hành trái phiếu nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh
nghiệp. Khi mà doanh nghiệp có quy mô lớn thì cũng đảm bảo lòng tin đối với
những nhà đầu tư khi mà các công ty lớn định phát hành trái phiếu, rõ ràng khi
phải lựa chọn giữa hai loại trái phiếu thứ nhất là của một công ty vừa và nhỏ
và một bên là của một công ty lớn thì chúng ta thường có xu hướng chọn trái
phiếu của doanh nghiệp có quy mô lớn tất nhiên sự lựa chọn này còn phụ
thuộc vào các yếu tố khác như là uy tín của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp… Với doanh nghiệp
có quy mô vốn lớn thì nguồn quỹ dự phòng mà công ty có chắc chắn cũng sẽ
lớn điều đó thuận lợi cho doanh nghiệp khi muốn huy động vốn từ nguồn này
17
khi mà doanh nghiệp thiếu vốn họ có thể tạm thời dùng nguồn vốn của quỹ dự

Khi mà doanh nghiệp đang hoạt động tốt, hiệu quả sản xuất kinh doanh
cao thì khả năng huy động vốn của doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn rất nhiều
đối với những doanh nghiệp làm ăn đình đốn. Khi mà doanh nghiệp hoạt động
sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả điều đó đồng nghĩa với việc vòng quay của
vốn được rút ngắn, vốn không bị ứ đọng làm cho vốn liên tục được đầu tư tiếp
tục làm tăng giá trị đồng vốn. Hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng đồng nghĩa
với việc doanh thu và lợi nhuân của công ty sẽ lớn làm cho phần lợi nhuận để
lại của công ty lớn thì sẽ tạo được nhiều tích luỹ hơn cho doanh nghiệp, tạo
lên số lượng vốn chủ sở hữu được gia tăng.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao thì uy tín của doanh nghiệp càng
lớn càng thu hút được nhiều nhà đầu tư quan tâm, chú ý. Từ đó công ty sẽ dễ
dàng hơn khi mà kêu gọi các nhà đầu tư vào doanh nghiệp. Khi hiệu quả sản
xuất kinh doanh cao thì việc đi vay tín dụng ngân hàng và vay tín dụng thương
mại cũng trở lên dễ dàng hơn vì khi sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao tạo
được lòng tin đối với những nhà cho vay từ đó mà dễ dàng huy động vốn vào
để đầu tư vào những dự án kinh doanh của mình. Còn trái lại khi mà sản xuất
kinh doanh không đạt hiệu quả, vốn bị ứ đọng không lưu thông được thì doanh
nghiệp khó có khả năng huy động vốn lớn vì không thu hút được sự quan tâm
của những nhà đầu tư, không tạo được niềm tin về khả năng thanh toán tới
những nhà cho vay do vậy mà khó khăn hơn khi đi vay.
3.4. Uy tín của doanh nghiệp.
Uy tín của doanh nghiệp cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả
năng huy động vốn của doanh nghiệp. Rõ ràng khi mà doanh nghiệp có được
uy tín trên thị trường tạo được niềm tin đối với khách hàng và đối tác, các nhà
19
đầu tư thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn khi thu hút đầu tư thu hút vốn. Uy tín
của doanh nghiệp nhiều khi còn quan trọng hơn cả hiệu quả sản xuất kinh
doanh hay quy mô của doanh nghiệp trong việc thu hút vốn đầu tư. Vì hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh là sự biểu hiện tại những thời điểm nhất
định, không doanh nghiệp nào là có thể hoạt động sản xuất kinh doanh đạt

