MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với mức tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng trong những năm gần
đây, sự gia tăng các vấn đề xã hội và môi trường tại Việt Nam cũng trở thành
mối lo ngại lớn: khoảng 15 triệu người sống dưới mức nghèo đói, hơn 180
nghìn người nhiễm HIV, 5 triệu người khuyết tật, 3 triệu trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn… Bên cạnh đó là sự khiếm khuyết trong hoạt động thị
trường, sự hạn chế trong việc cung cấp các dịch vụ công của nhà nước và sự
hạn chế về nguồn lực tài chính bền vững cũng như nhân sự điều hành chuyên
nghiệp của các tổ chức xã hội truyền thống. Trong bối cảnh ấy, Doanh
nghiệp xã hội là một lời giải phù hợp cho bài toán khó về giải quyết những
vấn đề xã hội, môi trường hướng tới sự phát triển ổn định và bền vững. Có
thể nói Doanh nghiệp xã hội chứa đựng sự linh hoạt, sáng tạo và phù hợp với
cộng đồng, mang đến sự đa dạng nguồn vốn, khả năng độc lập về doanh thu,
đáp ứng nhu cầu của xã hội về kinh doanh có đạo đức và quan trọng hơn là
cung cấp những dịch vụ, hoạt động cần thiết cho xã hội nhưng ít người dám
làm. Không những đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã
hội nó còn giúp giải quyết nhiều vấn đề xã hội, môi trường, góp phần hướng
tới sự phát triển ổn định và bền vững. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay loại hình
doanh nghiệp này chưa được nhiều người biết tới và ít nhận được sự đầu tư,
phát triển từ nhà nước và các tổ chức khác. Nhận thức được điều đó,và đồng
thời có sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn- Th.s Nguyễn Hương Thảo tôi
quyết định làm đề tài nghiên cứu : “ Doanh nghiệp xã hội – lời giải cho bài
toán khó về giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, hướng tới sự phát triển
ổn định và bền vững “. Bài viết gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp xã hội
Chương 2:Thực trạng các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam
1
Chương 3: Một số kiến nghị để phát triển mô hình doanh nghiệp xã hội
ở Việt Nam
Nhằm phần nào giới thiệu cho mọi người về loại hình doanh nghiệp khá
Đưa mục tiêu xã hội và môi trường vào hệ giá trị cốt lõi và vào sứ mệnh
của doanh nghiệp
Cũng giống như các doanh nghiệp – thuộc khu vực thứ hai, họ xây dựng
các tổ chức, doanh nghiệp để sản xuất các sản phẩm hay dịch vụ vì lợi nhuận,
các doanh nghiệp xã hội cũng được tạo lập để hiện thực hóa các ý tưởng, tạo
ra những sản phẩm hay dịch vụ nhằm giải quyết các vấn đề xã hội hay môi
trường. Hiện tại không có định nghĩa thống nhất về doanh nghiệp xã hội mà
khái niệm này tùy thuộc vào điều kiện ở từng địa phương và tùy vào từng góc
độ nhìn nhận về doanh nghiệp xã hội. Tuy vậy, vẫ có một số cách hiểu phổ
biến nhất hiện nay về doanh nghiệp xã hội bao gồm:
“Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp lấy lợi ích xã hội làm mục đích
chính. Giá trị thặng dư tạo ra được chủ yếu để tái đầu tư và thực hiện các mục
tiêu xã hội hoặc môi trường, thay vì để tối đa hóa lợi nhuận của các cổ đông
và chủ sở hữu của doanh nghiệp”
(Bộ Kinh doanh, Doanh nghiệp và Cải cách Thể chế Anh)
“Doanh nghiệp xã hội là những tổ chức thành lập theo nhiều mô hình
khác nhau ở nhiều quốc gia khác nhau, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân
và theo đuổi cả mục tiêu xã hội lẫn kinh tế”
(Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế – OECD)
4
Doanh nghiệp xã hội có thể xuất phát từ khu vực
này
Khu vực kinh tế thứ 3
Tổ chức từ
thiện, tình
nguyện
Dịch vụ
công
Doanh
nghiệp xã
doanh nghiệp xã hội:
Doanh nghiệp xã hội là các hoạt động kinh doanh để giải quyết các vấn
đề xã hội. Lợi nhuận chủ yếu để phục vụ cộng đồng, không tối đa hóa cho chủ
đầu tư. VD: Opendream (Thái Lan), Grameen Bank (Bangladesh), LifeArt
(Vietnam)
5
Doanh nghiệp xã hội chỉ các hoạt động mà doanh nhân xã hội thực hiện
để đạt mục tiêu xã hội và/hay môi trường nhất định. Do đó, doanh nghiệp xã
hội có thể tồn tại dưới nhiều hình thức như tổ chức xã hội phi lợi nhuận,
doanh nghiệp hay tổ chức hỗn hợp.
