Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình Mác và Ăngghen xây dựng chủ nghĩa xã hội khoa học - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI LAN PHƯƠNG SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG
QUÁ TRÌNH MÁC VÀ ĂNGGHEN XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Triết học

Hà nội - 2012

6
MỤC LỤC NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1 14
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14
1.1 Bối cảnh lịch sử và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm của
Mác và Ăngghen về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. 15
1.1.1 Bối cảnh lịch sử 15
1.1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm của Mác và Ăngghen
về lý luận và thực tiễn, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. 27
- Những quan điểm về lý luận trong triết học trước Mác 27
- Những quan điểm về thực tiễn trong triết học trước Mác 35
1.2 Quan niệm của C. Mác và Ph. Ăngghen về lý luận và thực tiễn,
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 39
1.2.1 Quan niệm về lý luận của Mác và Ăngghen 39
1.2.2 Quan niệm về thực tiễn của Mác và Ăngghen 42
1.2.3 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn theo quan
niệm của Mác và Ăngghen 44
1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đối với
sự phát triển lý luận về xã hội 47
CHƯƠNG 2 49
MÁC, ĂNGGHEN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TRÊN NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
8
MỞ ĐẦU
hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn luôn gắn bó và đi liền với nhau.
Lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời có ý nghĩa to lớn đối với cuộc
đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản. Nó đưa phong trào đấu tranh cách
mạng của giai cấp vô sản phát triển từ chỗ tự phát lên tự giác.
Việc nhận thức đúng nội dung khoa học của chủ nghĩa xã hội khoa học
có ý nghĩa rất quan trọng để xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trên
thế giới nói chung và nước ta nói riêng.
Nhưng để nhận thức đúng nội dung khoa học của chủ nghĩa xã hội khoa
học thì cần phải nghiên cứu sâu sắc quá trình ra đời và phát triển của nó. Từ
đó tìm được quy luật khách quan chi phối sự vận động và phát triển của xã
hội nói chung và sự ra đời của xã hội xã hội chủ nghĩa nói riêng.
Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài luận văn của mình là : “Sự thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình Mác và Ăngghen xây dựng chủ nghĩa
xã hội khoa học”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời như một cuộc cách mạng về lý luận xã
hội, bởi nó đã làm sáng tỏ vai trò của giai cấp vô sản và quần chúng lao động
10
do đảng mácxít lãnh đạo trong quá trình đấu tranh nhằm cải biến xã hội tư
bản, cải biến xã hội dựa trên chế độ người bóc lột người, thống trị giai cấp, để
xây dựng hình thái kinh tế - xã hội mới – hình thái kinh tế - xã hội cộng sản
chủ nghĩa.
Ở Việt Nam, chủ nghĩa xã hội khoa học đã được du nhập vào từ rất sớm
với sự tuyên truyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh.
Dưới ánh sáng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, nhân dân ta đã giành được
độc lập tự do cho đất nước, do vậy, việc nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội khoa
học được nhiều nhà nghiên cứu tham gia. Trong luận văn này, tác giả chỉ tập

Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên), Hà Nội, NXB Chính trị quốc gia,
1997. Trong tác phẩm, các tác giả đã trình bày quá trình hình thành và phát
triển quan điểm của Mác, Ăngghen và Lênin về chủ nghĩa xã hội, thời kỳ quá
độ và khả năng đi lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, về
cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở giai đoạn phát triển nhất. Các tác giả
cũng làm sáng tỏ những tư tưởng, luận điểm cơ bản của các nhà sáng lập ra
chủ nghĩa xã hội khoa học đến nay vẫn đúng; phân tích các luận điểm không
còn thích hợp trong điều kiện lịch sử. Từ đó, tác phẩm đề xuất một số kiến
nghị về lý luận xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
phù hợp với nước ta và đắc điểm thời đại ngày nay.
- Tác phẩm “Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam”, Gs. Nguyễn Đức Bình, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
Tác phẩm gồm 3 phần: phần 1 đề cập đến con đường cứu nước và giải phóng
dân tộc của Việt Nam ta. Phần 2, tổng kết mô hình về chủ nghĩa xã hội, nêu
lên những thành tựu và hạn chế của nó. Từ đó trình bày quá trình đổi mới từ
tư duy đến cách thức tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhận
xét tổng quan về thời kỳ đổi mới. Phần 3, đề cập đến con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội của nước ta hiện nay. Tác phẩm là một tài liệu tham khảo có giá
trị cho những nhà hoạch định chính sách, những nhà nghiên cứu lý luận cũng
như những người chỉ đạo hoạt động thực tiễn – các nhà quản lý.
- Đề tài khoa học cấp nhà nước: “Chủ nghĩa xã hội: Từ lý luận đến thực
tiễn. Những bài học kinh nghiệm chủ yếu”, Gs.Ts Lê Hữu Tầng. NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2003. Đề tài đã được nghiệm thu và xuất bản thành sách phục
vụ công tác nghiên cứu và chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Cuốn sách là một công
trình nghiên cứu công phu, mang tính hệ thống và khái quát, làm sáng tỏ phương
diện từ lý luận đến thực tiễn của chủ nghĩa xã hội khoa học. Từ đó, tác phẩm đề
12

13
- Phân tích bối cảnh và những tiền đề tư tưởng cho hoạt động lý luận của
Mác và Ăng ghen giai đoạn 1844 – 1848.
- Làm rõ sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình Mác và
Ăngghen xây dựng chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn 1844 – 1848.
- Rút ra ý nghĩa của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đối
với việc nhận thức lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình Mác và Ăngghen hoạt
động lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó giải
quyết mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn xã hội.
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu sự thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn từng bước được thực hiện trong quá trình Mác và
Ăngghen xây dựng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn 1844 – 1848,
tập trung vào các tác phẩm tiêu biểu sau:
1/ “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen – Lời nói đầu”
(cuối năm 1843 – tháng 1 năm 1844)
2/ “Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị học”
3/ “Bản thảo kinh tế - triết học” (1844)
4/ “Gia đình thần thánh” hay “Phê phán sự phê phán có tính chất phê
phán” (tháng 9 – 11 năm 1844, xuất bản năm 1845)
5/ “Hệ tư tưởng Đức” (tháng 11 năm 1845 đến tháng 4 năm 1846)
6/ “Sự khốn cùng của triết học” (1847)
7/ “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848)
Và một số bài báo, tác phẩm khác cùng thời kỳ này của Mác và Ăngghen.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

15
1.1 Bối cảnh lịch sử và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm
của Mác và Ăngghen về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Vấn đề lý luận và thực tiễn là một trong những khái niệm cơ bản của mọi
trường phái triết học. Đứng trên những lập trường quan điểm khác nhau các
nhà triết học ở mỗi giai đoạn lịch sử đều đưa ra những quan niệm của mình về
lý luận và thực tiễn khác nhau. Song, do hạn chế về lập trường và hoàn cảnh
lịch sử cụ thể nên các quan điểm của họ mới chỉ đề cập đến một số mặt của lý
luận và thực tiễn. Tuy nhiên, những quan niệm đó cũng là tiền đề cho sự ra
đời tư tưởng của Mác và Ăngghen về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
1.1.1 Bối cảnh lịch sử
- Tình hình kinh tế - chính trị tại Châu Âu từ 1815 đến 1848
Tình hình chính trị nói chung ở Châu Âu thời kỳ này bước vào thời kỳ
đầy biến động. Nước Anh, Pháp nói chung đã hoàn thành cách mạng dân chủ
tư sản: nước Anh với cách mạng tư sản 1640-1688, Pháp với cách mạng tư
sản 1789-1794. Các cuộc cách mạng tư sản này đã lật đổ chế độ phong kiến,
quét sạch những rào cản kìm hãm lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa, tạo
tiền đề thuận lợi cho chủ nghĩa tư bản phát triển.
Bên cạnh đó, các thế lực phong kiến ra sức phục hồi và củng cố lại địa vị
đã bị lung lay do ảnh hưởng của cách mạng tư sản. Tuy nhiên, trong đà đi lên
của lịch sử, phong trào cách mạng tư sản vẫn liên tiếp diễn ra trong những năm