Mỗi một cơ chế chính sách mà nhà nước đưa ra đều có ảnh hưởng nhất định
tới doanh nghiệp.
Khi mà chính sách đó đưa ra hợp lý, phù hợp với thị trường, phù hợp với
tiến trình phát triển thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, khuyến
khích được các doanh nghiệp phát triển. Đặc biệt là những chính sách về thị
trường tài chính và tiền tệ, chính sách về thuế thu nhập doanh nghiệp… nó sẽ
ảnh hưởng rất nhiều tới doanh nghiệp, khi mà chính sách này phù hợp nó sẽ
khuyến khích được doanh nghiệp phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp có thể huy động vốn để đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp.
Nhưng khi mà những chính sách này đưa ra không phù hợp, hạn chế thị
trường, hạn chế khả năng phát triển của doanh nghiệp thì nó sẽ làm cho doanh
nghiệp không thể phát triển được khiến cho khả năng huy động vốn của doanh
nghiệp bị hạn chế, doanh nghiệp không thể phát triển được.
Nói tóm lại có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của
doanh nghiệp. Nó có thể là nhân tố khách quan hay chủ quan nhưng cho dù nó
là từ phía nào thì tuỳ vào từng điều kiện cụ thể mà có tác động khác nhau tới
khả năng huy động vốn của doanh nghiệp, có thể nó tạo thuận lợi trong lúc
này nhưng lại gây khó khăn trong lúc khác vấn đề là doanh nghiệp phải tìm
cách thích nghi với từng điều kiện nhất định, tận dụng những thuận lợi mà các
21
nhân tố này mang lại vào doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào điều kiện của doanh
nghiệp mà có giải pháp huy động vốn cho hiệu quả.
4. Các tiêu chí đo lường độ an toàn vốn của doanh nghiệp.
Có rất nhiều tiêu chí đo lường độ an toàn vốn của doanh nghiệp nhưng
trong đề tài này xin nêu ra hai tiêu chí để đo lường độ an toàn vốn của doanh
nghiệp.
Khả năng thanh toán hiện hành là mối quan hệ giữa tài sản lưu động doanh
nghiệp đối với nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này nhằm đo lường khả năng đảm bảo
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu động của công ty. Những
biện pháp cơ bản nhằm cải thiện chỉ tiêu này phải nhằm vào việc gia tăng

Chỉ tiêu nợ ngắn hạn trên tổng nợ = Nợ ngắn hạn
Tổng nợ
chỉ tiêu này nói lên số nợ ngắn hạn mà công ty hiện có chiếm bao nhiêu phần
trăm trong tổng số nợ của công ty. Từ đó mà công ty có chính sách điều chỉnh
những khoản vay ngắn hạn cho hợp lý cũng như là việc tiến hành vay thêm
các khoản vay ngắn hạn. Số nợ ngắn hạn không nên vượt quá 40% tổng nợ
nếu không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ cũng như hiệu quả sử
dụng vốn của công ty.
5. Các kênh huy động vốn mà doanh nghiệp có thể tiếp cận.
5.1. Kênh huy động vốn từ nội bộ doanh nghiệp.
Có rất nhiều kênh huy động vốn cho doanh nghiệp nó có thể là từ nội bộ
doanh nghiệp hay là đi vay bên ngoài nhưng cho dù nó có nguồn gốc ở đâu thì
doanh nghiệp đều phải có những giải pháp để huy động sao cho hiệu quả.
Trong đó kênh huy động vốn từ nội bộ doanh nghiệp là một kênh huy động
23
vốn mà được các doanh nghiệp thường xuyên áp dụng. Trong kênh huy động
vốn này nó bao gồm các nguồn sau đây.
5.1.1. Lợi nhuận để lại của công ty.
a.Khái niệm.
Lợi nhuận để lại chính là phần còn lại của kết quả quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi kỳ sản xuất, sau khi đã trừ đi phần
chi phí sản xuất, thuế thu nhập doanh nghiệp, phần chia cổ tức… Đây là một
trong các nguồn vốn nội bộ quan trọng nhất. Lợi nhuận để lại dùng để tái đầu
tư vào việc thay thế và đầu tư mới vào máy móc thiết bị, mở rộng hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng
chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận để lại, tuy nhiên để có nguồn vốn này các
doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi. Lợi nhuận để lại của doanh nghiệp phụ
thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận để lại của doanh
nghiệp có thể là lợi nhuận gộp, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế và lợi
nhuận để lại.

tài sản cho doanh nghiệp nhờ đó sẽ làm tăng quyền sở hữu cổ phần của công
ty với những công ty là công ty cổ phần.
c. Nhược điểm.
Nhưng bên cạnh những ưu điểm đó thì nguồn vốn được huy động từ lợi
nhuận để lại cũng có những nhược điểm nhất định đó là.
Thứ nhất là do phần lợi nhuận để lại này hay là nguồn vốn huy động từ
nguồn này phụ thuộc rất nhiều vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp do vậy mà khi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp không tốt thì nguồn vốn huy động sẽ không nhiều. Bên cạnh đó nó còn
phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp. Vì khi mà doanh nghiệp có quy mô
25

Trích đoạn Thực trạng hoạt động 1 Lĩnh vực xây lắp. Lĩnh vực thương mại. Lĩnh vực xây lắp. Trích từ lợi nhuận để lại của doanh nghiệp. Vay tín dụng thương mại.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status