Theo nghĩa rộng hơn, doanh nghiệp xã hội bao gồm cả các tổ chức phi
lợi nhuận đã phát huy yếu tố doanh nhân và có định hướng thị trường, và
doanh nghiệp có định hướng xã hội rõ ràng.
Ví dụ Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam:
CECEM Tủ sách dòng
họ
KOTO LifeArt, ToHe,
Thiên Tâm
Mai handicraft,
6
T/c PLN có định
hướng thị
trường (4)
DN có định
hướng xã hội
(5)
DNgXH (1)
T/c PLN
(2)
DN
thể là doanh nhân, nhân viên xã hội, nhà hoạt động từ thiện điều đó tùy thuộc
mô hình hoạt động của họ. Tuy nhiên, doanh nhân xã hội khác với những
người hoạt động xã hội, từ thiện kiểu truyền thống ở chỗ họ sở hữu những
phẩm chất, kỹ năng như một doanh nhân thực thụ. Họ nhạy bén trong việc
phát hiện, sử dụng các nguồn lực tiềm năng, đam mê, khát vọng tạo ra sự thay
đổi, trực tiếp tạo lập, điều hành các tổ chức/ doanh nghiệp, dám chấp nhận
thách thức. Đặc biệt doanh nhân xã hội là người có đầu óc sáng tạo khi luôn
đưa ra cách thức mới, sản phẩm mới để giải quyết vấn đề, Họ không ngừng
7
mở rộng hoạt động để mang lại những thay đổi cho cộng đồng.
1.2. Bản chất của doanh nghiệp xã hội và doanh nhân xã hội
Doanh nghiệp xã hội (có lợi nhuận và không có lợi nhuận) giống với các
doanh nghiệp khác vì đều tổ chức và quản lý dưới hình thức doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khác với doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp xã hội được
thành lập để giải quyết các vấn đề tồn tại của xã hội (như đói nghèo, nước
sạch, ô nhiễm môi trường, bảo vệ trẻ em và các nhóm yếu thế, v.v). Doanh
nghiệp xã hội đo thành công của mình thông qua những thay đổi/tác động xã
hội mà nó mang lại. Mục tiêu lợi nhuận không phải là mục tiêu hàng đầu và
cơ bản của doanh nghiệp xã hội Nói cách khác, doanh nghiệp xã hội hoạt
động vì mục tiêu trên cả lợi nhuận.
Những doanh nghiệp đóng góp một phần lợi nhuận của mình vào hoạt
động xã hội và từ thiện, cũng như những doanh nghiệp đạt được cả 3 mục
tiêu : lợi nhuận, xã hội và môi trường rất cần được tuyên truyền và phát triển.
Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp này không đặt mục tiêu giải quyết vấn đề xã
hội hay môi trường là mục tiêu chủ đạo và xuyên suốt của doanh nghiệp thì
doanh nghiệp này không được gọi là doanh nghiệp xã hội.
Rất nhiều doanh nghiệp tự xem mình là thực hiện mục tiêu xã hội nhưng
sự cam kết này dựa trên điều kiện rằng các mục tiêu xã hội đó phải là công cụ
(hoặc một phần công cụ) để tối đa hóa giá trị về mặt tài chính (hay lợi nhuận
lâu dài) của doanh nghiệp (và các chủ đầu tư). Đó không phải là doanh nghiệp
hành chính
Hạn chế việc phân phối lợi nhuận
cho người sở hữu tài chính.
