MỤC LỤC
a. Khối lượng vốn, mức tăng trưởng và tính bền vững 10
b. Chi phí huy động vốn 10
c. Khả năng đáp ứng nhu cầu kinh doanh 11
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vai trò của vốn đối với các Ngân hàng
thương mại ngày càng trở nên quan trọng. Vốn của ngân hàng được hiểu là những giá
trị tiền tệ do ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu
tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Vốn của Ngân hàng Thương mại được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như
vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay và các nguồn vốn khác. Trong đó vốn huy động là
nguồn vốn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng nguồn vốn kinh doanh của Ngân hàng
Thương mại. Muốn đóng vai trò thực sự như một trung gian tài chính, một tổ chức
kinh doanh tiền tệ chuyên nghiệp, muốn giữ thế chủ động trong kinh doanh thì mỗi
ngân hàng không thể không tiến hành huy động vốn. Nguồn vốn huy động quyết
định năng lực thanh toán cũng như quy mô các hoạt động cho vay, đầu tư, bảo
lãnh…của ngân hàng. Nó cũng có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh, vị thế và
uy tín của ngân hàng trên thị trường.
Rõ ràng, một ngân hàng có thế mạnh trong việc huy động vốn thì sẽ có nhiều
thuận lợi trong việc phát triển các dịch vụ, đẩy mạnh kinh doanh, mở rộng thị trường.
Vì vậy mỗi ngân hàng đều cần quan tâm thường xuyên đến công tác huy động vốn, đáp
ứng yêu cầu kinh doanh của bản thân ngân hàng và nhu cầu về vốn cho nền kinh tế.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, với những kiến thức đã học được ở trường,
cùng những kiến thức đã thu thập được trong thời gian thực tập, tìm hiểu tình hình thực
tế tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải chi nhánh Thanh Xuân – Hà Nội, em đã chọn đề tài:
“ Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Hàng
Hải Việt Nam chi nhánh Thanh Xuân – Hà Nội “
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ huy động vốn.
- Phân tích đúng thực trạng công tác nguồn vốn tiền gửi của Ngân hàng TMCP
lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo,PGS. TS Nguyễn Đình Kiệm – người đã tận tình
hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN, HUY ĐỘNG VỐN VÀ
HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của vốn và vốn huy động
a. Khái niệm vốn của Ngân hàng thương mại
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thânngân hàng
thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các
dịch vụ kinh doanh khác.
b. Khái niệm vốn huy động
Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động
sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. NHTM được coi như là một định chế tài chính cơ
bản trong đời sống kinh tế. NHTM hoạt động với ba nghiệp vụ chính đó là: nghiệp
vụ tài sản nợ (nghiệp vụ huy động vốn); nghiệp vụ tài sản có (nghiệp vụ cho vay)
và nghiệp vụ cung ứng dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ tư vấn, thanh toán hộ, giữ hộ,
Các nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển,
tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan xen lẫn
nhau trong quá trình hoạt động của ngân hàng, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong
quá trình hoạt động kinh doanh của NH.
Nguồn vốn của NHTM gồm có: vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay và các nguồn
vốn khác. Vốn huy động là một trong các nguồn vốn quan trọng trong nguồn vốn của
NHTM.
Khái niệm vốn huy động: Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá
nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả. Vốn
huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ NHTM nào.
Bản chất của vốn huy động là các tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Ngân
quản an toàn tài sản. Khi cần khách hàng có thể đến rút ra để chi tiêu. Cũng giống như
trường hợp trên, ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu của khách hàng khi họ có nhu cầu rút
tiền và chỉ được phép sử dụng tài khoản khi đã đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả. Ở
Việt Nam tiền gửi loại này được thể hiện dưới các hình thức như: Tiền gửi không kỳ
hạn của các tổ chức, cá nhân. Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt còn thấp, để
khuyến khích thanh toán qua ngân hàng, các NHTM Việt Nam trả lãi cho loại tiền gửi
này như tiền gửi không kỳ hạn khác. Ở các nước phát triển loại tiền gửi này chiếm vị trí
quan trọng trong kết cấu nguồn vốn và có chi phí đầu vào rất thấp.
