A.MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong hơn 4 năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã trở nên mở hơn rất
nhiều. Điều kiện không thể thiếu để phục vụ cho phát triển kinh tế là nhu cầu về
vốn nhưng nguồn vốn trong nước lại không đủ đấp ứng được nhu cầu trong giai
đoạn này. Do đó một nhiệm vụ quan trọng được đặt ra là phải thu hút được một
cách có hiệu quả các nguồn vốn từ bên ngoài. Hiện nay một nguồn vốn có vai trò
hết sức quan trọng trong sự phát triển của các quốc gia đó là vốn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA), nguồn vốn này đã và đang có vai trò quan trọng trong tiến
trình tăng trưởng và hộ nhập của nền kinh tế Việt Nam. Phát triển cơ sở hạ tầng,
giao thông vận tải giáo dục, y tế,… là những lĩnh vực được đầu tư bằng nguồn
vốn ODA, và đã có những bước phát triển vượt bậc, góp phần đáng kể vào sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên ODA không chỉ là một khoản cho
vay ,mà đi kèm theo nó là các điều kiện rang buộc chính trị, kinh tế. Sẽ là gánh
nặng nợ nần cho các thế hệ sau hoặc phải chịu sự chi phối của nước ngoài nếu
chúng ta không biết cách quản lý và sử dụng vốn ODA. Mặt khác, hiện nay việc
quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA của nước ta hiện nay vẫn còn nhiều bất cập,
thiếu sót gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc.
Nhận thấy vấn đề trên em quyết định thực hiện đề tài “ Phân tích tình hình
thu hút, và sử dụng nguồn vốn ODA trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam
hiện nay” để đưa ra một số giải pháp về thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn
ODA có hiểu quả nhất nhằm phát huy được hết những vai trò tích cực của nguồn
vốn ODA với việc phát triển kinh tế xã hội nước ta.
2.Mục tiêu nghiên cứu:
-Mục tiêu chung:
Phân tích thực trạng và hiệu quả sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) ở Việt Nam hiện nay và đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA.
-Mục tiêu cụ thể :
+Phân tích thực trạng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam hiện nay
+Phân tích ưu, nhược điểm của việc sử dụng vốn ODA.
châu Âu để tiếp nhận được các nguồn hỗ trợ này đều đã đưa ra một chương trình
phục hồi kinh tế toàn diện và lập kê hoạch thành lập tổ chức hợp tác châu
Âu,hiện nay là OECD.
Ngày 14 tháng 12 năm 1960.20 nước châu Âu đã chính thức ký hiệp định tổ
chức kinh tế và phát triển OECD. Hiệp định này chính thức có hiệu lực từ năm
1961 và sau đó có thêm 4 nước là Nhật Bản, Niudilân, Phần Lan và
Australia.Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước thành viên OECD đã lập
ra các uỷ ban chuyên môn trong đó có uỷ ban viện trợ phát triển DAC để hỗ trợ
các nước đang phát triển.
Sau đó, khái niệm về một chính sách viện trợ giúp các nước đang phát triển
phục hồi nền kinh tế đã ra đời với tên gọi: Hỗ trợ phat triển chính thức (Official
development assistance), được gọi tắt là ODA.
Ngay từ đầu những năm 1950, phần đông các nước công nghiệp lớn đều viện
trợ cho các nước đang phát triển. Tính đến năm 1980, Mỹ đã viện trợ cho các
nước hơn 180 tỷ USD và là nước tài trợ lớn nhất thế thời kỳ đó. Ngoài ra còn có
các nước viện trợ lớn khác như Pháp, Na Uy, Thuỵ Điển,…Liên Xô cũ, Trung
Quốc và các nước Đông Âu cũng cung cấp các khoản viện trợ tới các nước
XHCN kém phát triển và một phần tới Trung Đông.Tổng viện từ các nước
XHCN từ năm 1947 tới năm 1980 là 24 tỷ USD.
Năm 1970, để việc hỗ trợ các nước đang phát triển được tiến hành một cách
đòng bộ và hiệu quả, đồng thời mang tính bắt buộc đối với các nước phát triển,
lần đầu tiên Đại hội đồng Liên hợp quốc đã chính thức thông qua Nghị quyết
trong đó quy định chỉ tiêu ODA bằng 0.7% GNP của các nước nước phát
triển.Theo quyết định, các nước phát triển sẽ phấn đấu đạt chỉ tiêu trên vào năm
3
1985 hoặc muộn nhất vào cuối thập kỷ 80, và đạt 1% GNP vào năm năm
2000.Tuy nhiên,trên thực tế việc thực hiện nghĩa vụ này của các nứơc là rất khác
nhau. Số liệu năm 1990 cho thấy một số nước thực hiện bằng hoặc vượt mức quy
định này như Đan Mạch(0.96%), Thuỵ Điển (0.92%), Hà Lan(0.88%) trong khi
một số nước giàu như Mỹ chỉ có 0,17%, Nhật Bản là 0.33%
dân nước viện trợ.