Cuộc cách mạng 1830 tại Pháp có sức ảnh hưởng to lớn đến Châu Âu.
Hàng loạt phong trào đấu tranh đòi độc lập và dân chủ bùng nổ trên toàn lục địa.
Đầu tiên phải kể tới cuộc khởi nghĩa dân tộc ở Ba Lan nhằm chống lại ách thống
trị của Sa hoàng Nga. Dù cuộc khởi nghĩa rất được dư luận ủng hộ nhưng cuối
cùng bị đàn áp và dẫn tới thất bại.
Cùng năm 1830, cách mạng tư sản cũng diễn ra tại Bỉ nhằm chống lại ách
thống trị của Hà Lan. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Bỉ liên
tiếp giành được thắng lợi, buộc chính phủ Hà Lan phải thừa nhận nền độc lập
của Bỉ.

Cao trào cách mạng dân chủ tư sản 1848 tại Châu Âu
Tại Pháp, đầu năm 1848, tình thế cách mạng đã chín muồi, các tầng lớp
nhân dân bất mãn trước những chính sách phản động của nền Quân chủ tháng
bảy do Lui Philip đứng đầu. Phong trào đòi cải cách chế độ tuyển cử diễn ra
mạnh mẽ. Quần chúng nhân dân đã tiến hành một cuộc biểu tình lớn ở Pari đòi
cải cách tuyển cử. Nhiều cuộc xung đột đã nổ ra giữa cảnh sát, binh lính và
17
người biểu tình. Xung đột lên tới đỉnh điểm khi người biểu tình chiếm lấy các vị
trí chiến lược, chuyển Pari vào tay nghĩa quân. Vua Lui Philip bỏ chạy sang
Anh. Ngai vàng bị lôi ra quảng trường và bị đốt trong tiếng hò reo của nhân dân.
Sau 18 năm thống trị (1830 – 1848) nền quân chủ tháng Bảy hoàn toàn sụp
đổ. Ngày 25 – 2 – 1848 nền cộng hòa thứ hai được tuyên bố thành lập. Chính
phủ lâm thời là sự thỏa hiệp giữa các giai cấp khác nhau đã cùng lật đổ nền quân
chủ tháng Bảy. Song, về thực chất đa số đại biểu trong chính phủ là các đại biểu
của giai cấp vô sản. Chính phủ lâm thời thông qua nhiều quyết định nhằm dàn
hòa xung đột giữa công nhân và chủ xưởng, ngăn ngừa các cuộc bãi công, làm
tê liệt tinh thần cách mạng của quần chúng.

