LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của
nền kinh tế hiện đại.Chúng ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế
qua diễn biến trên thị trường chứng khoán.Cùng với sự phát triển của thị
trường chứng khoán trên thế giới,thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đang
phát triển theo quy luật này .Cho đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam đã
trải qua 7 năm đầu tiên trong lịch sử phát triển của mình. Gần 7 năm làm quen
với hoạt động thị trường chứng khoán, 7năm vượt qua bao thăng trầm, bao khó
khăn thử thách để từng bước phát triển và bước đầu chúng ta đã thu được
những thành tựu đáng kể. Đặc biệt trong hai tháng gần đây chúng ta cũng thực
sự chứng kiến và cảm nhận được sự nóng bỏng, sự sôi động của thị trường
chứng khoán Việt Nam,VN-INDEX đã vượt qua ngưỡng 1000 điểm, đã thu hút
được rất nhiều công chúng tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán.
Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán các công ty chứng khoán
cũng phát triển song song thực hiện các chức năng của mình,trong đó có công
ty chứng khoán ngân hàng Đông Nam Á (công ty chứng khoán Seabank).Tuy
mới đi vào hoạt động nhưng công ty chứng khoán Seabank đã có những đính
hướng rất rõ ràng,và hình thành các lĩnh vực chuyên môn với đội ngũ nhân lực
có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm với mục tiêu cung cấp các sản phẩm
dịch vụ chứng khoán chất lượng cao cho các khách hàng cá nhân, doạnh
nghiệp và nhà đầu tư.
1
Chương I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán của
công ty chứng khoán:
1.Các hoạt động cơ bản của công ty:
Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế,phù hợp với các điều kiện kinh tế-
chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế,trên cơ sở
tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình thị trường chứng khoán
trên thế giới,Việt Nam đã quyết định thành lập thị trường chứng khoán với
những đặc thù riêng biệt.Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được
- Loại hình tổ chức: Có ba loại hình tổ chức cơ bản:
• Công ty hợp danh:
o Là loại hình kinh doanh có từ 2 chủ sở hữu trở lên
o Thành viên của công ty chứng khoán hợp danh bao gồm:
Thành viên góp vốn và thành viên hợp danh.
o Công ty hợp danh thông thường không được phép phát hành
bất cứ một loại chứng khoán nào.
• Công ty cổ phần:
o Là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu công ty là các cổ
đông.
o Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
o Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công
chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán hiện hành
• Công ty TNHH:
3
o Thành viên của công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và
các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết
góp vào doanh nghiệp.
o Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phiếu.
- Mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán:
• Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh:
Theo mô hình này hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc
lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng
không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rui ro cho hệ thống ngân hàng, tạo
điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vào chuyên môn hoá sâu trong lĩnh
vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển.
• Mô hình công ty chứng khoán đa năng:
Theo mô hình này công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức một tổ
Công ty chứng khoán dựa vào chất lượng chuyên môn đạo đức nghề nghiệp
của đội ngũ nhân viên và cán bộ quản lý trong công ty. Do đó ở bất kỳ thời
điểm nào công ty chứng khoán cũng thực sự chú trọng đến nhân tố con người,
thể hiện ở những điểm sau:
o Lựa chọn nhân viên có năng lực và phù hợp với yêu cầu công
việc.
o Chú trọng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
o Có chế độ đãi ngộ và khuyến khích nhân viên.
- Về ảnh hưởng của thị trường tài chính:
5
Công ty chứng khoán tham gia hoạt động trực tiếp trên thị trường chứng khoán
nên bất kỳ một biến động nào của thị trường chứng khoán nói riêng và thị
trường tài chính nói chung đều tác động sâu sắc đến chuyên môn, sản phẩm,
dịch vụ và doanh thu của công ty chứng khoán.
Thị trường tài chính, thị trường chứng khoán càng phát triển càng tạo ra nhiều
công cụ tài chính, có thêm nhiều dịch vụ, mở rộng phạm vi kinh doanh tạo cơ
hội thu lợi nhuận cho công ty chứng khoán. Mặt khác công ty chứng khoán
không ngừng cải tiến, không ngừng sáng tạo để thích nghi môi trường hoạt
động.