Lợi nhuận dùng để tái đầu tư cho các
mục tiêu xã hội
Đánh giá về hiệu quả tác động rõ
ràng
Mục tiêu mang lại lợi ích cho cộng
đồng được thể hiện rõ và nhất quán
9
Có câu hỏi đặt ra là liệu những người hoạt động từ thiện, các nhà hoạt
động xã hội có phải là doanh nhân xã hội không? Thực tế, một số người trong
đó là là doanh nhân xã hội (DNhXH). Tuy nhiên, việc hoạt động trong lĩnh
vực từ thiện hay là những nhà hoạt động xã hội không tự làm cho những
người này trở thành doanh nhân xã hội. Cũng như trong kinh doanh, không
phải ai cũng là doanh nhân. Điều này không có nghĩa là họ ít quan trọng hơn
hay đóng góp ít hơn so với doanh nhân xã hội.
Chúng ta có thể có một số đặc điểm để phân biệt doanh nhân xã hội với
những nhà hoạt động từ thiện hay xã hội khác :
Tính sáng tạo: doanh nhân xã hội thường đi đầu trong việc phát hiện ra
những sản phẩm mới, cách thức mới để giải quyết được nguyên nhân gốc rễ
của vấn đề xã hội hay môi trường tại cộng đồng cụ thể thay vì việc đơn thuần
cung cấp các dịch vụ xã hội có sẵn cho một cộng đồng hạn chế.
Kết quả tác động: Doanh nhân xã hội thường không dừng lại ở mô hình
nhỏ ban đầu mà đi tới cùng để phát triển mô hình, tạo ra thị trường rộng lớn
cho các ý tưởng của mình.
Hành động trực tiếp: Doanh nhân xã hội cũng là người trực tiếp tổ chức
và hành động để giải quyết vấn đề xã hội. Họ không bao giờ lùi bước, dám
chấp nhận thách thức và mạo hiểm để đạt mục tiêu đề ra.
1.3. Các tiêu chí đánh giá về một doanh nghiệp xã hội
Tuy nhiên ở Việt Nam thì việc đánh giá doanh nghiệp xã hội vẫn chưa
được cụ thể và rõ nét vì đây là loại hình khá mới mẻ, chưa được quan tâm
nhiều và chưa có những tiêu chí đánh giá một cách cụ thể.
1.4. Các nhân tố tác động tới doanh nghiệp xã hội
11
Chung tay vì cộng đồng, giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, lợi
nhuận thu được không dành chủ yếu cho chủ sở hữu mà phần lớn lợi nhuận
thu được dành cho các hoạt động xã hội, tái hoạt động phục vụ lợi ích của
cộng đồng, đó là mục tiêu hoạt động chính của doanh nghiệp xã hội, tuy
nhiên, trong nền kinh tế thị trường cùng với các loại hình doanh nghiệp khác,
doanh nghiệp xã hội cũng chịu nhiều tác động của nhiều yếu tố.
Bao gồm các yếu tố bên ngoài là môi trường vĩ mô : môi trường, điều
kiện tự nhiên, nền kinh tế , văn hóa xã hội, chính trị, pháp luật Và môi
trường vi mô : Nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, đối thủ tiềm ẩn,
sản phẩm thay thế và thị trường lao động. Doanh nghiệp xã hội là một loại
hình khá đặc biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác, nó có 1 thị trường
đặc biết, rất ít đối thủ cạnh tranh (cạnh tranh về mặt xã hội), đối thủ tiềm ẩn ít
gây ảnh hưởng. Các yếu tố bên trong như nguồn lực về con người, tài chính,
kỹ thuật, công nghệ và văn hóa doanh nghiệp…quyết định rất nhiều thành
công của hoạt động doanh nghiệp.Đặc biệt là sự ảnh hưởng của doanh nhân
xã hội, những người quyết định cách thức hoạt động, thành công của doanh
nghiệp ở hiện tại và trong tương lai.
1.5. Lợi ích mà các doanh nghiệp xã hội mang lại
Doanh nghiệp xã hội đóng vai trò là động lực quan trọng cho việc đưa ra
các giải pháp sáng tạo , hiệu quả và bền vững cho xã hội.