1.1.3 Đặc điểm của ODA
4
1.1.3.1. Đặc điểm chung:
+ Là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không trực tiếp
điều hành dự án, nhưng có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ
trợ chuyên gia. Tuy nước chủ nhà có quyền quản lý sử dụng vốn ODA, nhưng
thông thường danh mục dự án ODA phải có sự thoả thuận với các nhà tài trợ.
+ Các nước nhận vốn ODA phải hội tụ đủ một số điều kiện nhất định.Điều kiện
này tuỳ thuộc từng nhà tài trợ.
+ Chủ yếu dành hỗ trợ cho các dự án đầu tư và cơ sở hạ tầng như GTVT, giáo
dục y tế…
+ Các nhà tài trợ là các tổ chức viện trợ đa phương (gồm các tổ chức thuộc tổ
chức Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu, các tổ chức phi chính phủ IMF, WB,
ADB) và các tổ chức viện trợ song phương như các nước thuộc tổ chức hợp tác
và phát triển kinh tế OECD, các nước đang phát triển như Ả Rập Xê út,Tiểu
vương quốc Arập, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc. Các nước cung cấp viện trợ
nhiều nhất hiện nay là Mỹ, Nhật, Pháp, Anh, Australia,Thuỵ Điển…
1.1.3.2. Ưu điểm:
+ Lãi suất thấp
+ Thời hạn cho vay dài
+ Khối lượng vốn vay lớn
+ Bao giờ cũng có yếu tố không hoàn lại,thường đạt ít nhất 25% tổng số vốn
ODA. Hay còn gọi là yếu tố tài trợ.
1.1.3.3. Nhược điểm:
+ Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu đãi.
Tuy nhiên nếu quản lý, sử dụng vỗn ODA không hiệu quả vẫn có nguy cơ để lại
gánh nặng nợ nần trong tương lai.
+ Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như
mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh
một cách đáng kể thì thời hạn các khoản vay có thể được điều chỉnh nhằm thể
hiện những thay đổi lớn trong tình hình kinh tế của từng nước. Tuy nhiên, nếu sự
điều chỉnh đó làm nền kinh tế của quốc gia vay vốn bị bất ổn thì có thể điều
chỉnh lại.
1.1.6. Phân loại ODA.
1.1.6.1. Theo phương diện các tổ chức tài trợ.
Có 2 loại:
+ ODA song phương: Là viện trợ phát triển chính thức của chính phủ nước này
dành cho chính phủ nước kia.
6
+ ODA đa phương: Là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc tế như
Ngân hàng phát triển châu Á, liên minh châu Âu, Ngân hàng thế giới,…) hoặc
của chính phủ một nước dành cho chính phủ nước khác nhưng được thực hiện
thông qua các tổ chức đa phương như Chương trình phát triển lien hiệp
quốc(UNDP) hay Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc(UNICEF),…
1.1.6.2. Theo các nước tiếp nhận
Có 2 loại:
+ ODA thông thường: Là hỗ trợ cho nước có thu nhập bình quân đầu người thấp.
+ ODA đặc biệt: Là hỗ trợ cho các nước đang phát triển với thời hạn cho ngắn,
lãi suất cao hơn so với ODA thông thuờng.
1.1.6.3.Theo tính chất.
Có 2 loại.
+ Viện trợ không hoàn lại: Là viện trợ cấp không, không phải trả lại và thường
được thực hỉện dưới hai dạng sau.
- Hỗ trợ lỹ thuật: Là việc chuyển giao công nghệ hoặc truyền lại những
kinh nghiệm xử lý, bí quyết kỹ thuật cho nước nhận ODA nhờ sự trợ giúp của
các chuyên gia quốc tế. Tuy nhiên, tronmg hình thức viện trợ này thì lương của
các chuyên gia quốc tế lại chiếm phần dáng kể trong tổng giá trị viện trợ.
- Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: Các nước tiếp nhận ODA dưới hình
thức hiện vật như lương thực,thực phẩm, thuốc men, vải vóc…Tuy nhiên, đơn
bằng bản tệ được đưa vào ngân sách của chính phủ.