Các chiến lũy mọc trên thành phố, nhân dân bao vây cung điện nhà vua, đội
quân vệ quốc tư sản được thành lập. Trước áp lực của quần chúng, nhà vua đã
lập một nội các gồm các nhân vật thuộc phái tư sản tự do. Tháng 4, hiến pháp
được công bố, quy định chế độ hai viện nhưng tước quyền bầu cử của công
nhân. Điều đó gây ra bất mãn trong quần chúng, nhiều cuộc đấu tranh vũ trang
của công nhân, thợ thủ công, sinh viên xảy ra trên đường phố. Giai cấp tư sản
buộc phải thừa nhận quyền bầu cử của công nhân và tuyên bố phế bỏ thượng
nghị viện. Nhưng chính phủ và nghị viện tư sản tự do không chịu tiếp tục giải
quyết những yêu sách của quần chúng, đặc biệt là vấn đề ruộng đất.
Sợ hãi trước sự lớn mạnh của giai cấp công nhân và phong trào cách mạng
của quần chúng, chính phủ liên kết với thế lực phản động do vua Phéc-đi-năng I
cầm đầu công khai đối lập với nhân dân. Tháng 8, chính phủ công bố sắc lệnh
hạ lương công nhân và đàn áp những cuộc biểu tình của quần chúng. Tháng 10,
chính phủ cử quân đội đi đàn áp cách mạng Hunggari. Các đơn vị quân đội
chống lệnh đó và cùng nhân dân kết nghĩa, kêu gọi khởi nghĩa chống chính phủ
phản động. Hơn 7 vạn quân tinh nhuệ ở khắp nơi được điều về đàn áp cách
mạng Viên. Các lực lượng khởi nghĩa chống cự quyết liệt, bảo vệ từng ngôi nhà,
từng ụ đất. Nhưng đến ngày 1 – 11, cuộc khởi nghĩa Viên hoàn toàn bị dập tắt.
Như vậy, cuộc cách mạng 1848 tại Áo không hoàn thành được nhiệm vụ lật đổ
chế độ quân chủ và giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của đế quốc Áo.
Tại Đức, đến giữa thế kỷ XIX, Đức vẫn là một quốc gia phong kiến lạc
hậu. Theo quyết định của hội nghị Viên (1815), Đức là một liên bang gồm 31
tiểu vương quốc tách biệt và 4 thành phố tự trị. Quyền lực nhà nước nằm trong
tay giai cấp quý tộc phong kiến của từng vương quốc. Chính sự chia cắt quốc
gia đó đã gây nên nhiều trở ngại đối với sự phát triển của đất nước.
19
Tuy nhiên, do sự tiến bộ kỹ thuật ở Châu Âu, kinh tế công thương nghiệp

20
có sĩ quan và viên chức cũ nào bị thải hồi. Ở các vương quốc, địa chủ quý tộc
vẫn nắm quyền thống trị. Yêu cầu vũ trang toàn dân không những không được
thực hiện mà giai cấp tư sản tự do lại đồng tình với nhà vua không vũ trang cho
giai cấp công nhân.
Ngày 2 – 4 – 1848, cuộc bầu cử quốc hội toàn Đức được tiến hành đi
ngược lại ý muốn của quần chúng, không có một đại biểu nào của công nhân và
chỉ có một đại biểu nông dân. Tư sản tự do chiếm đại đa số. Song do ảnh hưởng
của thất bại của cuộc khởi nghĩa tháng Sáu ở Pari và cuộc khởi nghĩa tháng
Mười ở Viên, vua Phổ đã lập tức thải hồi các bộ trưởng, giải tán quốc hội để lập
lại chế độ cũ. Như vậy, bọn phản động đã thắng cách mạng do sự phản bội của
giai cấp tư sản.
Ngoài ra, phong trào cách mạng tại Châu Âu thời kỳ 1848 còn ghi nhận
hàng loạt cao trào cách mạng tại Tiệp Khắc, Hunggari, Ý. Song do các thế lực
phản động còn mạnh và sự phản bội của giai cấp tư sản cũng như chưa có ý thức
chính trị rõ ràng nên các cao trào cách mạng của giai cấp vô sản đã bị dập tắt.
Khi phong trào cách mạng tư sản không ngừng diễn ra trên toàn Châu Âu
thì kinh tế tư bản chủ nghĩa đã có những bước tiến quan trọng.
Nước Anh, từ năm 1830, tốc độ phát triển công nghiệp ngày càng tăng, việc
ứng dụng máy móc vào sản xuất ngày càng phổ biến. Các ngành thương nghiệp,
kỹ thuật, luyện kim, đường sắt phát triển nhanh chóng. Điều đó đã thúc đẩy sự
phát triển của thị trường trong nước và tăng cường mối liên hệ kinh tế giữa các
trung tâm công nghiệp. Tuy nhiên, trong thời kỳ phát triển của mình, nền công
thương nghiệp nước Anh không tránh khỏi khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng kinh
tế lớn đầu tiên nổ ra vào năm 1825 và tiếp đó là các cuộc khủng hoảng xảy ra vào
những năm 1837, 1847 gây ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế.
Nước Pháp, đứng hàng thứ hai trong nền kinh tế thế giới. Cuộc cách mạng