- Về cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán:
Phụ thuộc vào quy mô kinh doanh và các nghiệp vụ mà công ty được phép hoạt
động. theo thông lệ quốc tế, cơ cấu tổ chức của một công ty chứng khoán chia
thành hai khối chủ yếu: Khối nghiệp vụ và khối phụ trợ.
o Khối nghiệp vụ gồm:
Tự doanh
Môi giới
Bảo lãnh phát hành
Tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán
Phòng kỹ quỹ
Khối phụ trợ:
*Vai trò cung cấp một cơ chế chuyển ra tiền mặt:
Các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành
chứng khoán và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định .Các công ty
7
chứng khoán đảm nhận được chức năng chuyển đổi này,giúp cho nhà đầu tư
phải chịu ít thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư.
*Thực hiện tư vấn đầu tư:
Các công ty chứng khoán với đầy đủ các dịch vụ không chỉ thực hiện
mệnh lệnh của khách hàng, mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác
nhau thông qua việc nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó cho
các công ty và các cá nhân đầu tư.
*Tạo ra các sản phẩm mới:
Trong thời gian gần đây, chủng loại chứng khoán đã phát triển với tốc
độ rất nhanh. Ngoài cổ phiếu và trái phiếu đã được biết đến, các công ty chứng
khoán hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ, chứng quyền, trái quyền, các hợp
đổng tương lai, hợp đồng lựa chọn và các sản phẩm lai tạo đa dạng khác phù
hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinh tế.
1.2. Các hoạt động chính của công ty chứng khoán:
1.2.1. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán:
Hoạt động môi giới:
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó
một công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông
qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà
chính khách hàng phải chịu trách nhiệm với hậu quả kinh tế của việc giao dịch
đó.
Hoạt động môi giới có các chức năng:
• Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:
-Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư:cung cấp cho khách
hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư.
8
Mục đích của hoạt động tự doanh:
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán có thể được thực hiện trên các thị
trường giao dịch tập trung hoặc trên thị trường OTC,…với mục đích nhằm thu
lợi cho chính mình
Những yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh:
-Tách biệt quản lý.
-Ưu tiên khách hàng.
-Bình ổn thị trường.
Quy trình nghiệp vụ trong hoạt động tự doanh:
-Xây dựng chiến lược đầu tư.
-Khai thác,tìm kiếm các cơ hội đầu tư.
-Phân tích, đánh giá chất lượng cơ hội đầu tư.
-Thực hiện đầu tư.
-Quản lý đầu tư và thu hồi vốn.
1.2.3. Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành:
Tài liệu bão lãnh phát hành:
-Hợp đồng giữa các tổ chức bão lãnh.
-Hợp đồng bảo lãnh phát hành.
-Hợp đồng với các đại lý được lựa chọn.
Hoa hồng: được chia làm 3 phần:
-Phí quản lý.
-Phí nhượng bán.
10
-Phí bão lãnh.
Thành lập tổ hợp bão lãnh phát hành.
Phân phối chứng khoán.
1.2.4 Nghiệp vụ tư vấn chứng khoán:
Tư vấn đầu tư:
Tư vấn đầu tư là những hoạt động tư vấn về giá trị của chứng khoán nhằm
mục đích thu phí.
*Khái niệm:
Hoạt động tư vấn chứng khoán là hoạt động đưa ra những lời khuyên,
phân tích các tình huống hay thực hiện một số công việc có tính chất dịch vụ
cho khách hàng.
Ở phần lớn các nước, người ta định nghĩa tư vấn chứng khoán là những
hoạt động tư vấn về giá trị của chứng khoán nhằm mục đích thu phí.
*Vai trò của hoạt động tư vấn chứng khoán:
Đối với các loại tư vấn khác, ví dụ như tư vấn pháp luật thì tính chính
xác của lời khuyên là cần thiết và có khả năng diễn ra đúng trên thực tế. Tuy
nhiên với hoạt động tư vấn chứng khoán, do đặc điểm riêng trong nghành là
giá cả thường xuyên biến động nên việc tư vấn về giá trị chứng khoán rất khó
khăn, đồng thời có thể xảy ra nhiều mâu thuẫn về lợi ích. Đặc biệt là với hoạt
động này các nhà tư vấn có thể gây ra những hiểu lầm đáng tiếc về giá trị và xu
hướng giá cả của các loại chứng khoán.
Trong hoạt động tư vấn, người tư vấn có vai trò quan trọng trong việc ra quyết
định đầu tư của khách hàng. Người tư vấn còn phải đảm bảo cung cấp thông tin
12
đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng phải
gánh chịu và đồng thời không được khẳng định về lợi nhuận sẽ nhận được.