4
Có thể nói tiền gửi không kỳ hạn là một nguồn để các ngân hàng huy động vốn với
chi phí thấp, trong khi đó quy mô vốn huy động được khá lớn. Tuy nhiên, việc sử dụng
các nguồn tiền này gặp nhiều bất lợi bởi nó mang tính chất không ổn định, do khách
hàng có thể gửi hoặc rút ra bất cứ khi nào, đặt ngân hàng trước rủi ro thanh khoản. Do
đó, muốn sử dụng hiệu quả nguồn này, ngân hàng phải tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng
về đặc điểm kinh doanh, thu nhập, chi tiêu…của khách hàng để có kế hoạch khai thác
hiệu quả.
Huy động tiền gửi có kỳ hạn
Đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và ngân hàng về thời
hạn gửi và rút tiền. Đại bộ phận tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và ký thác để
hưởng lãi. Các NHTM nhận hai loại tiền gửi có kỳ hạn đó là tiền gửi có kỳ hạn và tiền
gửi báo rút. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn để
kinh doanh. Chính vì vậy, NHTM luôn tìm cách để đa dạng hoá loại tiền gửi này nhằm
đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng.
Tiền gửi tiết kiệm
Xét về bản chất, tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của dân cư gửi vào ngân
hàng với mục đích tích luỹ tiền một cách an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó.
Tiền gửi tiết kiệm là một dạng đặc biệt để tích luỹ tiền tệ trong lĩnh vực tiêu dùng cá
nhân. Trên thực tế tiền gửi tiết kiệm được phát triển dưới hai hình thức sau:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút bất cứ lúc nào,
song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác. Đối với
Kỳ phiếu ngân hàng là một công cụ nợ ngắn hạn do ngân hàng phát hành theo
từng đợt để huy động vốn một cách linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho những kế
hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng. Việc phát hành kỳ phiếu tùy thuộc theo thời
gian và tình hình cụ thể của nguồn vốn ngân hàng. Vốn này chỉ chỉ được huy động
trong thời gian nhất định, khi đã huy động đủ khối lượng theo dự kiến ngân hàng sẽ
ngừng việc huy động kỳ phiếu. Đây là hình thức huy động vốn nhanh vì còn có lãi suất
cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng thời hạn, lại có thể chuyển nhượng dễ dàng nên thu hút
khối lượng vốn tương đối lớn.
Trái phiếu ngân hàng là một công cụ nợ dài hạn của ngân hàng, với các cam kết
thanh toán gốc vào ngày đáo hạn và thanh toán vào những thời gian xác định. Lãi suất
của trái phiếu thường cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu…Trái phiếu dùng để
huy động vốn trung dài hạn phục vụ cho những kế hoạch phát triển kinh doanh có quy
mô lớn và dài hạn. Trong khi kì phiếu là được phát hành ở từng chi nhánh với khung lãi
suất, thời gian phát hành riêng biệt thì trái phiếu được phát hành với quy mô lớn, đồng
loạt trong hệ thống mỗi ngân hàng.
Ở nước ta hiện nay các hình thức huy động qua phát hành công cụ nợ còn thấp so
với nguồn huy động khác. Tuỳ theo từng thời kỳ, khi nào cần thì ngân hàng mới huy
6
động. Sử dụng nguồn này ngân hàng chủ động được thời gian sử dụng, số lượng và giá
cả của vốn. Tuy ngân hàng phải trả mức lãi suất cao hơn mức lãi suất huy động vốn,
nhưng có tác dụng kiềm chế lạm phát và góp phần cho sự hình thành và phát triển của
thị trường chứng khoán.
