Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn trong doanh nghiệp - Pdf 67

Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn trong doanh
nghiệp
1.1. Vốn trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm vốn
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường được hiểu là một tổ chức kinh
tế, có đủ tư cách pháp nhân được tổ chức ra để thực hiện kinh doanh trên một
lĩnh vực nhất định với mục đích công ích hoặc thu lợi nhuận.
Để đảm bảo cho sự ra đời, tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải có các
yếu tố cơ bản cho việc thực hiện các hoạt động kinh doanh. Các yếu tố chính
của các hoạt động kinh doanh đó là: Vốn, lao động và tài nguyên. Trong đó, vốn
là yếu tố quan trọng nhất của quá trình hình thành và phát triển của doanh
nghiệp. Vốn luôn là yếu tố cơ bản, cần thiết, không thể thiếu đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, doanh
nghiệp luôn phải đối mặt với các câu hỏi về nguồn tài trợ lấy từ đâu, cách thức
huy động như thế nào, chi phí phải trả bao nhiêu…Vốn được coi là nhân tố đầu
tiên khởi động toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là
điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và tiến
hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Vốn trong doanh nghiệp có thể được hiểu chính là biểu hiện bằng giá trị
của các tài sản trong doanh nghiệp và các tài sản đó phải được sử dụng nhằm
mục đích tạo ra lợi nhuận.
1.1.2. Đặc trưng nguồn vốn trong doanh nghiệp
Một là, vốn phải đại diện cho một lượng tài sản (nguyên liệu, máy móc
thiết bị, chất xám, thông tin…). Tài sản ở tạng thái tĩnh chỉ là vốn tiềm năng, tài
sản hoạt động mới là vốn kinh doanh, điều này có nghĩa là: Vốn là một bộ phận
của tài sản, nhưng không phải toàn bộ tài sản là vốn. Nói cách khác vốn chính là
biểu hiện về mặt giá trị của những tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
Hai là, vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có
thể phát huy tác dụng được. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh
nghiệp phải cần vốn nhưng vốn phải được tích tụ, huy động đủ đảm bảo cho yêu
cầu sản xuất kinh doanh, đặc biệt vốn lớn sẽ thực hiện được các chiến lược phát

• Căn cứ vào thời gian sử dụng: nguồn vốn được chia thành nguồn vốn
ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.
- Vốn ngắn hạn: là vốn có thòi hạn dưới 1 năm. Bao gồm tín dụng thương
mại, các khoản chiếm dụng về tiền lương, tiến thuế, tín dụng ngắn hạn
ngân hàng và các khoản phải trả khác,...
- Vốn dài hạn: là vốn có thời hạn trên 1 năm. Bao gồm tín dụng ngân hàng
dài hạn, phát hành trái phiếu, huy động vốn góp cổ phần, liên doanh, bổ
sung từ lợi nhuận không chia,...
• Căn cứ theo tính chất luân chuyển vốn: Vốn cố định, vốn lưu động.
- Vốn cố định: là phần vốn dùng để đầu tư vào tài sản cố định của doanh
nghiệp. Đây là các tài sản có thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều
chu kỳ sản suất kinh doanh, thường có giá trị lớn.
- Vốn lưu động: là phần vốn dùng để đầu tư vào tài sản lưu động của doanh
nghiệp. Tài sản lưu động là các tài sản có thời gian sử dụng ngắn, thường
tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và có giá trị nhỏ.
• Căn cứ vào quyền sở hữu đối với khoản vốn sử dụng: nguồn vốn
được chia thành vốn chủ sở hữu và nợ.
- Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc về các chủ sở hữu của doanh nghiệp. Gồm:
vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, vốn do phát hành cổ phiếu mới,...
- Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có
trách nhiệm thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế trong quá trình
kinh doanh bao gồm các khoản chiếm dụng và nợ vay.
1.2. Các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp
Cách phân loại phổ biến hiện nay là chia nguồn vốn thành vốn chủ sở hữu
và nợ. Vì nó cho phép doanh nghiệp xác định được cơ cấu vốn của mình đồng
thời thuận lợi hơn trong xây dựng và lựa chọn phương thức huy động vốn và sử
dụng vốn hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu đề ra.
Các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp:
1.2.1. Phương thức huy động nguồn vốn chủ sở hữu
1.2.1.1. Tăng vốn góp