+ Tín dụng thương mại: ODA có thể thực hiện dưới dạng tín dụng thương mại
với các điều khoản mềm như lãi suất thấp, hạn trả dài,…
+ Viện trợ chương trình : Hay còn gọi là hỗ trợ phi dự án, là viện trợ khi đạt được
một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho một
mục đích tổng quát trong một thời hạn nhất định mà không phải xác định một
cách chính xác nó phải sử dụng như thế nào.
+ Hỗ trợ dự án : Là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức, có thể lien
quan đến hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, và thông thường các dự án phải
được chuẩn bị rất kỹ lưỡng trước khi thực hiện.
- Hỗ trợ cơ bản : chủ yếu là các dự án về xây dựng(đường xá,cầu cống,
đề đập, điện năng, viễn thông, trường học, bệnh viện,…).Thông thường các dự án
này có kèm theo một bộ phận của viện trợ kỹ thuật dưới dạng thuê chuyên gia
nước ngoài để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó của dự án hoặc để soạn
thảo xác nhận các báo cáo cho đối tác viện trợ.
- Hỗ trợ kỹ thuật: chủ yếu là các dự án tập trung vào chuyển giao tri thức
hoặc tăng cường cơ sở lập kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu tình hình cơ bản trước
khi đầu tư.
8
1.2. Vai trò của nguồn vốn ODA
Nguồn vốn ODA được đánh giá là nguồn ngoại lực quan trọng giúp các
nước đang phát triển thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
mình. Vai trò của ODA thể hiện trên các giác độ cơ bản như:
1.2.1 Vai trò của nguồn vốn ODA trong việc bổ sung nguồn vốn thiếu
hụt trong nước
Những nước đang phát triển nói chung thường là những có nền kinh tế nghèo
nàn và lạc hậu. Và chưa có đủ các tiền đề cần thiết để phát triển bền vững. Để
phát triển với tốc độ nhanh trong khi nền kinh tế nhỏ bé đang thiếu vốn nghiêm
trọng và tiết kiệm trong nước còn quá thấp thì cần phải bổ sung vốn từ nước
ngoài, Đáp ứng yêu cầu trên, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có đặc thù là
có nguồn vốn lớn với điều kiện cho vay ưu đãi như nguồn vốn ODA thì Chính
phủ các nước đang phát triển mới có thể tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng
cơ sở hạ tầng kinh tế như đường sá, điện, nước, thuỷ lợi và các hạ tầng xã hội
như giáo dục, y tế. Những cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được xây dựng mới hoặc
cải tạo nhờ nguồn vốn ODA là điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền
kinh tế của các nước nghèo.
Đối với Việt Nam, thì các công trình thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng hiện nay
đã xuống cấp nghiêm trọng, không thể duy trì phát triển kinh tế lâu dài. Hệ thống
đường giao thông thì chắp vá, mỗi năm phải chi tiền để tu bổ, hệ thống sân bay,
cầu cảng cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của đất nước trong quá trình phát triển
kinh tế. Để phát triển kinh tế thì cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước, từ đó sẽ
thu hút được sự đầu tư góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Nhưng chỉ trông chờ
vào nguồn thu của ngân sách nhà nước thì không thể đáp ứng đủ.
Chính vì thế, một lần nữa khẳng định lại là nguồn vốn ODA có vai trò cực kỳ
quan trọng với việc phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam cũng như các nước
đang phát triển.
1.2.3. Vai trò của nguồn vốn ODA với phát triển khoa học – công
nghệ
Việc sử dụng ODA còn mang lại nhiều thuận lợi cho các quốc gia đang phát
triển trong công cuộc cải cách kinh tế nhờ những ưu điểm sau: Vốn ODA sẽ giúp
nước nhận tài trợ có cơ hội ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công
nghệ trên thế giới. Tuy các nước công nghiệp phát triển không muốn chuyển giao
công nghệ cao cho các nước nhận viện trợ nhưng những công nghệ được chuyển
giao cũng tương đối hiện đại so với trình độ của các nước này. Trong quá trình
thực hiện, nước viện trợ thường cử chuyên gia sang hướng dẫn thực hiện dự án
do đó cán bộ của nước nhận viện trợ có thể học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm
đáng quý. Vốn ODA cũng giúp nước nhận viện trợ có cơ hội đào tạo nguồn nhân
lực cho đất nước mình. Khi thực hiện các dự án có vốn nước ngoài, các cán bộ
quản lý, cán bộ kỹ thuật cũng như công nhân sẽ có cơ hội tiếp thu công nghệ
mới, làm quen với các quy trình làm việc khoa học và hiện đại, đồng thời rèn
+ Nguồn vốn ODA giúp cho các nước đang phát triển tích cực hơn trong bảo vệ
môi trường, phát triển bền vững.+ ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành
mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các nước ĐPT. Đa phần các nước ĐPT rơi
vào tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, gây bất lợi cho cán cân thanh toán quốc
tế của các quốc gia này. ODA, đặc biệt các khoản trợ giúp của IMF có chức năng
làm lành mạnh hoá cán cân vãng lai cho các nước tiếp nhận, từ đó ổn định đồng
bản tệ.