c. Các hình thức huy động vốn khác
Ngoài các hình thức huy động vốn trên, NHTM còn có các nguồn khác như: Tiền
gửi ký quỹ, tiền gửi đảm bảo khả năng thanh toán, tiền tạm giữ, tiền đang chuyển và các
khoản khác. NHTM cũng có thể sử dụng những hình thức huy động vốn khác để thu hút
nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, từ nền kinh tế, từ nước ngoài thông qua các hoạt động uỷ
thác về các dịch vụ xã hội như: dịch vụ câu lạc bộ hoặc đứng ra làm đại lý phát hành
chứng khoán cho các công ty, làm trung gian thanh toán, làm đại lý bảo hiểm, làm đại lý
uỷ thác đầu tư
doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian tìm kiếm
nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.
c. Đối với nền kinh tế
Vốn huy động còn có ý nghĩa to lớn với nền kinh tế , thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và
để mở rộng quy mô sản xuất. NHTM thông qua hoạt động huy động vốn đã biến vốn
nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn,
thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Với tầm quan trọng nêu trên, các NHTM cần đặc biệt quan tâm để nâng cao hiệu
quả công tác huy động vốn hơn nữa.
1.2. HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
1.2.1. Khái niệm hiệu quả huy động vốn
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng
khác đang phải đối mặt với các cuộc cạnh tranh khốc liệt. Bất kỳ biến động nào dù nhỏ
hay lớn đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động
huy động vốn nói riêng. Vì vậy, hiệu quả trong hoạt động huy động vốn không chỉ đánh
giá chính xác đúng đắn hoạt động huy động vốn nói riêng mà còn phản ánh khả năng
thích nghi và khẳng định sự phát triển trên thị trường của ngân hàng.
Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Khi so sánh giữa kết
quả và chi phí thì cần phải so sánh dưới dạng thương số, hoặc kết quả/chi phí hoặc chi
phí/kết quả. Mỗi cách so sánh đó đều cung cấp các thông tin có ý nghĩa khác nhau. Đặc
biệt không thể tính kết quả bằng cách lấy kết quả - chi phí vì như vậy chỉ cho ra một chỉ
tiêu kết quả chứ không phải chỉ tiêu kết quả.
Khái niệm hiệu quả như trên cho thấy rằng chỉ khi nào đạt được kết quả cao nhất
8
trong điều kiện chi phí thấp nhất mới được coi là có hiệu quả. Tuy nhiên trên thực tế,
việc xác định kết quả nào là cao nhất với chi phí thấp nhất là rất khó.
Như vậy, hiệu quả huy động vốn được thể hiện ở khả năng đáp ứng cao nhất nhu
cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Đó chính là sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ, nhu cầu sử
dụng vốn với chi phí hợp lý.
a. Khối lượng vốn, mức tăng trưởng và tính bền vững
Vốn huy động của ngân hàng phải có sự tăng trưởng ổn định về số lượng để thoả
mãn nhu cầu tín dụng, thanh toán cũng như các hoạt động kinh doanh khác ngày càng
tăng của ngân hàng. Nếu ngân hàng huy động được một lượng vốn lớn, nhưng lại không
ổn định, thường xuyên có những dòng tiền lớn bị rút ra thì lượng vốn dành cho đầu tư,
cho vay sẽ không lớn, hiệu quả huy động vốn không cao, thường xuyên phải đối đầu với
vấn đề thanh khoản.
Chỉ tiêu này được đánh giá qua: mức độ tăng giảm nguồn vốn huy động và số
lượng vốn huy động có kỳ hạn. Nguồn vốn tăng đều qua các năm, có độ gia tăng đều
đặn, đạt mục tiêu nguồn vốn đặt ra là nguồn vốn tăng trưởng ổn định.
b. Chi phí huy động vốn
Quản lý chi phí vốn là hoạt động thường xuyên và quan trọng của mỗi ngân hàng,
vì mỗi sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn hay lãi suất đều có thể làm thay đổi chi phí trả
lãi, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập ròng của ngân hàng.
Tỷ trọng các khoản mục chi phí (1)
Chỉ số (1) =
Số chi cho từng khoản mục
x 100(%)
Tổng chi phí
Qua chỉ số này, chúng ta có thể biết được kết cấu các khoản chi phí để có thể hạn
chế các khoản chi phí bất hợp lý, tăng cường các chi phí có lợi cho hoạt động huy động vốn.