- Phong trào công nhân giai đoạn 1815 – 1848
Giai cấp công nhân ra đời và lớn mạnh theo sự phát triển của chủ nghĩa tư
bản. Song, đời sống của người công nhân thì ngày càng khổ cực do phải chịu sự
bóc lột của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chế độ phong kiến. Cách mạng công nghiệp
làm cho số công nhân ngày một đông đảo và tập trung. Nhưng tình cảnh của họ
thì ngày một sa sút và tồi tệ. Ngày lao động của công nhân kéo dài từ 12 đến 16
tiếng và chỉ được lĩnh những đồng lương chết đói. Lao động trẻ em và phụ nữ
được sử dụng rộng rãi trong những điều kiện khắc nghiệt. Họ còn bị nạn thất
nghiệp đe dọa do những cuộc khủng hoảng kinh tế gây nên. Mối mâu thuẫn giữa
vô sản và tư sản là điều không thể tránh khỏi và ngày càng trở nên gay gắt.
22
Ngay từ những ngày đầu tiên trong các công trường thủ công, công nhân đã
chống lại bọn chủ một cách lẻ tẻ và tự phát. Nhưng khi đó, mâu thuẫn chủ yếu
bao trùm xã hội là mâu thuẫn giữa sức sản xuất tư bản chủ nghĩa và quan hệ sản
xuất phong kiến. Công nhân, khi đó chưa tấn công quyết liệt vào giai cấp tư sản
mà còn đi theo giai cấp tư sản “chống lại kẻ thù của kẻ thù mình” tức là chống
phong kiến. Sự tham gia tích cực và thái độ kiên quyết của công nhân trong
những cuộc cách mạng tư sản là bằng chứng không thể chối cãi được. Nhưng do
hạn chế về ý thức và trình độ tổ chức của giai cấp công nhân mà mọi thành quả
cách mạng đạt được thường bị giai cấp tư sản cướp đoạt.
Hình thức phản kháng sơ khai của người công nhân là những cuộc bạo
động tự phát chống lại việc sử dụng máy móc trong sản xuất. Trong buổi đầu
của cách mạng công nghiệp, sự xuất hiện của máy móc không cải thiện đời sống
của công nhân mà thậm chí, nhờ máy móc bọn chủ xưởng càng ra sức bóc lột,
đuổi thợ ra khỏi xưởng gây ra nạn thất nghiệp tràn lan. Cho rằng máy móc là
nguồn gốc của tình trạng thất nghiệp, công nhân nhiều nơi đã tiến hành đấu
tranh bằng cách đập phá máy móc. Phong trào đập phá máy móc và công xưởng

việc mỗi ngày 15 giờ (không kể thời gian nghỉ ngơi và ăn uống), nhưng đồng
lương thì thấp hơn nhiều mức sống tối thiểu. Công nhân phải sinh sống trong
những khu phố cũ, hôi hám.
Năm 1826, công nghiệp dệt ở Ly-ông khủng hoảng trầm trọng do Anh, Mỹ
lâm vào suy thoái giảm mức đặt hàng. Vì vậy, tình cảnh người công nhân càng
thêm tồi tệ, nạn thất nghiệp tràn lan. Lợi dụng nạn thất nghiệp, bọn “môi giới” ở
Ly-ông cấu kết với nhau hạ thấp giá tiền công lao động của công nhân. Nhiều
công nhân phải đi ăn xin để sống qua ngày, hàng trăm gia đình công nhân phải
rời bỏ thành phố.
Công nhân đã yêu cầu các nhà chức trách can thiệp. Một hội nghị tập hợp
những đại biểu của các chủ kinh doanh và công nhân đã họp dưới sự chủ tọa của
viên quận trưởng. Hội nghị đã ấn định mức thang lương do công nhân đề nghị,
trong đó nâng tiền công lên chút ít.
Song, bọn “môi giới” không chấp hành mức lương mới đó. Điều đó làm
cho công nhân vô cùng phẫn nộ. Ngày 20 – 11 – 1831, đám đông công nhân
quyết định ngừng làm việc và kéo về quảng trường thành phố nhằm đưa yêu
sách cho nhà chức trách. Quân đội cận vệ quốc gia gồm toàn bọn tư sản đã án
ngữ, chặn không cho công nhân vào thành phố.
Sáng ngày 21 – 11- 1831, cuộc đấu tranh vũ trang quy mô lớn đã nổ ra giữa
công nhân và giai cấp tư sản. Công nhân nêu cao khẩu hiệu “Sống để làm việc
24
hay chết trong chiến đấu”. Sau những trận kịch chiến trên đường phố, công nhân
đã làm chủ thành phố Ly-ông trong 3 ngày.
Song do lập trường thỏa hiệp của bọn chủ xưởng tham gia khởi nghĩa, công
nhân đã không nắm lấy chính quyền mà chỉ duy trì trật tự trong thành phố. Viên
quận trưởng và thị trưởng vẫn được giữ lại và không bị cắt liên lạc với Pari.
Do trình độ còn non kém, sau khi làm chủ được thành phố, công nhân đã

