Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới hiện nay
DẪN NHÂP:
Do việc đánh giá thời đại từ nội dung, tính chất, đặc điểm và xu hướng phát
triển đang có rất nhiều ý kiến và những dự báo khác nhau. Điều đó đã đặt ra cho
chúng ta rất nhiều vấn đề phải đào sâu nghiên cứu để chỉ ra cơ sở lý luận và thực
tiễn về thời đại hiện nay. Đó là việc làm có ý nghóa cực kỳ quan trọng, góp phần
bảo vệ, phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, góp phần thúc đẩy sự phát triển
tiến bộ của thế giới. Một khi chúng ta xác đònh được cơ sở lý luận và thực tiễn của
thời đại mới thì khi đó “chúng ta mới có thể đònh ra đúng đắn sách lược của chúng
ta, và chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những điểm cơ bản của một thời đại, chúng ta
mới có thể tính đến những điểm chi tiết của nước này hay nước nọ”
Mặt khác, chúng ta thấy rằng cho đến nay, chủ nghóa xã hội (CNXH) qua
những bước thăng trầm, tuy hiện thực nó tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng ở nhiều
nước CNXH đang nổ lực tìm kiếm con đường cải cách, đổi mới tiến lên. Từ thực tiễn
trên, một vấn đề cùng nổi bậc lên về bản chất tuy không thay đổi nhưng biểu hiện
của CNXH đã khác trước, sự xuất hiện các mô hình xây dựng CNXH và con đường
đi lên CNXH là điều cần thiết để các nước xây dựng thành công CNXH. Chính lúc
này, chúng ta có điều kiện nhìn lại lý luận và thực tiễn rõ ràng hơn, đặc biệt là
khuyết điểm về vận dụng lý luận một cách giáo điều, cứng nhắc về việc quan tâm
tổng kết thực tiễn, bổ sung phát triển lý luận nhằm rút ra những bài học kinh
nghiệm, để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Thực tiễn trên đòi hỏi chúng ta cần suy xét một cách khoa học và sâu sắc di sản lý
luận của C.Mác, Ph. Ănghen, VI Lênin và Hồ Chí Minh, đối chiếu lý luận với thực
tiễn và tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta và trên thế giới để tiếp tục bổ
sung, phát triển CNXH khoa học, đồng thời phải kiên trì phê phán các luận điệu thù
đòch. Hiện nay vấn đề này càng có ý nghóa quan trọng, bởi nó diễn ra trong bối cảnh
CNXH thế giới đang khủng hoảng. Do đó, nhiệm vụ bảo vệ CNXH khoa học gắn
liền với việc tổng kết thực tiễn nhằm phát triển CNXH khoa học trở thành nhiệm vụ
vừa cấp bách vừa có ý nghóa chiến lược. Vì vậy việc nghiên cứu nguyên lý thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn sẽ rút ra được những bài học mang ý nghóa phương
chinh phục tự nhiên và làm chủ xã hội của con người. Bất cứ hình thức hoạt động
nào của thực tiễn cũng gồm những yếu tố chủ quan như nhu cầu, mục đích, lợi ích,
năng lực, trình độ của con người đang hoạt động thực tiễn và những yếu tố khách
quan như phương tiện, công cụ, điều kiện vật chất (hay tinh thần đã được vật chất
hóa) do thế hệ trước để lại và điều kiện tự nhiên xung quanh. Thực tiễn có thể được
chia ra làm các hình thức cơ bản như thực tiễn sản xuất vật chất, thực tiễn chính trò –
xã hội, thực tiễn thực nghiệm khoa học, và các hình thức không cơ bản như thực tiễn
tôn giáo, thực tiễn đạo đức, thực tiễn pháp luật …… Trong đó thực nghiệm khoa học
là hình thức đặc biệt của thực tiễn. Dạng hoạt động thực tiễn này ngày càng có vai
trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại. Đương nhiên, mỗi hình thức hoạt động cơ bản ấy
có chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay thế được cho nhau song giữa
Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới hiện nay
chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau làm cho thực
tiễn vận động và phát triển không ngừng.
b. Khái niệm lý luận :
Trước hết, ta hiểu như thế nào về nhận thức : Theo chủ nghóa duy vật biện
chứng thì nhận thức là hoạt động tích cực, sáng tạo phản ánh thế giới vật chất vào
trong bộ não con người, dựa trên cơ sở thực tiễn và mang tính biện chứng sâu sắc.