+ ODA giúp các nước ĐPT tăng cường năng lực và thể chế thông qua các
11
chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và
xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế.
Tóm lại, ODA đóng một vai trò hết sức qua trọng đối với việc phát triển kinh
tế của các nước đang phát triển đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng
kinh tế xã hội do tính chất ưu đãi đặc thù của nguồn vốn này. Tuy vậy, việc sử
dụng nguồn vốn này không phải là không có hạn chế.
1.3. Nguồn vốn ODA và nguy cơ phụ thuộc của các nước tiếp nhận
Tuy nhiên, đối với nước tiếp nhận, nguồn hỗ trợ song phương tạo điều kiện
giúp tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời họ cũng phải chấp nhận những
điều kiện ràng buộc rất chặt chẽ từ phía các nước tài trợ. Những ràng buộc này có
thể xuất phát từ lý do kinh tế cũng có thể là ràng buộc về chính trị. Ví dụ năm
2003 này Mỹ sẵn sàng viện trợ và cho Thổ Nhĩ Kỳ vay một khoản tiền lớn để đổi
lấy việc Thổ Nhĩ Kỳ cho phép Mỹ đóng quân trong cuộc chiến tranh tấn công I
-rắc.
Kinh nghiệm phát triển 50 năm qua của thế giới cho thấy. Những nước tiến
hành phát triển dựa trên việc tăng cường và sử dụng nguồn vốn trong nước tiết
kiệm được đồng thời hạn chế tối thiểu vay nợ nước ngoài là những nước đã đạt
được kết quả phát triển tốt và bền vững. Trái lại, một số nước đang phát triển
trông cậy quá nhiều vào viện trợ tài chính của nước ngoài, đặc biệt là các khoản
vay nợ, hiện vẫn đang nằm trong danh sách những nước mất cân đối và lệ thuộc
vào nước ngoài.
hoàn toàn trái ngược nhau.
Mỗi quốc gia nhận ODA đều có cách tiếp cận riêng của mình, theo đó công tác
quản lý và điều phối của Nhà nước ở các quốc gia này cũng có những nét riêng.
Hàng năm, WB, những nhà tài trợ song phương và bản thân các nước nhận tài trợ
đều có những đánh giá độc lập để rút ra kinh nghiệm thành công cũng như thất
bại. Với Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, ODA còn rất mới mẻ nên việc
nghiên cứu kinh nghiệm của các nước đi trước là vấn đề cần thiết.
1.4.1 Những kinh nghiệm thành công trong quản lý nhà nước về vốn ODA
a. Xác định lĩnh vực ưu tiên hợp lý
Thông thường căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội dài hạn và ngắn hạn
mà mỗi nước xác định lĩnh vực đầu tư vốn ODA cụ thể.
Do xác định nông nghiệp là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu nên thời kỳ 1951-1953,
trong tổng số 267 triệu USD nhận viện trợ, Đài Loan đã chi 50% cho lĩnh vực
nông nghiệp, tiếp theo là các lĩnh vực khác như kỹ thuật, công nghiệp, hạ tầng,
thuỷ lợi giao thông Các nước khác như Thái Lan, Singapore chủ yếu dành
vốn ODA cho hạ tầng kinh tế: giao thông, viễn thông, năng lượng là những dự
án đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm không hấp dẫn các nhà
đầu tư trong nước và nước ngoài nhưng lại giúp nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp trong và ngoài nước.
b. Quy định mức vay và trả nợ hàng năm
Phần vốn ODA hoàn lại thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng ODA, thông
thường khi tổng mức ODA càng cao thì tỷ trọng vốn hoàn lại cũng ngày càng
cao. Do vậy, nếu không quy định mức vay và trả nợ hàng năm thì sẽ dẫn đến sử
13
dụng không hiệu quả đồng vốn, vay tràn lan và để lại gánh nặng nợ nần cho thế
hệ sau.
Tại Thái Lan, một dự án, đặc biệt là dự án vay nợ, trước khi đề xuất với phía cấp
viện trợ thường phải xem xét và tiến hành nhiều bước để xác định:
- Tính cấp thiết của dự án.
quan tâm đến việc tối đa hoá lợi ích, kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ từ
nguồn vốn ODA.
