Tiểu luận: “VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VỚI THỰC
TIỄN VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA NƯỚC TA”
Học viên Trần Ngọc Yên
http://luanvan.co/luan-van/van-dung-nguye n-tac-thong-nhat-giua-ly-luan-voi-thuc-tien-va-con-duong-di-
len-chu-nghia-xa-hoi-o-nuoc-ta-4689/
LỜI NÓI ĐẦU Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ
bản, là linh hồn của triết học Mác - Lênin. Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, C.Mác đã phát
hiện ra sức mạnh của lý luận chính là mối liên hệ của nó với thực tiễn, cũng như sức mạnh của
thực tiễn là ở mối quan hệ của nó với lý luận. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự
thống nhất biện chứng và cơ sở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn. Thực tiễn luôn
luôn vận động, biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển; sự thống nhất
biện chứng giữa chúng - vì thế - cũng có những nội dung cụ thể và những biểu hiện khác nhau
trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử. Đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những
thành tựu to lớn đạt được trong hơn 20 năm đổi mới. Có được những kết qủa đó là do Đảng
cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta. Do đó Em chọn đề tài: “VẬN DỤNG
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN VÀ CON ĐƯỜNG ĐI
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA NƯỚC TA”
CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN
1.1 Lịch sử ra đời. Trong lịch sử Triết học, các nhà triết học Duy vật trước Mác không thấy
được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nên quan điểm của họ mang
tính chất trực quan. Các nhà triết học Duy tâm lại tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, tư tưởng của
thực tiễn, họ hiểu hoạt động thực tiễn như là hoạt động tinh thần, hoạt động của “ý niệm”, tư
tưởng, tồn tại đâu đó ngoài con người. Nói cách khác, Họ gạt bỏ vai trò của thực tiễn trong xã
hội. Mác-Ăngghen, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khắc phục được những hạn chế
trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước và đưa ra quan điểm đúng đắn, khoa
học về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát
triển của xã hội loài người. Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, Mác-Ăngghen đã thực
hiện bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng.
1.2 Cơ sở lý luận. 1.2.1 Phạm trù Thực tiễn. Là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của
lý luận nhận thức Macxít nói riêng, chủ nghĩa Mac-Lênin nói chung. Thực tiễn là hoạt động
Lênin nhắc lại luận cương thứ hai của Mac về Phoi-ơbăc và Người kết luận “Quan điểm về đời
sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”. Nếu không
bám sát thực tiễn cuộc sống chúng ta sẽ không thể có lý luận, không thể có khoa học, không
xác định nổi bất kỳ đề tài khoa học nào với đúng nghĩa của nó.
1.2.2 Lý luận. Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức của sự phản ánh hiện thực khách
quan. Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, các nguyên lý và các quy luật tạo nên lý luận,
quy luật là hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của qúa trình nhận thức nên bản chất của lý luận
là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh một cách gần đúng đối tượng
nhận thức. Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý luận là tri thức
khái quát tri thức kinh nghiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những
kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong
qúa trình lịch sử”. Lý luận được hình thành trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không phải
mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận
có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm mà vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận
với kinh nghiệm. Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó
đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách
quan. Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện
trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự.