Cơ chế của hoạt động nhận thức là sự tương tác giữa chủ thể và khách thể nhận
thức.
Con người tạo ra những công cụ, phương pháp nhận thức, trong đó quan trọng
nhất là hệ thống ngôn ngữ. Con người phản ánh thế giới một cách năng động, sáng
tạo để nắm bắt bản chất của hiện thực, không sao chép hiện thực, đó là sự phản ánh
có chọn lọc, chủ động, có mục đích. Nó là quá trình xâm nhập của lý trí vào hiện
thực, làm cho hiện thực bộc lộ các thuộc tính và thông qua các thuộc tính ấy mà con
là khám phá và giải mã bản đồ gen người cũng ra đời từ chính hoạt động thực tiễn,
từ nhu cầu đòi hỏi phải chữa trò những căn bệnh nang y và từ nhu cầu tìm hiểu, khai
thác những tiềm năng bí ẩn của con người …… Có thể nói, suy cho cùng không có
một lónh vực tri thức nào mà lại không xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vào việc
phục vụ, hướng dẫn thực tiễn. Do đó nếu thoát ly thực tiễn, không dựa vào thực tiễn
thì nhận thức sẽ xa rời cơ sở hiện thực nuôi dưỡng sự phát sinh, tồn tại và phát triển
của mình. Vì thế, chủ thể nhận thức không thể có được những tri thức đúng đắn và
sâu sắc về thế giới.
Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức còn là vì nhờ có hoạt động
thực tiễn mà các giác quan của con người ngày càng được hoàn thiện, năng lực tư
duy lôgic không ngừng được củng cố và phát triển, các phương tiện nhận thức ngày
càng tinh vi, hiện đại, có tác dụng “nối dài” các giác quan của con người trong việc
nhận thức thế giới. Chẳng hạn, nhờ việc thêu ren mà bàn tay của người lao động trở
nên khéo léo, khả năng phân biệt màu sắc và ánh sáng của thò giác trở nên tinh xảo
hơn. Hoặc từ công việc điều hành, tổ chức quản lý sản xuất, tính toán hiệu quả lao
động ….. mà đòi hỏi nhà quản lý doanh nghiệp phải tư duy nhạy bén, năng động hơn,
thói quen và nề nếp làm việc khoa học hơn. Cũng nhờ thực tiễn mà kính hiển vi
điện tử, kính thiên văn, tàu vũ trụ, máy vi tính …… mới xuất hiện.
Những công cụ và phương tiện hiện đại đó cho phép nhận thức con người đẩy
nhanh tiến trình đi sâu vào bản chất của sự vật, mở rộng tầm bao quát các quá trình
đang diễn ra trong tự nhiên và xã hội
Thực tiễn còn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý :
Bởi vì, thực tiễn là những hoạt động vật chất có tính tất yếu khách quan diễn ra
độc lập với nhận thức. Nó luôn luôn vận động và phát triển trong lòch sử. Nhờ đó mà
thúc đẩy nhận thức cùng vận động, phát triển. Mọi sự biến đổi của nhận thức suy
cho cùng không thể vượt ra ngoài sự kiểm tra của thực tiễn. Nó thường xuyên chòu
sự kiểm nghiệm trực tiếp của thực tiễn. Chính thực tiễn có vai trò là tiêu chuẩn,
thước đo giá trò của những tri thức đã đạt được trong nhận thức. Đồng thời nó bổ
sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức. C. Mác đã viết :
tiễn những tri thức đúng đắn về những quy luật vận động và phát triển của thế giới
khách quan.
II. SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀ NGUYÊN LÝ CƠ
BẢN CỦA TRIẾT HỌC MAC – LÊNIN :
Giữa lý luận và thực tiễn có sự liên hệ, tác động qua lại tạo điều kiện cho nhau
cùng phát triển.
Vì thực tiễn có vai trò quyết đònh đối với nhận thức, lý luận. Vì vậy, chúng ta
cần phải quán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu các việc nhận thức
phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu, đi sát thực tiễn, coi trọng
việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải gắn liền với thực tiễn, “học đi đôi
với hành”. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến bệnh chủ quan duy ý chí, giáo điều, máy
móc, bệnh quan liêu, chủ nghóa xét lại. Theo chủ tòch Hồ Chí Minh “lý luận là đem
thực tiễn trong lòch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so
sánh thật kỹ lưỡng, rõ ràng, làm thành kết luận, rồi lại đem nó chứng minh với thực
tế. Đó là lý luận chân chính” và “lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý
luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông dù xem được hàng ngàn, hàng
vạn quyển lý luận, nếu không đem ra thực hành thì khác nào một cái hòm đựng
sách”
Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới hiện nay
Tuy nhiên, việc coi trọng thực tiễn không có nghóa là coi nhẹ lý luận, hạ thấp
vai trò lý luận, không nên đề cao cái này hạ thấp cái kia và ngược lại. Nếu hạ thấp
vai trò lý luận sẽ rơi vào chủ nghóa thực dụng, chủ nghóa kinh nghiệm.
III. Ý NGHĨA CỦA VIỆC VẬN DỤNG SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NA:
NA:
1. Cải cách – đổi mới có nguyên tắc là con đường duy nhất đúng để bảo vệ và
Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới hiện nay
phê phán không mang tính xây dựng đã chuyển thành cuộc khủng hoảng chính trò,
kinh tế, xã hội. Kết quả là chế độ chủ nghóa xã hội ở các nước này bò sụp đổ.
Nguyên nhân của sự đổ vỡ là do họ đã đi lệch khỏi những nguyên tắc của chủ nghóa
xã hội trên mọi bình diện vai trò đònh hướng Nhà nước và sự ổn đònh về chính trò là
vô cùng quan trọng nhưng lại bò coi nhẹ. Mức sống chung của toàn dân, đặc biệt là
người lao động cần được quan tâm thì không được đối xử thỏa đáng và thiếu những
dự án hữu hiệu. Công cuộc cải tổ toàn diện là một quá trình đòi hỏi sự thận trọng thì
lại biến thành hành động vội vã và đã gánh chòu một hậu quả khôn lường. Qua đây,
những người Xô Viết đã thâm thía rằng: “Cải tổ bò thất bại không phải bởi không
cần cải cách chủ nghóa xã hội, không phải bởi không thể cải cách được, và cũng
không phải bởi cải cách quá muộn màng, mà bởi vì “cải tổ” quá yếu ớt với tư cách
là một chiến lược, một chính sách và một cẩm nang chỉ dẫn quá trình cải cách. Sự
thất bại của cải tổ không phải được đònh trước về nguyên tắc hoặc về mặt lòch sử, nó
diễn ra một cách cụ thể trên thực tế”.
Trong khi đó Trung Quốc, Việt Nam, Cuba… tiến hành cải cách, đổi mới lại
theo những mô thức, giải pháp khác.