Chuẩn bị dự án cũng được Trung Quốc rất chú trọng và thực hiện tương đối tốt
với các hướng dẫn nghiên cứu khả thi toàn diện tuân theo một trình tự hết sức
lôgíc nên không bỏ sót một khâu kỹ thuật nào. Những thủ tục chi tiết được ban
14
hành về đệ trình, kiểm tra và phê duyệt các dự án xây dựng đòi hỏi tuyệt đối tuân
thủ.
Không thể không tính đến vai trò của các nhà tài trợ nếu muốn dự án được chuẩn
bị tốt. Trong việc xây dựng (Nghiên cứu khả thi) F/S và đánh giá hiệu quả của
các dự án ODA, Malaisia tận dụng tối đa sự hỗ trợ của các nhà tài trợ, và có sự
tham gia phối hợp chặt chẽ với các nhà tài trợ trong các hoạt động này. Do vậy,
một khi phía nhà tài trợ đã xây dựng xong F/S là Chính phủ Malaisia phê duyệt
ngay và nhờ đó họ đã rút ngắn được công đoạn này. Tương tự như vậy Chính phủ
Malaisia đã áp dụng kịp thời kết quả đánh giá sau dự án của các nhà tài trợ để cải
tiến chất lượng thiết kế các dự án mới; Malaisia không gặp nhiều vướng mắc do
sự khác biệt về thủ tục trong nước và thủ tục của các nhà tài trợ vì các dự án
ODA của nhà tài trợ nào tuân thủ hướng dẫn và quy định của nhà tài trợ đó.
d. Phối hợp quản lý và mở rộng phân cấp cho các cơ quan quản lý nhà nước
Malaisia có sự phân định rõ về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý
ODA. Giữa các cơ quan này có sự phối hợp chặt chẽ và có chung một nhận thức
là tạo thuận lợi tối đa cho các ban quản lý dự án, làm sao thực hiện các dự án
ODA đúng tiến độ, áp dụng các thủ tục trình duyệt nhanh gọn nhằm giảm bớt phí
cam kết. Những hợp phần nào trong dự án khó thực hiện, Chính phủ Malaisia chủ
động đề nghị với nhà tài trợ huỷ bỏ hợp phần này. Hiện nay các đề nghị thanh
toán được tiến hành trên mạng vi tính, phục vụ tốt cho công tác theo dõi giám sát
của các cơ quan liên quan; những vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án
thông qua đơn vị điều phối thực hiện tại các Bang, Ban công tác phát triển Bang
và Hội đồng Phát triển Quận huyện.
e. Chú trọng công tác kiểm toán và đánh giá sau dự án
Ở Trung Quốc, công tác này được thực hiện rất tốt, chặt chẽ ở từng khâu. Cơ
quan kiểm toán Nhà nước chịu trách nhiệm kiểm toán các dự án theo Quy chế
kiểm toán của Chính phủ. Công tác kiểm toán được thực hiện ở ba giai đoạn:
trước khi dự án khởi công, trong quá trình thực hiện dự án và sau khi dự án
hoàn thành.
Trung Quốc chú trọng đặc biệt đến công tác đánh giá sau dự án và vai trò của
công tác này trong việc ra quyết định và quản lý dự án.Trung Quốc nhận thấy
rằng do hầu hết các nguồn đầu tư cho dự án được huy động từ nguồn tiết kiệm
trong nước nên tính hiệu quả và hiệu dụng của đầu tư tác động rất lớn đến sự phát
triển của nền kinh tế. Trung Quốc đã hướng việc đánh giá một số dự án đã hoàn
thành vào việc ban hành các quy định áp dụng cho những dự án trên cơ sở các bài
học kinh nghiệm đã đúc kết được.
1.4.2. Những kinh nghiệm chưa thành công trong quản lý nhà nước về
vốn ODA
a.Định hướng trong thu hút và sử dụng vốn ODA thiếu căn cứ khoa học.
Định hướng tốt là yêu cầu đầu tiên để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn
ODA. Việc này sẽ làm cho ODA được sử dụng đúng mục đích và tránh được
gánh nặng nợ nần cho nước nhận tài trợ.
Những quốc gia sử dụng ODA rất thành công như Malaysia, Thái Lan là
những nước có định hướng tốt cho nguồn vốn này. Ở những nước đó có sự nhất
trí trong Chính phủ về mục tiêu của quốc gia, chính sách và danh mục ưu tiên chi
16
tiêu được xác định rõ ràng. Các nước này thường cân nhắc kỹ lưỡng chiến lược
tập trung vào các vấn đề: tầm cỡ, mức độ viện trợ, yêu cầu loại nguồn viện trợ
nước ngoài nào, những chỉ số và điều kiện được cho là có thể chấp nhận được,
mục tiêu của nước cấp viện trợ, các thủ tục và các bộ phận đảm nhiệm quá trình
viện trợ.