Lãi suất bình quân đầu vào (2)
Chỉ số (2) =
Tổng chi phí trả lãi thực tế
x 100(%)
Tổng số vốn huy động bình quân
Trả lãi tiền gửi là khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất, nó là yếu tố quyết định
đến việc hoạch định lãi suất cho vay, do vậy ngân hàng cần phải phân tích cụ thể chỉ
tiêu lãi suất bình quân đầu vào tính trên một năm.
Chi phí khác: Bên cạnh chi phí là lãi suất, trong quá trình HĐV ngân hàng còn
hạn an toàn trong hoạt động kinh doanh) điều này thể hiện nguồn vốn được sử dụng tối
đa.
- Mức độ thuận tiện của khách hàng: Được đánh giá qua các thủ tục gửi tiền, rút
tiền, các dịch vụ kèm theo của ngân hàng. Tiết kiệm thời gian và chi phí cho khách
hàng.
- Thời gian để huy động một lượng vốn nhất định.
11
- Một số chỉ tiêu khác như số lượng vốn bị rút ra trước hạn, kỳ hạn thực tế của
nguồn vốn.
Trên đây là một số chỉ tiêu để đánh giá chất lượng huy động vốn của NHTM. Tuy
nhiên, sử dụng một chỉ tiêu không thể phản ánh đầy đủ được mà cần kết hợp nhiều chỉ
tiêu thì mới phản ánh đúng thực chất chất lượng huy động vốn của một NHTM. Trong
điều kiện cụ thể sẽ có từng hệ thống chỉ tiêu riêng phù hợp với đặc điểm kinh doanh của
mỗi ngân hàng.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
1.3.1. Các nhân tố khách quan
a. Nhân tố kinh tế
Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng mạnh mẽ và thường xuyên tới quá trình huy
động vốn của ngân hàng. Sự ảnh hưởng này thông qua sự thay đổi của các yếu tố:
Sự biến động mang tính chu kỳ của nền kinh tế
Khi nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao thì ngân hàng có điều kiện gia tăng số
vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và người dân vì đây là thời kỳ các tổ chức kinh tế
làm ăn phát đạt, người dân có thu nhập cao hơn nên lượng tiền dành cho tiết kiệm cũng
tăng. Tốc độ tăng trưởng cao cũng làm nhu cầu vốn trong nền kinh tế tăng mạnh, lãi
suất cho vay tăng làm lãi suất huy động tăng là động lực và điều kiện thuận lợi cho ngân
hàng đẩy mạnh công tác huy động vốn. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái hoặc rơi
vào khủng hoảng sẽ kéo theo sự sụt giảm thu nhập của các tổ chức kinh tế và người
dân, làm sụt giảm lượng tiền gửi vào ngân hàng và giảm khả năng huy động vốn.
Lạm phát
Nếu lạm phát tăng cao, lãi suất thực giảm, giá trị đồng tiền sụt giảm làm mất lòng
tiết kiệm bưu điện. Với sự phát triển cùng mạng lưới rộng khắp, các định chế tài chính
này cũng đã thu hút được lượng vốn đáng kể. Sự cạnh tranh gay gắt hiện nay làm cho
công tác huy động vốn của ngân hàng càng khó khăn hơn, đòi hỏi các ngân hàng phải
nhanh chóng thích nghi với cơ chế thị trường và đưa ra được những sản phẩm tốt để thu
hút khách hàng.
Môi trường xã hội
Môi trường xã hội cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động của ngân
hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng.
Phân bố dân cư, thu nhập của người dân là một nguồn lực tiềm tàng có thể khai
thác nhằm mở rộng quy mô huy động vốn của ngân hàng thương mại. Vì vậy những khu
vực đông dân cư, với thu nhập cao thì sẽ dễ dàng hơn trong việc huy động vốn đối với
ngân hàng.