1.3 Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Chủ nghĩa
Mac-Lênin xem xét lý luận và thực tiễn trong sự thống nhất biện chứng. Thực tiễn là hoạt động
vật chất còn lý luận là hoạt động tinh thần, nên thực tiễn đóng vai trò quyết định trong quan hệ
đối với lý luận. Lênin viết: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) nó có ưu điểm không những
của tính phổ biến mà của tính hiện thực trực tiếp”. Tính phổ biến của thực tiễn đối với nhận
thức (lý luận) thể hiện ở chỗ, thực tiễn là khâu quyết định đối với hoạt động nhận thức. Một lý
luận được áp dụng trong thời gian càng dài, không gian càng rộng thì hiệu qủa đạt được càng
cao, càng khẳng định tính chân lý của thực tiễn. Ngay cả một giả thiết khoa học muốn trở
thành lý luận phải thông qua hoạt động thực nghiệm kiểm tra, xác nhận. Như vậy, chỉ có qua
hoạt động thực tiễn thì lý luận mới có giá trị tham gia vào qúa trình biến đổi hiện thực. - Hoạt
động lý luận là hoạt động đặc biệt nó thống nhất hữu cơ với hoạt động thực tiễn. Vì vậy, khi
nhấn mạnh vai trò của thực tiễn đối với lý luận, chủ nghĩa Mac-Lênin cũng khẳng đinh tính
thực tiễn. Điều đó cũng có nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng. - Nếu không bám sát thực tiễn cuộc
sống chúng ta sẽ không thể có lý luận, không thể có khoa học, không xác định nổi bất kỳ đề tài
khoa học nào với đúng nghĩa của nó. Và lý luận trở thành lý luận suông. - Trên cơ sở nhận
thức và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn phải chống bệnh kinh nghiệm
và bệnh giáo điều. Chúng ta coi trọng kinh nghiệm thực tiễn và không ngừng tích luỹ vốn kinh
nghiệm quý báu đó.Song chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, thỏa mãn với vốn kinh nghiệm
của bản thân, coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinh nghiệm đồng thời coi nhẹ lý luận,
ngại học tập, nghiên cứu lý luận, ít am hiểu lý luận, không quan tâm tổng kết kinh nghiệm để
đề xuất lý luận thì sẽ rơi vào lối suy nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái, phiến diện
thiếu tính lô gic, tính hệ thống, do đó, trong hoạt động thực tiễn thì mò mẫm, tuỳ tiện, thiếu
tính đồng bộ về lý luận trong tất cả các lĩnh vực do vậy dễ rơi vào bệnh kinh nghiệm chủ
nghiã. - Nếu tuyệt đối hóa lý luận, coi lý luận là bất di bất dịch, việc nắm lý luận chỉ dừng lại ở
những nguyên lý chung chung trừu tượng không chú ý đến những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của
sự vận dụng lý luận thì dễ mắc bệnh giáo điều. - Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì
thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông". Lê nin cho
rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng,
lý luận không phải là cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo, lý luận luôn cần được bổ sung
bằng những kết luận mới rút ra trong thực tế sinh động , do vậy phải cụ thể hóa Chủ nghĩa
Mác- Lê nin cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc, từng nơi.
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VỚI
THỰC TIỄN VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA NƯỚC TA.
2.1 Thực trạng con đường đi lên Xã hội chủ nghĩa của nước ta. Nước ta đi lên CNXH xuất
phát từ một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, từ một xã hội tiền tư bản, có những yếu tố
giai đoạn đầu tư bản chủ nghĩa (TBCN) với nền sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua chế độ
TBCN. Ðặc điểm xuất phát này quy định cả nội dung, hình thức, bước đi và thời gian của con
đường đi lên CNXH ở nước ta. Khi nói về đặc điểm xây dựng CNXH ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ
Chí Minh nhấn mạnh: "Ðặc điểm to nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên
CNXH, không phải kinh qua giai đoạn phát triển TBCN" . Khái niệm "tiến thẳng" ở đây không
có nghĩa là "quá độ trực tiếp" lên CNXH mà chỉ có nghĩa là "không phải kinh qua chế độ
lập dân tộc vừa chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Như vậy, sự kiên định con đường XHCN đòi hỏi phải dám đổi mới và biết đổi mới; đổi mới mạnh mẽ, toàn diện
và đồng bộ hơn, cả về nhận thức và hoạt động thực tiễn. Ở đây có mối quan hệ biện chứng giữa kiên định và đổi mới: muốn kiên định con đường XHCN, phải đổi mới được
nhận thức và đưa được nhận thức đó vào thực tiễn, tạo ra được những thành quả của CNXH trong cuộc sống; trái lại, có kiên định con đường XHCN thì mới đổi mới đúng
hướng, mới bảo đảm độc lập dân tộc và CNXH cho đất nước. Chính trong quá trình đổi mới, trên cơ sở kiên định con đường XHCN, Ðảng ta từng bước hình thành những nhận
thức mới về CNXH ngày càng phù hợp hơn, từng bước khắc phục những quan niệm giáo điều, đơn giản, ấu trĩ, duy ý chí về CNXH. Những nhận thức mới đó về CNXH được
thể hiện tập trung trong Cương lĩnh năm 1991 và đã được bổ sung, phát triển về sau này, nhất là qua tổng kết lý luận - thực tiễn hơn 20 năm đổi mới. Tất nhiên sự vận động, phát
triển của thực tiễn và nhận thức đòi hỏi Ðảng ta phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển hơn nữa nhận thức đó. Từ tổng kết thực tiễn và
nghiên cứu lý luận, chúng ta đã nhận thức lại ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về mục tiêu, bản chất, đặc trưng của CNXH. Cương lĩnh năm 1991 đã khái quát sáu đặc
trưng của CNXH. Ðến Ðại hội X, Báo cáo chính trị đã bổ sung một số điểm mới trong mô hình CNXH ở nước ta: "Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân
giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh". Ðây chính là đặc trưng tổng quát nhất của mô hình xã hội XHCN mà chúng ta đang xây dựng. Cụ thể hóa đặc trưng tổng quát
đó, Văn kiện Ðại hội X đã nêu lên những đặc trưng cụ thể, trong đó có những đặc trưng mới chẳng hạn như "Có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản" . 2.2.2 Đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hoạt
động thực tiễn của mình. Mở rộng giao lưu và tiếp thu thành tựu của các ngành khoa học khác là một yêu cầu của phát triển tư tưởng nền tảng. Những thành tựu mới của khoa
học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học-công nghệ vừa làm rõ thêm giá trị chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vừa đặt ra những vấn đề mới cần được lý
giải để phát triển lý luận, tư tưởng. Cuộc đấu tranh chống các loại tư tưởng đối lập hiện đại đòi hỏi công tác tư tưởng, lý luận phải đứng ở thạch động nên phải vừa hiểu đầy đủ
những luận điệu của kẻ thù vừa phải tự nâng cao trình độ, mài sắc luận điểm mới có thể chiến thắng. Trình độ dân trí ngày càng cao, việc tiếp nhận thông tin hàng ngày từ nhiều
nguồn và đa đảng, Đảng phải đủ sức hướng dẫn nhận thức. Cách mạng XHCN diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến tri thức của tất cả các ngành
khoa học đòi hỏi Đảng phải tiếp thu có chọn lọc để làm căn cứ, cơ sở cho việc xác định đường lối, chủ trương. Không làm giàu tri thức bằng tiếp thu những thành tựu khoa học
thì khó giữ vững nền tảng tư tưởng như đã tuyên bố. Nhưng việc làm giàu tri thức ấy chỉ có thể vững chắc khi dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
để chọn lọc. Vì vậy, nền tảng tư tưởng không phải là sự đông cứng, đơn điệu mà phải có sức sống sinh động bằng việc cởi mở để tiếp nhận những thức tiên tiến của khoa học.