- Bộ tài chính: Chịu trách nhiệm về nguồn vốn vay ưu đãi.
17
Việc quản lý vốn ODA còn phân tán và thiếu một đầu mối thống nhất dẫn tới
hiện tượng không có sự phối hợp quản lý giữa các nguồn vốn khác nhau. Chẳng
hạn, vốn UNDP và các nguồn vốn song phương, Trung Quốc giao cho Bộ Kinh
Mậu quốc tế, vốn WB giao cho Bộ Tài chính, vốn ADB giao cho Ngân hàng
Nhân dân Trung Quốc, Uỷ ban Kế hoạch phát triển nhà nước chịu trách nhiệm
cân đối chung và hướng dẫn thực hiện.
Không có mối dây liên hệ rõ ràng giữa các dự án hỗ trợ kỹ thuật được tài trợ
bằng nguồn viện trợ không hoàn lại và các dự án được tài trợ bằng các nguồn vốn
vay ưu đãi do các nguồn vốn này do hai cơ quan khác nhau quản lý. Nguồn viện
trợ không hoàn lại không được sử dụng để hỗ trợ các khoản vay và điều này có
thể xem như một khiếm khuyết.
c. ODA là mảnh đất màu mỡ của tệ nạn tham nhũng và các biến tướng của nhiều
dạng thao túng, biển thủ ngân quỹ viện trợ
Chính bản chất của ODA – “hỗ trợ phát triển” đã bị người sử dụng (nước tiếp
nhận) “lợi dụng” để mưu cầu các mục đích riêng. Ở một số nước Mỹ-La tinh, mà
điển hình là Pêru – một trong những nước đứng đầu về nhận viện trợ trong khu
vực, chiếm vị trí thứ nhất trong mức độ hợp tác với nhiều nước lớn như Mỹ, Nhật
Bản, Đức, Hà lan thế nhưng cho đến nay, đất nước này vẫn nằm trong diện các
nước kém phát triển nhất. Kết cục trên là một tất yếu, bởi đất nước này đã từng
có những cựu tổng thống như ông Alan Garcia cùng nội các của ông ta liên tục bị
giới truyền thông tố cáo vì tội tham nhũng và có liên quan đến những vị bê bối tài
chính viện trợ. Đồng thời, ở đất nước này ngân quỹ viện trợ còn được sử dụng
làm quà biếu, tặng trong những công du của Tổng thống
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH THU HÚT, VÀ SỬ DỤNG
NGUỒN VỐN Ở VIỆT NAM
2.1 Sơ lược về tình hình vận động, cam kết và giải ngân ODA dành
cho Việt Nam giai đoạn (2001 – 2010)
2.1.1.Đổi mới đã mang lại cơ hội cho hợp tác phát triển
USD cam kết.
Bảng 1: Tổng hợp phân tích ODA giai đoạn 1993 - 2002
19
Năm
ODA
cam
k
ế
t
(
T
ri
ệ
u
U
S
D)
Tỷ lệ t
ăn
g
ODA
ca
m
kết
năm
s
au
so
v
ớ
n
gân
năm
s
au
so
v
ớ
i
năm
t
r
ư
ớ
c
(
%
)
Tỷ lệ
O
DA
gi
ả
i
n
gân
/
cam
kết
737 101,7
%
28,3
%
1996
2.430 93,5
%
900 122,1
%
37,0
%
1997
2.400 98,8
%
1.000 11
1,1%
41,7
%
1998
2.200 91,7
%
1.242 124,2
%
56,5
%
1999
2.100 95,5
%
1.350 108,7
%
phi Chính phủ quốc tế hoạt động với số tiền viện trợ hàng năm lên đến 200 triệu
USD trong nhiều lĩnh vực khác nhau, liên quan trực tiếp đến đời sống người dân
tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.
Thông qua 15 Hội nghị CG thường niên, tổng vốn ODA đã được các nhà
tài trợ cam kết đạt 42,438 tỷ USD với mức cam kết năm sau cao hơn năm trước,
kể cả những năm kinh tế thế giới gặp khó khăn như khủng hoảng tài chính khu
vực châu Á vào năm 1997.
Số vốn ODA cam kết nói trên được giải ngân dựa trên tình hình thực hiện
các chương trình và dự án được ký kết giữa Chính phủ và các nhà tài trợ. Từ năm
1993 đến nay (tính đến hết tháng 10 năm 2008), Chính phủ Việt Nam và các nhà
tài trợ đã ký các điều ước quốc tế cụ thể về ODA với tổng số vốn đạt 35,217 tỷ
USD, chiếm 82,98% tổng vốn ODA cam kết trong thời kỳ này, trong đó vốn
20
ODA vay ưu đãi chiếm khoảng 80%, vốn ODA không hoàn lại chiếm khoảng
20%.