phần, các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần (cổ tức) nhưng thay vào đó,
họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty. Như vậy, giá trị ghi sổ
của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ.
Điều này khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng về trước mắt dễ làm
giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ
hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ
phiếu có thể bị giảm.
1.2.1.3. Tăng vốn góp bằng phát hành cổ phiếu mới
Trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh thì doanh nghiệp có thể
tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới. Cổ phiếu là chứng chỉ
hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối
với vốn của tổ chức phát hành. Việc phát hành cổ phiếu được thực hiện ở các
công ty cổ phần. Phát hành cổ phiếu là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh
nghiệp, bao gồm có phát hành cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Doanh
nghiệp có thể lựa chọn một trong hai công cụ trên hoặc phối hợp cả hai để đem
lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp.
1.2.2. Phương thức huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp
Ngoài việc tăng vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp có thể sử
dụng nợ từ các nguồn: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, phát hành trái
phiếu, huy động vốn từ thị trường tài chính,...
Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Để huy
động được vốn từ các thị trường này, doanh nghiệp cần thông qua các trung gian
tài chính.
1.2.2.1. Phương thức huy động vốn từ các trung gian tài chính
Trung gian tài chính đảm nhiệm chức năng trung chuyển tư bản giữa các
chủ thể tiết kiệm và những người sử dụng vốn. Các trung gian tài chính không
chỉ phục vụ như những người hỗ trợ giữa các chủ thể tiết kiệm và những người
sử dụng vốn mà còn tập trung những khoản tiết kiệm của nhiều người, nhiều
doanh nghiệp và nhiều tổ chức trong nền kinh tế, tạo thành những nguồn tài
chính có quy mô lớn. Đây là một trong những nguồn huy động vốn cơ bản của

• Hiệp hội tín dụng: Là một tổ chức hợp tác xã tín dụng, tổ chức liên
kết các thành viên là những người trong cùng tổ chức nghề nghiệp
hay tín ngưỡng. Nguồn ngân quỹ chủ yếu là tiền gửi của các thành
viên, nguồn ngân quỹ này được sử dụng để cho vay trong nội bộ
nhằm tài trợ mua xe, nhà ở và nhiều loại tài sản khác. Do đặc điểm
của hiệp hội là chỉ cho vay trong nội bộ nên các doanh nghiệp ngoài
hiệp hội sẽ khó có cơ hội tiếp cận với nguồn vay này.
• Quỹ trợ cấp và hưu bổng: Được thành lập để tạo nguồn thu nhập cho
những người về hưu và không còn khả năng làm việc. Các quỹ này
nhận tiền đóng góp của công nhân, của chủ doanh nghiệp và sử dụng
nguồn ngân quỹ này đầu tư vào các loại trái phiếu chính phủ, trái
phiếu kho bạc hay trái phiếu đô thị, đầu tư vào cổ phần, trái phiếu
của các doanh nghiệp. Như vậy, doanh nghiệp có thể huy động vốn
từ quỹ này bằng việc phát hành trái phiếu.
• Công ty tài chính: Công ty tài chính phát hành các loại trái phiếu, cổ
phiếu và vay tiền của các ngân hàng thương mại để tài trợ cho các
doanh nghiệp và cá nhân vay. Những khoản cho vay của các công ty
tài chính thường chủ yếu dành cho những khách hàng có mức độ rủi
ro tín dụng cao, mà các ngân hàng thương mại thường từ chối cho
vay. Để bù đắp cho mức độ rủi ro cao, lãi suất tài trợ của công ty tài
chính thường cao hơn các định chế khác.
Ưu điểm của công ty tài chính là các doanh nghiệp có phương án kinh
doanh với mức độ rủi ro cao vẫn có khả năng tiếp cận với nguồn vốn này trong
khi các ngân hàng thương mại đã từ chối cho vay. Chính ở đặc điểm này đã
khiến cho mức lãi suất khi huy động từ công ty tài chính cao hơn các định chế
tài chính khác.
• Quỹ hỗ tương: Là loại định chế tài chính chuyên tập hợp nguồn tài
chính của những người tiết kiệm nhỏ và đầu tư vào các loại chứng
khoán tùy theo mục tiêu và chính sách do quỹ đặt ra.
Một số quỹ có chính sách đầu tư vào những loại cổ phần của những công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status