13
Môi trường văn hoá như tập quán, tâm lý, thói quen sử dụng tiền mặt của dân cư
ảnh hưởng nhiều đến quyết định kinh tế về tiêu dùng và tiết kiệm của người có thu
nhập, mức độ chấp nhận rủi ro khi gửi tiền vào các tổ chức tín dụng hay quyết định chi
tiêu số tiền nhàn rỗi của mình vào đầu tư bất động sản, động sản, chứng khoán…
1.3.2. Các nhân tố chủ quan
a. Chính sách lãi suất và phí dịch vụ của ngân hàng
Lãi suất được coi là giá cả của các sản phẩm dịch vụ tài chính. Ngân hàng sử dụng
hệ thống lãi suất tiền gửi như một công cụ quan trọng trong việc huy động tiền gửi và
thay đổi quy mô nguồn vốn. Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn, ngân hàng cần ấn
định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện những ưu đãi về giá cho những khách hàng lớn,
gửi tiền thường xuyên. Hơn nữa hệ thống lãi suất cần linh hoạt, phù hợp với quy mô và
cơ cấu nguồn vốn. Song song với đó là đưa ra các dịch vụ đa dạng, phong phú đáp ứng
tốt nhu cầu khách hàng với mức phí hợp lý.
Tuy nhiên, ngân hàng cũng cần phải chú ý rất nhiều đến lãi suất tiền vay để có thể
có các hoạt động kinh doanh hợp lý, đem lại các khoản thu nhập cao nhất cho ngân
hàng để bù đắp được các khoản chi phí đã bỏ ra và vẫn mang lại lợi nhuận cho ngân
hàng.
nói ngân hàng cần phải chú trọng tới thái độ và phong cách phục vụ đối với khách hàng.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:
Những nội dung trình bày trong chương được tập trung để làm rõ những vấn đề cơ
bản về huy động vốn, hiệu quả huy động vốn, các hình thức huy động vốn của NHTM,
các nhân tố ảnh hưởng cùng các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác huy động vốn của
NHTM. Đây chính là cơ sở lý luận để nghiên cứu những vấn đề tiếp theo của khóa luận.
15
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN
HÀNG TMCP HÀNG HẢI VIỆT NAM CHI NHÁNH THANH XUÂN
HÀ NỘI
2.1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI VIỆT NAM
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng hải Việt Nam gọi tắt là Ngân hàng TMCP
Hàng hải, tên giao dịch quốc tế là Vietnam Maritime Commercial Stock Bank (viết tắt
là Maritime Bank hoặc MSB, nhưng tên Maritime Bank được dùng nhiều nhất).
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) chính thức thành lập theo
giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08/06/1991 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam. Ngày 12/07/1991, Maritime Bank chính thức khai trương và đi vào hoạt động tại
Thành phố cảng Hải Phòng, ngay sau khi Pháp lệnh về Ngân hàng Thương mại, Hợp tác
xã Tín dụng và Công ty Tài chính có hiệu lực. Khi đó, những cuộc tranh luận về mô
hình ngân hàng cổ phần còn chưa ngã ngũ và Maritime Bank đã trở thành một trong
những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên tại Việt Nam. Đó là kết quả có được từ
sức mạnh tập thể và ý thức đổi mới của các cổ đông sáng lập: Cục Hàng Hải Việt Nam,
Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Cục Hàng không Dân dụng Việt
Nam…
MARITIME BANK sau 20 năm phát triển: Ban đầu, Maritime Bank chỉ có 24
cổ đông, vốn điều lệ 40 tỷ đồng trụ sở chính ở số 25 Điện Biên Phủ, TP Hải Phòng và 3
chi nhánh tại các tỉnh thành lớn như Hải Phòng, Hà Nội, TP HCM. Có thể nói, sự ra đời
của Maritime Bank tại thời điểm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đã góp phần tạo nên
• Các loại hình bảo lãnh.
• Dịch vụ thanh toán trong nước và Quốc tế.
• Giao dịch ngoại hối.