bác bỏ kiến nghị của quần chúng. Một cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở Bơcminhham
ngày 15 tháng 6 nhưng nhanh chóng bị đàn áp. Trước tình hình đó, công nhân
kêu gọi tổng bãi công trên toàn quốc. Nhưng do chia rẽ trong nội bộ tổ chức
lãnh đạo công nhân nên phong trào đã dần suy thoái và tan rã.
Cao trào Hiến chương lần thứ hai diễn ra vào năm 1842. Đó là thời kỳ nền
kinh tế Anh sa sút, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực. Ngày 2 tháng 5, một bản
kiến nghị mới được trình lên nghị viện với hơn 3 triệu chữ ký. Bản kiến nghị đã
bóc trần chế độ chính trị độc đoán tại Anh và nêu lên tình trạng khốn cùng trong
xã hội. Kiến nghị đòi thủ tiêu ách áp bức của Anh đối với Ailen. Một lần nữa
nghị viện bác bỏ kiến nghị. Đáp lại, phong trào bãi công nổ ra liên tiếp từ các
trung tâm công nghiệp và dần mang tính chất tổng bãi công trên toàn quốc.
Cuộc bãi công thể hiện rõ tính chất chính trị và nâng phong trào công nhân lên
mức khởi nghĩa vũ trang. Chính phủ đã tiến hành đàn áp để dập tắt phong trào.
Tuy vậy, cao trào Hiến chương cũng đã đạt được một số thành quả nhất định
như buộc nghị viện thông qua đạo luật rút ngày lao động của công nhân xuống
còn 10 giờ. Đó là sự thụt lùi đầu tiên về nguyên tắc và trên thực tế của giai cấp
tư sản trước cao trào tấn công của công nhân.
Đến năm 1848, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1847 và
những cao trào cách mạng tại Châu Âu, những người thuộc phái Hiến chương
lại tiến hành cuộc đấu tranh lần thứ ba. Với bản kiến nghị mới gồm hơn năm
triệu chữ ký, công nhân tiến hành bãi công, biểu tình khắp nơi. Song do sự chia
rẽ trong nội bộ lãnh đạo phong trào mà cao trào dần lắng dịu và bị chính quyền
đàn áp.
Có thể nói, phong trào Hiến chương ở Anh là bước phát triển tiếp theo của
phong trào công nhân thế giới. Từ chỗ phụ thuộc vào giai cấp tư sản đến chỗ
độc lập về chính trị; từ chỗ chỉ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh xã hội đòi hỏi cải
tạo xã hội trên cơ sở bình đẳng, hòa bình giai cấp; từ chỗ là những phong trào
đấu tranh lẻ tẻ, rời rạc, đến một phong trào mạnh mẽ trên cả nước và có tổ chức
thống nhất. Sự độc lập thực sự về mặt chính trị của giai cấp công nhân đã dần
được hình thành.

