Huy động vốn của doanh nghiệp lý luận và thực tiễn - Pdf 31

Lời mở đầu
Trong nền kinh tế hiện nay, vốn là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với
sản xuất kinh doanh. Thiếu vốn thì mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều
không thể hoạt động được. Chính vì vậy, vấn đề huy động vốn luôn được xem
xét đến hàng đầu trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong các
doanh nghiệp. Đối với mỗi doanh nghiệp, nguồn vốn là yếu tố quan trọng hàng
đầu, là bước khởi đầu cho mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu tham gia vào thị
trường.
Tuy nhiên, do trình độ phát triển của hệ thống tài chính còn chưa cao,
cũng như một số hạn chế mang tính chủ quan khác, thực trạng huy động vốn của
các doanh nghiệp trong nước hiện còn tồn tại nhiều bất cập cần sớm được giải
quyết. Điển hình là tình trạng doanh nghiệp quá phụ thuộc vào nguồn vốn vay
ngân hàng – một nguồn vốn không dễ tiếp cận, trong khi đó lại bỏ qua hoặc ít để
ý tới các nguồn huy động nhiều tiềm năng khác. Mặt khác, do hạn chế về trình
độ nhân sự, các mô hình tính toán chi phí vốn một cách khoa học hầu như không
được các doanh nghiệp áp dụng khi tìm kiếm nguồn tài trợ.
Do vậy, em đã lựa chọn đề tài cho Đề án môn học Kinh tế đầu tư của
mình là: “Huy động vốn của doanh nghiệp lý luận và thực tiễn”
1
Chương I: Cơ sở lý luận về huy động vốn của doanh nghiệp
1. Khái niệm và phân loại nguồn vốn của doanh nghiệp
1.1. khái niệm nguồn vốn trong doanh nghiệp
- Khái niệm vốn đầu tư:
Vốn (C) là biểu hiện bàng tiền của tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư.
Nguồn lực có thể là của cải vật chất tài nguyên thiên nhiên là sức lao động và tất
cả các tài sản vật chất khác
- Khái niệm nguồn vốn:
Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dưới dạng giá
trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Đây
là thuật ngữ dung để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tư phát
triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và xã hội.

1.2.2. Nguồn vốn bên ngoài
Nguồn vốn này có thể hình thành từ việc vay nợ hoặc phát hành chứng
khoán ra công chúng (public offering) thông qua 2 hình thức tài trợ chủ yếu: tài
trợ gián tiếp qua các trung gian tài chính (ngân hàng thương mại, các tổ chức tín
dụng...) hoặc tài trợ trực tiếp (qua thị trường vốn: thị trường chứng khoán, hoạt
động tín dụng thuê mua...).
Tại Việt Nam, hiện nay nguồn vốn tài trợ gián tiếp qua các trung gian tài
chính tồn tại khá phổ biến. Tuy nhiên, do nhu cầu đầu tư ngày càng gia tăng,
năng lực các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khó có thể đáp ứng
hết nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp. Chính vì vậy hình thức tài trợ trực tiếp
qua thị trường vốn đã và sẽ ngày được quan tâm thỏa đáng hơn.
Huy động vốn qua thị trường chứng khoán có ưu điểm là quy mô huy
động rộng rãi hơn (thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng). Bên cạnh
đó, yêu cầu công khai, minh bạch cao trên thị trường chứng khoán cũng tạo điều
kiện và sức ép buộc doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn. Tuy nhiên tính
cạnh tranh và rủi ro cũng sẽ lớn hơn.
Mỗi nguồn vốn và mỗi phương thức tài trợ vừa có ưu và nhược điểm khác
nhau. Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà doanh nghiệp có thể lựa chọn
nguồn và phương thức huy động vốn phù hợp.
3
2. Các phương thức huy động vốn trong doanh nghiệp
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của các
doanh nghiệp được đa dạng hoá. Tùy theo điều kiện phát triển của thị trường tài
chính của một quốc gia, tùy theo loại hình của doanh nghiệp và các đặc điểm
hoạt động kinh doanh cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể có các phuơng thức
tạo vốn và huy động vốn khác nhau.
Các hình thức huy động vốn chủ sở hữu chủ yếu là huy động từ:
- Vốn góp ban đầu.
- Lợi nhuận không chia.
- Phát hành cổ phiếu mới.