Những luận điểm then chốt, quan trọng về mô hình “chủ nghóa xã hội mang đặc
sắc Trung Quốc” sớm được xác lập, đònh hình. Con đường đi lên của Trung Quốc là
lấy chủ nghóa Mác - Lênin làm tư tưởng chỉ đạo, xuất phát từ tình hình cụ thể của
mình, không rập khuôn máy móc mô hình nước ngoài. Trung Quốc xây dựng đang ở
giai đoạn đầu của chủ nghóa xã hội với thời gian dài cả trăm năm. Trong giai đoạn
này, phải giải phóng lực lượng sản xuất, xóa bỏ bóc lột, thu hẹp khoảng cách giàu
nghèo, nhiệm vụ trung tâm hàng đầu là xây dựng kinh tế, xây dựng và hoàn thiện
thể chế kinh tế thò trường, hoàn thiện chế độ hội đồng nhân dân, chế độ hợp tác với
nhiều Đảng Cộng Sản Trung Quốc, trên cơ sở xác đònh rõ: cơ sở tư tưởng, chính trò
của công cuộc cải cách là kiên trì bốn nguyên tắc: kiên trì con đường xã hội chủ
nghóa, kiên trì củng cố nhân dân, kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung
Quốc và kiên trì chủ nghóa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông và lý luận Đặng
hơn thông qua công cuộc đổi mới có “ý nghóa siêu quốc gia” như một học giả người
Bungari nhận đònh
Các nước trên tiếp tục ổn đònh và phát triển theo mục tiêu xã hội chủ nghóa
nhờ công cuộc cải cách, đổi mới có nguyên tắc từ suy nghó độc lập, sáng tạo, xuất
phát từ chính thực tế của mình, thông những con đường, phương pháp, cách thức tiến
hành phong phú, năng động. Nói một cách khái quát là, những kết quả trong công
cuộc xây dựng chủ nghóa xã hội phụ thuộc rất cơ bản vào việc kết hợp đúng đắn cái
phổ biến và cái đặc thù trong sự phát triển xã hội. Hiện nay, chúng ta biết không chỉ
về mặt lý thuyết mà cả về mặt thực tế rằng, con đường tiến lên chủ nghóa xã hội
ngày càng đa dạng và hiệu quả nhưng phải tuân theo những quy luật chung một
cách thống nhất đối với tất cả các nước xã hội chủ nghóa đồng thời cũng thấm thía
rằng sự tác động của những quy luật chung chi phối các hình thức khác nhau có ý
nghóa cơ bản và quyết đònh, song nếu không lựa chọn đúng các bước đi thích hợp với
Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới hiện nay
điều kiện lòch sử cụ thể của mỗi nước thì không thể tiến hành thành công sự nghiệp
xây dựng chủ nghóa xã hội.
2. Giữ vững độc lập dân tộc, chủ động ttă
ăng cường hội nhậph kinh tế quốc tế một
cách đa dạng và mềm dẻo theo nguyên tắc xã hội chủ nghóa – phương án phát
nay::
triển hiệu quả của chủ nghóa xã hội hiện nay
Xét trên phạm vi quốc tế, phong trào xã hội chủ nghóa hiện nay đang ở giai
đoạn thoái trào, khả năng phục hồi và phát triển ở các quốc gia xã hội chủ nghóa tuy
đã rất rõ ràng, song còn nhiều khó khăn, phức tạp. Dù có đi lên chủ nghóa xã hội
bằng con đường riêng của mình, các nước cần có sự đối chiếu rộng rãi các quan
điểm, các kinh nghiệm của mình và ra sức thấu thái tinh hoa của nhân loại nhằm tọa
Việc họ chủ trương tranh thủ thu hút vốn đầu tư nước ngoài là con đường khắc
phục sự thách đố của tiến bộ khoa học, kỹ thuật ngày nay về vấn đề thiếu vốn, về
khoảng cách công nghệ và trình độ khoa học kỹ thuật nói chung. Bằng cách đó, các
nước này tiếp cận dần dần, từ thích ứng với tiến bộ khoa học, kỹ thuật thế giới. Thực
tiễn phát triển kinh tế và hiện đại hóa thành công của các nước ở khu vực này đã
chứng tỏ phương thức đó là đúng đắn, thích hợp vơi khả năng họ và vơi hoàn cảnh
quốc tế hiện nay.