Các khó của vấn đề ở đây là không rơi vào chủ nghĩa xét lại, cơ hội hay chủ nghĩa đa nguyên, tư tưởng thực dụng. Đổi mới phát triển càng nhanh đòi hỏi sự nhạy bén và tỉnh táo
càng cao trước mọi xu hướng tư tưởng. Mỗi bước đi lên của đổi mới đều tăng thêm lòng tin và niềm phấn khởi, nhưng cũng kèm theo những băn khoăn trước những vấn đề mới
đang được đặt ra trong thực tiễn. 2.2.3 Khắc phục và ngăn ngừa tái diễn bệnh kinh nghiệm, giáo điều. - Trong những năm qua nước ta đã khắc phục khá tốt bệnh kinh nghiệm,
giáo điều. Đảng ta đã không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, không ngừng đổi mới,học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới và đổi mới
công tác lý luận dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Quán triệt nhiệm vụ, hướng nghiên cứu chủ yếu và phương châm lớn chỉ đạo hành động lý
luận của Đảng. - Nước ta đã vận dụng lý luận vào thực tiễn của nước ta, cải thiện đời sống của nhân dân. Khởi đầu bằng đổi mới tư duy để thực hiện đổi mới quá trình xây dựng
XHCN, Đảng ta đã vượt qua chủ nghĩa giáo điều, chủ trương vừa vận dụng sáng tạo, vừa phát triển lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh qua hoạt động xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. - Coi trọng và thường xuyên tổng kết thực tiễn, qua đó sửa đổi, phát triển lý luận đã có, bổ sung và hoàn chỉnh đường lối chính sách xây dựng lý luận mới để chỉ
đạo sự nghiệp đổi mới. - Trong những năm đổi mới Đảng ta đã có sự nhận thức đúng hơn và bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trên một loạt các vấn đề (chẳng hạn: Vấn
đề mục tiêu của CNXH, Vấn đề Sở hữu tư liệu sản xuất, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền định hướng XHCN
tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác
quốc tế trên các lĩnh vực khác - Ðổi mới, chỉnh đốn Ðảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng. Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn phải được coi là
quy luật tồn tại và phát triển của Ðảng. Trên ý nghĩa đó, Văn kiện Ðại hội X đã nhấn mạnh 5 nhiệm vụ trong công tác xây dựng Ðảng hiện nay là: + Nâng cao bản lĩnh chính trị
và trình độ trí tuệ của Ðảng. + Kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. + Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân
chủ trong Ðảng; tăng cường quan hệ gắn bó giữa Ðảng với nhân dân; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. + Ðổi mới tổ chức, bộ máy và công tác cán
bộ. + Ðổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng. Tóm lại, dựa trên tổng kết lý luận - thực tiễn hơn 20 năm đổi mới của Ðảng đã góp phần làm sáng tỏ con đường đi lên CNXH ở
nước ta. Con đường đó phản ánh tính phổ biến và tính đặc thù của CNXH Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những điều đã rõ vẫn còn nhiều điều cần phải tiếp tục đi sâu nghiên
cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để tìm câu trả lời cho những vấn đề do cuộc sống đặt ra, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đưa đất
nước phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ XXI.)
KẾT LUẬN Nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối
với việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề của qúa trình phát triển xã hội, nhất là trong thời đại
ngày nay khi thực tế cuộc sống đang đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết rất nhiều những vấn đề lý
luận và thực tiễn nảy sinh của việc xây dựng, phát triển dời sống kinh tế, văn hóa của xã hội.
Hơn lúc nào hết lý luận Mac – Lênin trong sự thống nhất cao với thực tiễn phải thể hiện vai trò
hướng dẫn, chỉ đạo trong công việc, giải quyết những vấn đề cấp bách và trọng đại do cuộc
sống hiện thực đặt ra cho chúng ta trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
hiện nay. Những thành quả mà chúng ta có được ngày hôm nay là kết quả của sự năng động,
sáng tạo của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình vận dụng nguyên tắc thông nhất giữa lý luận
và thực tiễn vào hoàn cảnh lịch sử Việt nam trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội. KIẾN
NGHỊ Hiện nay đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chúng ta phải ra
sức học tập kinh nghiệm của các nước, nhưng phải chống bệnh giáo điều, rập khuôn máy móc.
Quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Phải ra sức học tập, nâng cao
trình độ lý luận cũng như chuyên môn nghiệp vụ. Học phải đi đôi với hành. Phải cụ thể hóa
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc,
từng nơi. Nước ta thực hiện kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, phù hợp với điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Có như vậy nền kinh tế của nước nhà mới phát triển bền
vững.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1/ Chương 7 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn,
TS Bùi Văn Mưa 2/ Trang web: 3/Trang web: 4/ Trang web: 5/ Trang web: 6/ Trang web: Báo
điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, 7/ Trang web: www.chungta.com 8/ Tạp chí triết học.