2.1.2. Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia
Khái niệm: Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là một phần lợi
nhuận dùng để tái đầu tư.
Quy mô vốn góp ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng,
tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của
doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp
hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng
trưởng nguồn vốn.
- Đối với doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào
khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách
tái đầu tư của Nhà nước.
- Đối với công ty cổ phần: khi công ty để lại một phần lợi nhuận vào tái đầu tư,
tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được
nhận tiền lãi cổ phần nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên
của công ty. Điều này một mặt, khuyến khích các cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài,
nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt
do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn.
Vốn góp ban đầu và lợi nhuận không chia được gọi là hình thức tự tài trợ
của doanh nghiệp. Hình thức này có một số ưu nhược điềm sau.
5
a) Ưu điểm:
- Doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào bên ngoài (Ngân hàng...)
- Tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
- Giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân hàng,
tổ chức tín dụng hoặc với các cổ đông.
- Nguồn lợi nhuận để lại có tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh, tạo cơ
hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo.
b) Nhược điểm:
- Khi doanh nghiệp không trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lại lợi nhuận có thể làm
cho giá cổ phiếu trên thị trường giảm, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp.

phiếu. Thương phiếu tồn tại dưới 2 hình thức là hối phiếu và lệnh phiếu:
° Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu cầu người mua chịu
trả một số tiền xác định vào một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho
người thụ hưởng.
° Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, cam kết trả một số tiền
xác định trong một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho người thụ hưởng.
Như vậy, hối phiếu là lệnh đoi tiền do chủ nợ lập và chỉ sử dụng trong quan hệ
thương mại, còn lệnh phiếu thì do người mua chịu lập, được sử dụng không chỉ
trong quan hệ thương mại mà còn trong các quan hệ dân sự khác.
2.2.1.2. Chi phí của tín dụng thương mại.
Trong trường hợp giá mua chịu và giá mua trả tiền ngay có sự chênh lệch,
thường là chênh lệch phải chịu giá cao hơn thì chi phí tín dụng thương mại chính
là chênh lệch giữa giá bán chịu và giá trả tiền ngay.
Thông thường, các nhà cung cấp thường có kèm theo các điều kiện chiết
khấu để khuyến khích khách hàng sớm trả tiền. Ví dụ, một giao dịch tín dụng
thương mại quy định điều kiện chiết khấu "2/15 net 40" trên hoá đơn, có nghĩa
là người bán sẽ chiết khấu 2% trên giá trị của hoá đơn mua hàng nếu người mua
trả tiền trong khoảng thời gian 15 ngày kể từ ngày giao hàng. Ngưới mua sẽ phải
trả toàn bộ giá bán sau 15 ngày và được trả chậm trong vòng 40 ngày.
Trong trường hợp này, chi phí của tín dụng thương mại là chi phí mà khi
người mua không thanh toán được tiền trong thời hạn được hưởng chiết khấu.
7
Trong trường hợp này người mua đa mất khoản chiết khấu mà có thể coi là chi
phí cơ hội mà doanh nghiệp phải trả để được sử dụng khoản tiền mua hàng trong
thời gian kể từ sau ngày được hưởng chiết khấu.
Trên thực tế, loại hình tín dụng này thường có thời hạn rất ngắn và thường
có lãi suất ngầm ẩn cao hơn rất nhiều so với lãi suất có kỳ hạn tương đương của
vốn vay từ ngân hàng thương mại.
2.2.2. Tín dụng thuê mua
Tín dụng thuê mua là một hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loại tài

2.2.3.1. Khái niệm.
Tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất đối
với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng
chủ yếu nhằm vào 3 mục đích:
+ Đầu tư vào Tài sản cố định: máy móc thiết bị, công trình nhà xưởng…
+ Bổ sung thêm vốn lưu động
+ Phục vụ các dự án
2.2.3.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng.
Doanh nghiệp vay để đầu tư vào TSCĐ và phục vụ dự án: có thể vay
Ngân hàng theo hình thức như cầm cố, thế chấp tài sản, thông qua bên thứ 3 để
bảo lãnh cho mình hoặc vay dưới hình thức trả góp…
+ Đối với những Doanh nghiệp lớn, Doanh nghiệp có thể sử dụng uy tín của
mình với Ngân hàng (Thanh toán nợ đúng hẹn, khách hàng thân quen) để vay tín
chấp…
+ Đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi mà tài sản để thế chấp cầm cố chỉ
có thể vay của Ngân hàng một lượng vốn nhỏ không đủ vốn cho hoạt động sản
xuất kinh doanh thì có thể nhờ uy tín của bên thứ 3 bảo lãnh, tham gia vào qũy
bảo lãnh tín dụng Doanh nghiệp vừa và nhỏ…
- Doanh nghiệp vay để bổ sung vốn lưu động: có thể vay Ngân hàng dưới hình
thức như vay thấu chi, vay trực tiếp từng lần, cầm cố thế chấp tài sản, tín chấp
(DN lớn), bảo lãnh…
9
2.2.4. Phát hành trái phiếu
Trái phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích đoi
nợ hợp pháp của người sở hữu trái phiếu đối với tài sản của tổ chức phát hành.
Một doanh nghiệp có thể phát hành các loại trái phiếu sau:
a) Trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà doanh nghiệp phải trả một
mức lãi suất cố định được quy định ngay từ thời điểm phát hành.
b) Trái phiếu có lãi suất thả nổi: Là loại trái phiếu mà doanh nghiệp phải trả mức
lãi suất thả nổi theo lãi suất thị trường hoặc theo điều chỉnh của doanh nghiệp.