3. Luôn kiên trì mục tiêu chủ nghóa xã hội :
Chế độ xã hội chủ nghóa ở Liên Xô sụp đổ đã khiến cho không ít người ngỡ
ngàng, dao động, thậm chí có người mất phương hướng. Ta không nên ngạc nhiên
hay bi quan, bởi lẽ thoái trào chỉ là tạm thời. Kinh nghiệm lòch sử 150 năm của chủ
nghóa xã hội Macxit qua những kỳ thoái trào đã chỉ rõ mỗi lần như vậy chủ nghóa xã
hội lại soát lại mình và tiếp tục phát triển, lớn mạnh hơn, tích tụ xung lực để tạo nên
những ngọn sóng ngày càng mạnh mẽ hơn, phát triển theo các vòng xoáy trôn ốc
với chất lượng mới, cao hơn sâu sắc hơn. Còn dưới chủ nghóa tư bản, cho dù hiện
nay và có thể trong nhiều năm tới, lực lượng sản xuất vẫn tồn tại và phát triển trong
khuôn khổ chật hẹp của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghóa (tất nhiên quan hệ đó
được điều chỉnh nhất đònh với sự cố gắng chủ quan của giai cấp tư sản) thì những gì
mà tin học hóa mang lại sức bật mới cho lực lượng sản xuất đã có đủ để chúng ta có
thể nhận ra xu thế phát triển tất yếu của lực lượng sản xuất. Nó sẽ vận động, phát
triển đạt tới giới hạn. Giới hạn đó chính là sự phát triển tới mức độ mà tiến bộ xã hội
dựa trên lực lượng sản xuất ấy, muốn thực hiện được, tất yếu phải thay thế quan hệ
sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất hiện nay. Vì bản
chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghóa dù có điều chỉnh như thế nào vẫn là sở
hữu tư nhân tư bản chủ nghóa. Trong khuôn khổ của quan hệ sản xuất ấy thì lực
lượng sản xuất chỉ được chú ý, tạo điều kiện phát triển trong phạm vi không làm ảnh
hưởng đến lợi nhuận của nhà tư bản, trong khi tồn tại và phát triển, trái với ý muốn
chủ quan của các nhà tư sản, chủ nghóa tư bản đã tạo một cách khách quan những
tiền đề và yếu tố cho chủ nghóa xã hội ngay từ trong lòng nó, trong mỗi bước đi của
loại phức tạp, khó khăn. Để cân nhắc mọi hoàn cảnh phức tạp, nhìn rõ các mâu
thuẫn, để giải quyết đúng các vấn đề, thì chúng ta phải cố gắng học tập lý luận Mác
- Lênin. Học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mỗi người và đối với bản thân
mình là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghóa Mác - Lênin, để áp dụng một
cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với
thực tiễn”
Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề nêu trên chúng ta đang đứng trước
những đòi hỏi bức xúc của việc đổi mới nội dung và phương thức làm công tác tư
tưởng trong Đảng, trong xã hội và thực hiện triệt để sâu rộng những cải cách mang
tính cách mạng và giáo dục tuyên truyền lý luận, về đào tạo và huấn luyện cán bộ,
cải cách giáo dục trong hệ thống giáo dục, trong nhà trường, từ Trung ương đến đòa
Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới hiện nay
phương và cơ sở, từ phổ thông đến Đại học, từ hệ thống trường Nhà nước đến các
trường chính trò của Đảng và đoàn thể về nghóa lý luận và tổng kết thực tiễn.
Đó thực sự là những nhiệm vụ có tầm chiến lược lâu dài không chỉ nhằm phát
huy mạnh mẽ tiềm lực tư tưởng, trí tuệ của Đảng mà còn là tiềm lực khoa học của
nước nhà và chất lượng con người, của nguồn nhân lực trong xã hội hiện đại.
Mấu chốt dẫn đến thành công là thực hiện đúng đắn, sáng tạo nguyên lý sự
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, về gắn liên tục đổi mới tư duy theo tư tưởng Hồ
Chí Minh. Điều kiện để thực hiện là phát huy dân chủ, tạo động lực kích thích năng
lực sáng tạo, phát hiện và bồi dưỡng tài năng có chính sách và cơ thể để phát triển
nhanh và bền vững về khoa học, lý luận, văn hóa. Đó là cách vận dụng tốt nhất tư
tưởng Hồ Chí Minh, đưa công tác tư tưởng, lý luận nước ta lên một trình độ mới.
Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới hiện nay