Ngoài ra, Maritime Bank còn cung cấp tới khách hàng nhiều loại dịch vụ ngân
hàng khác như: thanh toán séc du lịch, chuyển tiền nhanh, cấp giấy phép mang ngoại tệ
ra nước ngoài, thu đổi ngoại tệ, chi trả kiều hối, tư vấn về tài chính, ngân hàng, đầu tư,
dịch vụ hỗ trợ khách hàng trực tuyến…
Maritime Bank đang thực hiện giao dịch một cửa theo đó khách hàng chỉ giao dịch
trực tiếp với một nhân viên giao dịch tại quầy giao dịch của ngân hàng mà không phải
đứng từ quầy này sang quầy khác, tiết kiệm được thời gian.
Hiện nay tại Maritime Bank đang trong quá trình chuyển đổi mô hình mới Wave 2,
hệ thống Maritime Bank được phân chia rõ ràng, bao gồm: Ngân hàng cá nhân, Ngân
hàng doanh nghiệp, Ngân hàng doanh nghiệp lớn và các định chế. Cùng với các quyết
17
định thay đổi toàn diện, từ định hướng kinh doanh, hình ảnh thương hiệu, thiết kế không
gian giao dịch tới phương thức tiếp cận khách hàng… đến nay, Maritime Bank đang
được nhận định là một Ngân hàng có sắc diện mới mẻ, đường hướng hoạt động táo bạo
và mô hình giao dịch chuyên nghiệp, hiện đại nhất Việt Nam.
TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC
Maritime Bank phấn đấu trở thành Ngân hàng TMCP dẫn đầu thị trường về cung
ứng các dịch vụ tài chính chuyên nghiệp đa năng, trọn gói theo tiêu chuẩn quốc tế.
Với cam kết vì sự phát triển bền vững, Maritime Bank phấn đấu trở thành Ngân
hàng TMCP hàng đầu cả nước về hiện đại hóa, năng động, chuyên nghiệp và lấy chữ
Tín trong mọi hoạt động kinh doanh.
SỨ MỆNH
Thiết lập quan hệ toàn diện với các tập đoàn kinh tế thuộc các ngành Hàng hải,
Bưu chính viễn thông, Hàng không, Đầu tư, Bảo hiểm…
* Phát triển bền vững, tin cậy với khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
* Cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng với chất lượng cao cho mọi đối tượng
khách hàng.
- Đảm bảo tuyệt đối an toàn và bảo mật.
*Và với xã hội: Bằng việc đảm bảo sự tăng trưởng không ngừng của Ngân hàng
đồng thời thường xuyên tham gia các hoạt động văn hóa, từ thiện, Maritime Bank cam
kết đóng góp các giá trị văn hóa, kinh tế cho cộng đồng và sự phát triển chung của toàn
xã hội.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam chi nhánh Thanh Xuân - Hà Nội
(Maritime Bank Thanh Xuân) là ngân hàng cấp 1, mới được thành lập và đi vào hoạt
động từ năm 2005, là một ngân hàng có tiến độ phát triển nhanh và toàn diện. Bộ máy
tổ chức của Maritime Bank Thanh Xuân được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến, bao gồm
Giám đốc và các phòng ban.
Ngân hàng hoạt động dưới sự điều hành của ban lãnh đạo là giám đốc Phùng Kỳ Vinh.
Chi nhánh bao gồm các đơn vị dưới đây:
- Trung tâm Khách hàng Cá nhân (KHCN) thuộc Ngân hàng Cá nhân do Giám
đốc trung tâm KHCN phụ trách.
19
- Trung tâm Khách hàng Doanh nghiệp (KHDN) thuộc Ngân hàng Doanh
Nghiệp do Giám đốc trung tâm KHDN phụ trách.
- Bộ phận kế toán.
- Bộ phận Hành chính.
Sơ đồ cấu trúc tổ chức của chi nhánh Maritime BankThanh Xuân
2.1.3. Khái quát về hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt
Nam chi nhánh Thanh Xuân, Hà Nội
Với 20 năm hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, Maritime Bank đang
dần khẳng định vị thế của mình trên thì trường cung ứng các dịch vụ tài chính chuyên
nghiệp đa năng, trọn gói theo tiêu chuẩn quốc tế. Kết quả hoạt động của Maritime Bank
Thanh Xuân được thể hiện qua bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh sau:
Bảng 2.1: Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh Maritime BankThanh Xuân
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2010
KHDN
vừa và
nhỏ
Trung
tâm
KHCN
Trung
tâm bán
hàng trực
tiếp
Bộ
phận
kế
toán
Bộ
phận
hành
chính
20
Nhìn vào bảng trên ta thấy, thu nhập từ hoạt động kinh doanh của Maritime Bank
chi nhánh Thanh Xuân tăng dần qua các năm, mức tăng cao nhất vào năm 2009 với
280,233 triệu đồng. Lợi nhuận sau thuế tăng liên tục qua các năm: Năm 2010 đạt 56,158
tăng 131,6 % so với năm 2009.