2.2.Tính cần thiết của hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán:
Hoạt động tư vấn đầu tư diễn ra trên thị trường thứ cấp.Tư vấn đầu tư
gồm tư vấn mua bán chứng khoán, tạo dựng danh mục đầu tư và quản trị điều
hành tài sản đầu tư.
Đây là một nghiệp vụ rất cần thiết vì không phải ai cũng hiểu rõ về
chứng khoán và thị trường chứng khoán. Ngay cả tại các nước phát triển người
đầu tư thường không có đủ kiến thức, kỹ năng phân tích, không có thời gian
theo dõi thường xuyên những thông tin do khối lượng thông tin quá lớn.
Các thông tin mà nhà tư vấn có thể cung cấp cho khách hàng: tình hình
thị trường, giá cả chứng khoán, chỉ số, thông tin về nhóm ngành cụ thể.
2.3. Các hình thức tư vấn đầu tư chứng khoán:
đánh giá về tình hình tài chính doanh nghiệp,họ phân tích các loại chứng khoán
chủ yếu bằng phương pháp đánh giá tình hình tài chính của người phát hành
chứng khoán đó.Do vậy, việc phân tích tài chính của các nhà tư vấn sẽ giúp
doanh nghiệp nhận thức đúng được chính mình,từ đó có các biện pháp cải thiện
tình hình.
- Giúp người phát hành xác định chính xác giá trị của doanh nghiệp: Là việc
xác định các tài sản hữu hình như máy móc,nhà xưởng…và các tài sản vô hình
như uy tín, nhãn hiệu thương mại, bằng phát minh sáng chế…Đây là việc đầy
khó khăn và phức tạp. Đặc biệt đối với các tài sản vô hình việc xác định giá trị
14
hết sức phức tạp. Các bằng phát minh sáng chế, các nhãn hiệu thương mại luôn
được định giá khác nhau tuỳ theo từng người mua.
Xác định giá trị doanh nghiệp là khâu quan trọng trước khi phát hành chứng
khoán vì nó dùng để định giá chứng khoán phát hành, đặc biệt là khi doanh
nghiệp mới phát hành chứng khoán ra công chúng lần đầu.
-Tư vấn về loại chứng khoán phát hành: Tuỳ theo điều kiện cụ thể mà xác định
doanh nghiệp đó nên phát hành cổ phiếu hay trái phiếu.
Nếu phát hành cổ phiếu thì cần phải theo dõi thái độ của các cổ đông hiện
thời vì tỉ lệ sở hữu của họ có thể bị giảm đi trong doanh nghiệp.Tuy nhiên, tỷ lệ
sở hữu chỉ có ảnh hưởng với cổ đông đang nắm quyền kiểm soát,còn với
những người coi cổ phiếu chỉ là những khoản đầu tư thì lại vui mừng vì điều
này.Khi cổ phiếu được phát hành rộng rãi thì thông thường giá cả của chúng
tăng lên, đồng thời lại có một thị trường cho cổ phiếu đó, giúp cho nhà đầu tư
có thể thu hồi vốn dễ dàng bằng cách bán lại cổ phiếu của mình.
Trong trường hợp doanh nghiệp quyết định phát hành trái phiếu thì việc xác
định mức tín nhiệm là công việc bắt buộc. Các nhà đầu tư có thể giúp các
doanh nghiệp xác định mức tín nhiệm trên cơ sở khả năng trả nợ.Các công ty
có mức tín nhiệm càng cao càng có khả năng phát hành trái phiếu với lãi suất
thấp và dễ dàng thu hút những người đầu tư.
-Tư vấn tái cơ cấu nguồn vốn: Khi một doanh nghiệp nhận thấy,hay thông
Hơn nữa,nghiệp vụ tư vấn loại này có những mâu thuẫn với hoạt động tự
doanh.Nếu không tách biệt các hoạt động này trong cùng một công ty thì có thể
nhà môi giới nếu cần bán một loại chứng khoán nào đó thì sẽ khuyên khách
hàng mua vào, còn nếu cần mua thì lại khuyên khách hàng bán ra.
- Cung cấp thông tin và đánh giá tình hình:
16
Trước đây, việc cung cấp thông tin được hiểu là việc phát hành các bản tin
dưới hình thức giấy tờ. Ngày nay, với những tiến bộ của thông tin hiện đại,
việc cung cấp thông tin có thể dưới hình thức giấy tờ, có thể là qua các phương
tiện truyền thông, đặc biệt là Internet.