+ Lợi ích cho xã hội :
Như chúng ta biết, các tổ chức tình nguyện thì phải tìm kiếm các nguồn
tài trợ mới nhằm vượt qua thời kỳ suy thoái và duy trì các chương trình của
mình để có thể cung cấp dịch vụ và mang lại cơ hội cho nhưng người có hoàn
cảnh khó khăn, còn các doanh nghiệp xã hội sử dụng phương pháp tiếp cận
13
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, phong trào Doanh nghiệp xã hội đã phát
triển mạnh mẽ trong suốt 20 năm qua đặc biệt ở các nước như Anh, Mỹ, Phần
Lan, Canada, Pháp, Ireland, Brazil, India, Thái Lan, Hồng Kong, Singapore,
Indonesia…Do sự đa dạng về mô hình hoạt động ở các bối cảnh khác nhau
trên thế giới, đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung thống nhất toàn cầu
nào về lĩnh vực này. Mặc dù vậy, doanh nghiệp xã hội được thừa nhận là một
trào lưu mới đầy triển vọng qua sự hưởng ứng tích cực và hỗ trợ phát triển từ
các chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp, các nhà đầu tư và cơ quan tài trợ
phát triển quốc tế. Một vài ví dụ về bức tranh hoạt động cụ thể ở những khu
vực điển hình sẽ minh chứng cho nhận định về sự phát triển và triển vọng của
phong trào này.
1.6.1. Doanh nghiệp xã hội tại Anh
Hơn 60,000 doanh nghiệp xã hội với tổng doanh thu 27 tỉ bảng Anh
3.3% lực lượng lao động làm việc trong các Doanh nghiệp xã hội
1.9% dân số đang nỗ lực thành lập Doanh nghiệp xã hội
Các dự án Khởi động tập trung nhiều ở các cộng đồng dân tộc thiểu số
Doanh nghiệp xã hội Anh làm gì?
- Cải thiện việc cung cấp dịch vụ công tại các địa phương: như cung cấp
dịch vụ vận chuyển, tái chế rác thải, vui chơi giải trí, chăm sóc trẻ em.
- Giải quyết các khiếm khuyết của thị trường qua việc đáp ứng nhu cầu ở
những thị trường mà cả khu vực công lẫn khu vực tư nhân ko đáp ứng.
- Tăng cường quyền năng của cộng đồng qua việc chuyển tài sản công
thành những tài sản do cộng đồng sở hữu.
- Tăng cường quyền năng của qua hoạt động xây dựng lớp người tiêu
dùng thông thái có trách nhiệm.
14
- Hỗ trợ khu vực tình nguyện tăng cường tính bền vững qua nỗ lực tạo ra
một phương hướng mới để tăng cường tính độc lập thông qua hoạt động
doanh nghiệp.
sau:
+ Xây dựng mạng lưới, chia sẻ kiến thức và quan hệ đối tác
+ Nâng cao năng lực
+ Tạo điều kiện tiếp cận thị trường
+ Thúc đẩy nguồn vốn để nâng cao tác động xã hội
Vậy tại sao cần phát triển loại hình doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam?
+ Nó giúp cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội : “Doanh
nghiệp xã hội” là “một cách tiếp cận sáng tạo, có định hướng thị trường để
giải quyết những nguyên nhân cơ bản của những vấn đề xã hội và môi trường
gay gắt nhất. Nó tạo ra những thay đổi có hệ thống và đưa ra những giải pháp
bền vững”. (Skoll Centre for Social Entreprenuership, 2010). Sử dụng các tiếp
cận này, các doanh nhân xã hội là những người sử dụng các kỹ năng, phẩm
chất như của một doanh nhân để tìm kiếm các giải pháp có định hướng thị
trường nhằm giải quyết tận gốc rễ các vấn đề xã hội và môi trường cấp bách .