bước đầu tiến hành đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp mình. Đó không phải
đơn thuần là một cuộc bạo động vì đói mà thực chất là một cuộc đấu tranh
chống lại chủ nghĩa tư bản . Công nhân đã ý thức được rằng mình chính là
những người làm thuê bị bóc lột một cách tàn nhẫn. Họ đã chĩa sự phẫn nộ
không phải vào đồ vật mà vào chính bọn bóc lột và những quan hệ áp bức ghi
27
trong sổ sách văn phòng. Phong trào bùng nổ trước tiên do sự bạo động tự phát
mà ra, mặc dù không có tính chất chính trị, nhưng xét về quy mô và mục đích
thì chưa có một cuộc đấu tranh chống bóc lột lớn mạnh như vậy diễn ra ở Đức.
Như vậy, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân giai đoạn này đã
phản ánh từng bước phát triển về mặt chính trị và xã hội của giai cấp vô sản và
đặc điểm riêng có của từng quốc gia. Nếu như cuộc đấu tranh của giai cấp công
nhân ở Anh bùng nổ nhằm khắc phục sự lệ thuộc về mặt chính trị vào giai cấp tư
sản đang cố nắm lấy chính quyền; thì ở Đức, nó là kết quả của sự căm phẫn
không mang tính chất chính trị của giai cấp công nhân; còn ở Pháp thì đó là sự
vùng lên đấu tranh vì lợi ích xã hội của giai cấp mình. Nhưng tất cả những cuộc
đấu tranh đó đã chứng tỏ rằng giai cấp công nhân sẵn sàng đấu tranh với chủ
nghĩa tư bản để bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình. Công nhân đã hiểu rằng
chính quyền nhà nước hiện hành không đại biểu cho toàn dân tộc, mà chỉ đại
biểu cho một bộ phận có lợi ích trong dân tộc. Cũng từ những cuộc đấu tranh đó
đã biểu lộ khả năng hành động một cách kiên quyết và đáng sợ của giai cấp
công nhân. Đồng thời, do hạn chế về trình độ nhận thức, giai cấp công nhân giai
đoạn này chưa thể hiện mục tiêu đấu tranh rõ rệt, trong số các phương thức đấu
tranh vừa tầm với phong trào thì có nhiều phương thức mà họ chưa biết đến,
chưa có kế hoạch hành động chính trị và chưa có hệ tư tưởng riêng. Chính vì
chưa có hệ tư tưởng dẫn đường nên trong các cao trào, công nhân thường sử
dụng những tư tưởng của các nhà tư tưởng không phải là vô sản. Chính vì chưa

đơn nhất, cá biệt và chúng không có sự liên hệ, ràng buộc gì với nhau.
Theo Kant, sự vật phải phù hợp với nhận thức của con người. Như vậy
với việc thừa nhận tri thức tiên nghiệm của khoa học và triết học, ông đứng
trên lập trường duy tâm chủ quan. Tuy nhiên, những mâu thuẫn trong quá
trình nhận thức giữa hiện thực và tri thức đã buộc Kant phải thừa nhận có cái
gọi là “Vật tự nó” không thể nhận thức được.
“Vật tự nó” theo Kant có mấy nghĩa sau: thứ nhất, đó là sự thể hiện
những gì thuộc lĩnh vực hiện tượng (Kant đồng nhất với kinh nghiệm) mà
chúng ta chưa nhận thức được; thứ hai, đó là bản chất của mọi sự vật khách
quan tồn tại bên ngoài chúng ta, mà theo ông chúng thuộc về lĩnh vực siêu
nghiệm – và về nguyên tắc chúng ta không thể nhận thức được-; thứ ba, “vật
tự nó” ám chỉ những lý tưởng là chuẩn mực của mọi sự hoàn hảo tuyệt đối mà
con người không đạt tới được, nhưng đây là điều mà nhân loại hằng mơ ước,

Trích đoạn Bước chuyển từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa xã hội của Mác và Ăngghen trên cơ sở thống nhất giữa Sự chuyển biến hoàn toàn của Mác và Ăngghen từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn Giai đoạn đề xuất những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác và Ăngghen thời kỳ 1844 nghĩa của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đối với việc xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status