2.2. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG TMCP
HÀNG HẢI VIỆT NAM CHI NHÁNH THANH XUÂN - HÀ NỘI
2.2.1. Các sản phẩm huy động vốn
Trong thời gian qua, Maritime Bank Thanh Xuân đã từng bước tìm cho mình
những hướng đi mới phù hợp với sự biến động của thị trường.Maritime Bank Thanh
Xuân đã triển khai nhiều loại sản phẩm để đáp ứng tốt cho nhu cầu ngày càng phức tạp
của khác hàng. Các sản phẩm huy động vốn của chi nhánh:
gửi.
• Rút gốc linh hoạt
Ngoài tiện ích như sp TGTK CKH thông thường thì còn có lợi ích được phép rút
một phần gốc hoặc tất toán trước hạn và đảm bảo khoản tiền rút ra được tínhvới LS hấp
dẫn, phần gốc còn lại vẫn được hưởng LS ban đầu trên sổ TG.
c. Tiền gửi tiết kiệm tích lũy
Dành cho KH muốn tích tiểu thành đại để có một số tiền lớn trong tương lai.
Đến năm 2011 thì các sản phẩm như LS bậc thang theo số dư, LS bậc thang theo
thời gian, LS thả nổi và Rút gốc linh hoạt đã ko còn được triển khai. Không được rút
tiền gửi trước hạn, nếu rút thì sẽ phải chịu lãi suất không kỳ hạn.
2.2.2. Thực trạng huy động vốn tiền gửi
a. Tốc độ tăng trưởng vốn huy động
Trong thời gian qua, cùng với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên của
Ngân hàng, công tác huy động vốn đã đạt được những thành công đáng kể. Tốc độ tăng
trưởng vốn huy động của Maritime Bank Thanh Xuân Hà Nội được thể hiện qua bảng
sau:
Bảng 2.2: Biến động nguồn vốn huy động qua các năm
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Tăng - giảm
2008/2007
Tăng - giảm
khéo léo và có những tiện ích đi kèm sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Tiếp tục duy trì lượng khách hàng dân cư vốn có
Năm 2010 là năm có tỷ lệ tăng trưởng vốn không cao: tăng 158 tỷ đồng so với
năm 2009, ứng với tỷ lệ tăng là 8,01%. Nguyên nhân là do Ngân hàng chủ yếu chỉ duy
trì được lượng khách hàng vốn có nhưng lại chưa có các biện pháp mới để thu hút thêm
vốn nhàn rỗi từ khách hàng. Đây là điểm Ngân hàng cần xem xét: sau năm 2009 có
thành công lớn trong hoạt động huy động vốn thì năm 2010 đã có dấu hiệu chững lại,
kết quả tính đến cuối năm 2010 chỉ đạt 31,1% so với kết quả tăng 508 tỷ đồng của năm
2009.
Tóm lại: Vốn huy động của ngân hàng đã có sự tăng trưởng về số lượng để thoả
mãn nhu cầu tín dụng, thanh toán cũng như các hoạt động kinh doanh khác ngày càng
tăng của ngân hàng. Tuy vậy độ gia tăng chưa đều qua các năm, năm 2010 có dấu hiệu
giảm khá mạnh so với năm trước.
23
b. Quy mô và cơ cấu vốn huy động
Phân loại theo đối tượng khách hàng
Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng khách hàng của Maritime Bank Thanh Xuân
được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.3: Quy mô vốn huy động theo đối tượng khách hàng
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ
tiêu
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
24