3.1. Điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp
Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp. Về mặt
pháp lý, mỗi doanh nghiệp khi thành lập đều phải có một lượng vốn nhất định và
phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định do Nhà nước quy định đối với lĩnh
vực kinh doanh đó. Như vậy vốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành và
tồn tại của doanh nghiệp trước pháp luật.
Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo quy mô, ngành nghề, loại
hình doanh nghiệp. Vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy định cho một số ngành
nghề có liên quan đến tài chính như Chứng khoán, Bảo hiểm, Kinh doanh vàng
và Kinh doanh tiền tệ
Đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác mà Nhà nước không
quy định giá trị vốn ban đầu tối thiểu thì giá trị vốn khi thành lập có thể dao
động từ hàng triệu đến hàng tỷ đồng tuỳ khả năng của người thành lập doanh
nghiệp.
3.2. Cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn là điều kiện cơ bản và thiết yếu để tiến hành bất kỳ quá trình và loại
hình sản xuất kinh doanh nào. Điều này thể hiện rõ trong hàm sản xuất
cơ bản P= F(K, L, T), vốn (K) chính là 1 trong 3 yếu tố cơ bản của hàm sản
xuất, bên cạnh các yếu tố lao động (L) và công nghệ (T). Hơn nữa, trong hàm
sản xuất này thì vốn có thể coi là yếu tố quan trọng nhất bởi vì lao động và công
nghệ có thể mua được khi có vốn
Sau khi thành lập, doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất kinh doanh. Hoạt
động thực tế hàng ngày đòi hỏi phải có tiền để chi tiêu, mua sắm nguyên vật
11
liệu, máy móc; trả lương... Số tiền này không thể lấy ở đâu khác ngoài nguồn
vốn của doanh nghiệp. Khi nguồn vốn tạm thời không đáp ứng đủ nhu cầu của
hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khó khăn
về ngân quỹ. Các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp tạm thời bị đinh trệ,
suy giảm. Nếu tình hình này không được khắc phục kịp thời, doanh nghiệp sẽ
rơi vào tình trạng khó khăn tài chính triền miên; hoạt động sản xuất kinh doanh

4.1. Các nhân tố vĩ mô.
4.1.1. Năng lực tăng trưởng kinh tế
Năng lực tăng trưởng kinh tế là một yếu tố quan trọng để huy động nguồn
vốn đầu tư của doanh nghiệp. Năng lực kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phầm quốc gia (GNP) hoặc tổng sản phẩm bình
quân đầu người…. Năng lực tăng trưởng càng cao thì năng lực tích luỹ của nền
kinh tế càng được đảm bảo, nhờ có tích lũy cao làm tăng đầu tư thì việc huy
động vốn trong nước được cải thiện. Đồng thời khi nguồn vốn huy động được sử
dụng đúng mục đích, hiệu quả thì sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ
nhanh hơn, tạo tiền đề tích lũy thêm vốn.
4.1.2. Tình hình chính trị trong nước, chủ trương của nhà nước
Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán trong chủ trương đường lối chính sách
của Nhà nước luôn là yếu tố tạo mối trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn với các
nhà đầu tư và doanh nghiệp trong ngoài nước. Một xã hội ổn định về chính trị,
hệ thống pháp luật chặt chẽ, không chồng chéo lên nhau thì doanh nghiệp được
đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu tài sản, mức độ yên tâm của nhà đầu tư
được củng cố thông qua việc đánh giá các yếu tố rủi ro chính trị. Ngoài ra còn
có một số yếu tố quan trọng trong môi trường chính trị như xu thế chính trị, là
định hướng của nhà nước sẽ áp dụng trọng việc điều hành quốc gia.
Nổi bật nhất trong các chủ trương của nhà nước ta trong nhưng năm vừa
qua là chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm huy động và đa
dạng hoá vốn chủ sở hữu. Quá trình cổ phần hóa không những huy động được
nguồn vốn không nhỏ cho doanh nghiệp nhà nước mà còn tạo động lực cho các
doanh nghiệp nhà nước trước đây vốn bị coi là chậm chạp trong đổi mới phương
thức kinh doanh và phương pháp quản lý, nay với sự tham gia của tư nhân đã
13

Trích đoạn Hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý tài chính Giải pháp cụ thể về phía các doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status