Các bản tin có lúc đơn giản là những con số biến động giá cả: các báo cáo
tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh của các công ty niêm yết. Tuy nhiên, để
bàn tin hấp dẫn hơn, người ta thường có kèm những lời phân tích và đánh giá
tình hình thị trường, tình hình giá cả của các loại chứng khoán. Người ta có thể
dùng lời văn hay những biểu đồ để phân tích, những biểu đồ này thường được
xây dựng theo những lý thuyết thị trường nhất định hoặc theo những đánh giá
riêng của từng nhà tư vấn.
Việc phân biệt ranh giới tư vấn kiểu này với lũng đoạn thị trường cũng
không hoàn toàn rõ ràng. Nếu một nhà tư vấn được phép phát ngôn thoải mái,
họ rất có thể sẽ làm ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư. Ai cũng biết
rằng các nhà tư vấn là những chuyên gia trong lĩnh vực của họ, họ có nhiều
thông tin và kiến thức hơn những người khác, do vậy họ có thể đánh giá tình
hình chính xác hơn vá những lời phát ngôn của họ có thể trở thành những lời
tiên đoán, định hướng cho toàn bộ thị trường.
Nhà tư vấn thường đánh giá tình huống theo kiến thức, kinh nghiệm và tư
duy chủ quan, do vậy việc đánh giá tình huống của mỗi nhà tư vấn là khác
nhau.
Việc quản lý hoạt động này đỡ khó khăn hơn so với quản lý hoạt động tư
vấn trực tiếp vì các bản tin, bản báo cáo đánh giá là những bằng chứng về hành
vi của nhà tư vấn. Cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu nhà tư vấn phải có kiến
toàn bộ cho công ty chứng khoán, tức là công ty có quyền quyết định về đối
18
tượng đầu tư, đó là loại chứng khoán hay tài sản nào, thời điểm nào mua, thời
điểm nào bán.Tuy nhiên, dù uỷ quyền toàn bộ nhưng để đảm bảo quyền lợi của
khách hàng, công ty chứng khoán vẫn phải thường xuyên gửi các thông báo
trước và sau khi tiến hành giao dịch và kết quả thực hiện giao dịch.
Nghiệp vụ này cũng có một số mâu thuẫn với nghiệp vụ môi giớí và nghiệp
vụ tự doanh. Công ty chứng khoán có thể tiến hành nhiều giao dịch cho khách
hàng trên mức cần thiết để thu phí hoa hồng, do vậy nó cần được quản lý chặt
chẽ và tách biệt trong cùng một công ty. Nếu khách hàng chứng minh được
rằng công ty chứng khoán đã thực hiện số giao dịch nhiều hơn mức cần thiết
thì công ty sẽ phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng. Mặt khác, công ty
chứng khoán khi tiến hành hoạt động tự doanh có thể lợi dụng tài sản của
khách hàng để kiếm lợi cho riêng mình. Do vậy, ngoài việc kiểm tra của các cơ
quan quản lý, khách hàng còn phải có cơ chế tự bảo vệ nhằm tránh sự trục lợi
của công ty chứng khoán. Cơ chế này phải do chính công ty chứng khoán đặt
ra và giới thiệu để khách hàng chấp thuận vì bản thân khách hàng không phải
là một nhà chuyên môn nên họ khó có thể nghĩ ra những cơ chế như vậy.
2.5 Nguyên tắc trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán:
Nhà tư vấn phải luôn là những người thận trọng khi đưa ra những lời bình
luận về giá trị của các loại chứng khoán.Khi hành động, nhà tư vấn cần đặt ra
và tuân theo một số nguyên tắc nhất định, tối thiểu như sau:
-Không đảm bảo chắc chắn vể giá trị của chứng khoán: giá trị chứng
không phải là một cố định, nó luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế và tâm lý.
-Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình có thể không
hoàn chính xác và khách hàng cần biết rằng nhà tư vấn sẽ không chịu trách
nhiệm về những lời khuyên đó.
19
-Không được dụ dỗ, mời gọi khách hàng mua hay bán một loại chứng
khoán nào đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ cơ sở khách quan là sự
hoạt động tư vấn đầu tư, đó có thể là tác động tạo điều kiện thuận lợi cũng có
thể là hạn chế đối với hoạt động tư vấn đầu tư.