2.1.3. Giải ngân vốn ODA có tiến bộ, song chưa đủ
Việt Nam nhận thức rằng cam kết vốn ODA mới chỉ là sự ủng hộ về chính
trị của cộng đồng tài trợ quốc tế, việc giải ngân nguồn vốn này nhằm tạo ra các
công trình, sản phẩm kinh tế - xã hội cụ thể để đóng góp vào quá trình phát triển
của đất nước mới là quan trọng.
Trong thời kỳ 1993-2008 (tính đến hết tháng 10 năm 2008), tổng vốn ODA
giải ngân đạt 22,065 tỷ USD, chiếm 52% tổng vốn ODA cam kết và 62,65% tổng
vốn ODA ký kết.
Có thể nhận thấy trong thời kỳ này tình hình giải ngân vốn ODA có những
cải thiện nhất định với chiều hướng tích cực qua các năm. Tuy nhiên, mức giải
ngân này vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội 5 năm và tỷ lệ giải ngân vẫn còn thấp hơn mức trung bình của thế giới và khu
vực đối với một số nhà tài trợ cụ thể.
2.1.4. Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội - Những ngành và
lĩnh vực ưu tiên sử dụng vốn ODA
Để sử dụng nguồn vốn ODA đã cam kết, Việt Nam đã ký kết với các nhà tài trợ
các điều ước quốc tế về ODA (dự án, nghị định thư, hiệp định, chương trình).
Tính từ năm 2001 đến hết 2004, tổng giá trị các điều ước quốc tế về ODA đã
được ký kết đạt 8.781 triệu USD, trong đó 7.385 triệu USD vốn vay và 1.396
triệu USD viện trợ không hoàn lại, chiếm khoảng 78% tổng nguồn vốn ODA đã
được cam kết trong cùng giai đoạn.
Nguồn vốn ODA đã được ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực như giao thông vận
tải; phát triển nguồn và mạng lưới truyền tải và phân phối điện; phát triển nông
nghiệp và nông thôn bao gồm thuỷ lợi, thuỷ sản, lâm nghiệp kết hợp xoá đói
giảm nghèo; cấp thoát nước và bảo vệ môi trường; y tế, giáo dục và đào tạo khoa
học và công nghệ, tăng cường năng lực và thể chế Cơ cấu sử dụng ODA gần
sát với yêu cầu do Đại hội IX đề ra.
Nguồn vốn ODA đã được giải ngân tính cho ngân sách nhà nước (không bao
gồm phần giải ngân cho các khoản chi tại nước tài trợ, chi cho chuyên gia )
trong giai đoạn từ năm 2001 đến hết năm 2004 ước đạt khoảng 6.172 triệu USD,
bằng 71,9% tổng giá trị các điều ước quốc tế về ODA đã ký kết và bằng 55%
tổng lượng ODA đã cam kết trong thời kỳ này. Dự kiến giải ngân trong năm
2005 sẽ đạt khoảng 1.700 triệu USD.
2.2.2. Thực trạng về thu hút và giải ngân ODA theo loại hình dự án
Mức giải ngân ODA khác nhau giữa các nhà tài trợ và giữa các loại hình dự
án. Các dự án hỗ trợ kỹ thuật thường có mức giải ngân cao (chủ yếu là chi cho
chuyên gia, mua sắm thiết bị, máy móc và đào tạo). Các dự án đầu tư xây dựng
thường giải ngân chậm do mất nhiều thời gian cho công tác chuẩn bị đầu tư như
đền bù, di dân và tái định cư, đấu thầu và xét thầu. Nhìn chung, giải ngân ODA
trong thời gian qua mới đạt khoảng 70 - 80% kế hoạch đề ra.
2.2.3. Thực trạng thu hút và giải ngân theo ngành và lĩnh vực
22
Trong các ngành và lĩnh vực ưu tiên vốn ODA, Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo có các chương trình và dự án
ODA ký kết trong thời kỳ 1993-2008 đạt tổng trị giá khoảng 5,5 tỷ USD, trong
nước thải, chất thải rắn,…
Y tế, Giáo dục và đào tạo, Môi trường, Khoa học và kỹ thuật là những
lĩnh vực ưu tiên thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua với các chương
trình, dự án đã ký đạt tổng số vốn khoảng 4,3 tỷ USD.
Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, ODA hỗ trợ cho việc thực hiện cải cách
giáo dục ở tất cả các cấp học (giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ
thông, giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề), đào tạo giáo viên, tăng cường
năng lực công tác kế hoạch và quản lý giáo dục, cung cấp học bổng đào tạo đại
học và sau đại học ở nước ngoài, cử cán bộ, công chức đào tạo và đào tạo lại tại
nước ngoài về các lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ và quản lý.
23
Trong lĩnh vực y tế, vốn ODA không hoàn lại chiếm tỷ trọng cao, khoảng
58% trong tổng vốn ODA (khoảng 0,9 tỷ USD) đã được sử dụng để tăng cường
cơ sở vật chất và kỹ thuật cho công tác khám và chữa bệnh (xây dựng bệnh viện
và tăng cường trang thiết bị y tế cho một số bệnh viện tuyến tỉnh và thành phố,
các bệnh viện huyện và các trạm y tế xã, xây dựng cơ sở sản xuất kháng sinh,
trung tâm truyền máu quốc gia, , tăng cường công tác kế hoạch hóa gia đình,
phòng chống HIV/AIDS và bệnh truyền nhiễm như lao, sốt rét; đào tạo cán bộ y
tế, hỗ trợ xây dựng chính sách và nâng cao năng lực quản lý ngành.
Nhiều chương trình và dự án ODA hỗ trợ Việt Nam bảo vệ môi trường và
phát triển bền vững như các chương trình trồng rừng và phủ xanh đất trống, đồi
núi trọc; các chương trình và dự án xây dựng và bảo vệ các khu sinh quyển, rừng
quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên,
Ngoài ra, hơn 1 tỷ USD vốn ODA còn được sử dụng để hỗ trợ cho ngân
sách thông qua các khoản vay và viện trợ không hoàn lại gắn với chính sách của
WB, ADB, IMF và một số nhà tài trợ song phương như hỗ trợ thực hiện các
chính sách kinh tế trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, ngân hàng, phát triển khu vực
tư nhân, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước,
Nhiều tỉnh, thành phố nhận được sự hỗ trợ quan trọng của ODA
Trong hoàn cảnh đa phần các địa phương thu không đủ chi, vốn ODA đã góp
như giao thông nông thôn, cấp điện và nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế xã
và các bệnh viện tỉnh và huyện, các công trình thủy lợi, các chợ nông thôn,
Thứ ba, ODA có vai trò quan trọng hỗ trợ Việt Nam xây dựng và hoàn
thiện khung thể chế, pháp lý (xây dựng và hoàn thiện các Luật, các văn bản dưới
Luật) thông qua việc cung cấp chuyên gia quốc tế, những kinh nghiệm và tập
quán tốt của quốc tế và khu vực trong lĩnh vực pháp luật đặc biệt trong bối cảnh
Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Thứ tư, nguồn vốn ODA có vai trò tích cực hỗ trợ phát triển năng lực con
người trong việc đào tạo và đào tạo lại hàng vạn cán bộ Việt Nam trong thời gian
qua trên rất nhiều lĩnh vực như nghiên cứu cơ bản và ứng dụng khoa học, công
nghệ, quản lý kinh tế và xã hội, thông qua việc cung cấp học bổng nhà nước, cử
chuyên gia nước ngoài để đào tạo tại chỗ trong quá trình thực hiện các chương
trình, dự án ODA, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, cung
cấp trang thiết bị nghiên cứu và triển khai,
2.3.2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân
+ Nghị định 131/2006/NĐ-CP sau hơn 4 năm thực hiện đã bộc lộ một số bất cập
hạn chế làm cho công tác thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA chưa đáp
ứng được yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt trong thời gian gần đây xuất hiện tình
trạng nhà thầu nước ngoài bị phá sản, tranh chấp hợp đồng giữa nhà thầu và chủ
đầu tư ở một số dự án. Ngoài ra khung thể chế của Việt Nam vẫn còn tồn tại sự
thiếu nhất quán giữa các quy định về ODA và các quy định về các văn bản pháp
quy khác trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng.
+ Nhiều dự án có chất lượng chuẩn bị dự án thấp do cơ quan chủ quản, chủ dự án
không phát huy tốt vai trò “chủ sở hữu”, thường lệ thuộc về ý tưởng các nhà tài
trợ với tư tương “ dắt trâu qua rào”, thiếu trách nhiệm trong các khâu chuẩn bị,
thẩm định và phê duyệt dự án. Điều này đã dẫn đến việc thực hiện dự án gặp rất
nhiều khó khăn, thậm chí phải dẫn đến việc cơ cấu lại dự án hoặc hủy bỏ dự án
do tính khả thi thấp.
25