-Cơ sở vật chất kỹ thuật, thông tin:
So với các nghiệp vụ khác thì nghiệp vụ này không yêu cầu về cơ sở vật chất
kỹ thuật lớn bằng. Nhưng công ty chứng khoán luôn phải đảm bảo có một trình
độ công nghệ hiện đại với đầy đủ trang thiết bị cần thiết để họ có thể tìm kiếm,
khai thác,xử lý thông tin một cách nhanh chóng và chính xác vừa để phục vụ
cho công việc tư vấn vừa để nâng cao uy tín của công ty.
-Vị thế của ngân hàng mẹ:
Công ty chứng khoán là công ty thành viên của một ngân hàng sẽ có những
lợi thế so với những công ty chứng khoán thuộc loại hình cổ phần:
Thứ nhất: Các công ty chứng khoán này sẽ gặp nhiều thuận lợi về sức cạnh
tranh. Đặc biệt về mặt tài chính khi có sự trợ giúp của ngân hàng sẽ tăng khả
năng cạnh tranh trên thị trường.
Thứ hai: Các công ty chứng khoán này sẽ được học hỏi nhiều về kinh
nghiệm đầu tư phát triển của các ngân hàng mẹ nên sẽ dễ dàng hơn trong lĩnh
vực tư vấn.
Thứ ba: Các công ty chứng khoán sẽ có khả năng thu hút được một số
lượng lớn khách hàng là khách hàng của ngân hàng mẹ.
Thứ tư: Uy tín và hình ảnh của ngân hàng mẹ chính là một trong những
cách thức tiếp thị quảng bá tốt nhất cho công ty chứng khoán.
3.2 Nhân tố khách quan:
- Sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế:
21
Nền kinh tế phát triển ổn định, đời sống của người dân được cải thiện
tốt, mức tiết kiệm tăng, nhu cầu đầu tư cũng tăng theo là điều kiện thuận lợi
cho hoạt động đầu tư.
Thị trường chứng khoán là thị trường có nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn và
đòi hỏi người đầu tư phái có những kiến thức về tài chính nhất định. Công ty
là tổ chức trung gian tài chính chuyên cung cấp các dịch vụ về chứng khoán, đó
1.1.Quá trình hình thành và phát triển của công ty chứng khoán
Seabank:
Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các điều kiện
kinh tế-chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trên
cơ sở tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình thị trường chứng
khoán trên thế giới,Việt Nam đã quyết định thành lập thị trường chứng khoán
với những đặc thù riêng biệt. Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam
được đánh dấu bằng việc đưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán
tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000, và thực hiện giao dịch đầu tiên
vào ngày 28/07/2000. Thị trường chứng khoán phần nào đã đáp ứng nhu cầu về
vốn để tái cơ cấu và phát triển nền kinh tế . TTCK Việt Nam đã chiếm tỷ trọng
lớn trong GDP, góp phần vào công cuộc CNH-HĐH của đất nước.Hình thành
và phát triển thị trường chứng khoán cả về số lượng và chất lượng là một trong
những định hướng phát triển của Chính Phủ nhằm phát triển thị trường.Công ty
chứng khoán là một trong những chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán
Việt Nam.Theo Quyết định số 04/1998/QĐ-UBCK ngày 13/10/1998 của
UBCKNN, các công ty chứng khoán được thành lập dưới hình thức pháp lý là
công ty cổ phần hoặc trách nhiệm hữu hạn. Đó là những tổ chức kinh tế có tư
cách pháp nhân,có vốn riêng và hạch toán kinh tế độc lập. Tuy theo vốn điều lệ
và đăng ký kinh doanh mà một công ty có thể thực hiện một hoặc một số
24
nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán:môi giới chứng khoán, tự doanh, bảo lãnh
phát hành, tư vấn đầu tư và lưu ký chứng khoán.
Công ty chứng khoán Seabank được thành lập theo QD 34/UBCKNN
ngày 22/12/2006. Công ty chứng khoán Seabank có trụ sở chính tại Hà Nội, có
vốn điều lệ hiện nay là 50 tỷ đồng. Cổ đông sáng lập của công ty chứng khoán
Seabank là ngân hàng Seabank, một trong những ngân hàng thương mại cổ
phần hàng đầu tại Việt Nam.
Tên đầy đủ: công ty cổ phần chứng khoán ngân hàng cổ phần thương mại
Đông Nam Á.