+ Lời giải cho các vấn đề xã hội : Cùng với mức tăng trưởng kinh tế khá
ấn tượng trong những năm gần đây, sự gia tăng các vấn đề xã hội và môi
16
trường tại Việt Nam cũng trở thành mối lo ngại lớn: khoảng 15 triệu người
sống dưới mức nghèo đói, hơn 180 nghìn người nhiễm HIV, 5 triệu người
khuyết tật, 3 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn… Bên cạnh đó là sự
khiếm khuyết trong hoạt động thị trường, sự hạn chế trong việc cung cấp các
dịch vụ công của nhà nước và sự hạn chế về nguồn lực tài chính bền vững
cũng như nhân sự điều hành chuyên nghiệp của các tổ chức xã hội truyền
thống.Trong bối cảnh ấy, Doanh nghiệp xã hội là một lời giải phù hợp cho
bài toán khó về giải quyết những vấn đề xã hội, môi trường hướng tới sự phát
triển ổn định và bền vững. Có thể nói Doanh nghiệp xã hội chứa đựng sự linh
hoạt, sáng tạo và phù hợp với cộng đồng, mang đến sự đa dạng nguồn vốn,
khả năng độc lập về doanh thu, đáp ứng nhu cầu của xã hội về kinh doanh có
đạo đức và quan trọng hơn là cung cấp những dịch vụ, hoạt động cần thiết cho
xã hội nhưng ít người dám làm.
doanh nghiệp và hình thành nên các tổ chức doanh nghiệp xã hội của riêng
mình, không chỉ dừng lại làm hoạt động về trách nhiệm xã hội (CSR) truyền
thống. Các hình thức phổ biến hiện nay gồm:
Thương mại công bằng (VD: Mai Vietnam Handicraft- VN, Divince
Chocolate _ UK)
Các doanh nghiệp hướng tới thị trường đáy (VD: Danon-Grameen,
Adidas-Grameen…)
Các doanh nghiệp định hướng giải quyết các vấn đề liên quan đến xã hội
và môi trường (Các sản phẩm tiết kiệm điện của GE đạt doanh thu 17 tỉ USD
năm 2008 và dự kiến 25 tỉ USD năm 2010. TNT – cung cấp dịch vụ logistics
để phân phát cứu trợ khẩn cấp …)
2.1.2. Một số doanh nghiệp tiêu biểu cho các hoạt động xã hội và môi
trường
+ Doanh nghiệp hoạt động nhằm tạo việc làm và điều kiện hòa nhập
cộng đồng của các nhóm yếu thế:
Trung tâm tư vấn phát hiện sớm, can thiệp sớm trẻ khuyết tật trí tuệ, gọi
tắt là Trung tâm Sao Mai, được sáng lập bởi bác sĩ Đỗ Thúy Lan là một tổ
chức xã hội phi lợi nhuận trực thuộc Hội cứu trợ trẻ em tàn tật Việt Nam.
Hoạt động chủ yếu của trung tâm là cung cấp dịch vụ tư vấn phát hiện sớm,
can thiệp sớm và chăm sóc trẻ khuyết tật trí tuệ (KTTT) và trẻ tự kỷ thông
qua các phương pháp khoa học giúp cho trẻ KTTT có thể phát huy tối đa khả
năng của bản thân để hòa nhập xã hội. Trung tâm Sao Mai nhận được rất
nhiều hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế để xây dựng cơ sở vật chất phù hợp, nâng
cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa hoạt động để phục vụ cho trẻ KTTT.
Đồng thời, Sao Mai cũng huy động được nguồn kinh phí đóng góp của các
19
phụ huynh của trẻ cho dịch vụ của trung tâm, nhằm chi trả các chi phí vận
hành. Do tính chất và đặc thù đối tượng hoạt động là trẻ KTTT, mô hình tổ
chức phi lợi nhuận là mô hình phù hợp với Sao Mai để thu hút được các hỗ
trợ phù hợp, nhưng cũng đảm bảo vận hành trung tâm tự vững về tài chính.
nhân xã hội là Lê Minh Công và Ngô Minh Uy xây dựng, mô hình ứng dụng
tâm lý học chuyên sâu vào việc đánh giá, can thiệp trị liệu cho thanh thiếu
niên nghiện Internet, đồng thời với việc xây dựng các chương trình huấn
luyện sử dụng Internet hiệu quả. Trong dài hạn, dự án hướng tới thành lập
một Trung tâm hỗ trợ thanh thiếu niên nghiện Internet chuyên biệt đầu tiên ở
Việt Nam.Mô hình Trung tâm sẽ được xây dựng theo hướng:
* Xây dựng các chương trình huấn luyện/ đào tạo cho cha mẹ, các em
học sinh nhằm nâng cao nhận thức và phòng tránh tình trạng nghiện Internet ở
các em.
* Phát triển mô hình cơ sở đánh giá và can thiệp với thanh thiếu niên
nghiện Internet chuyên biệt. Mô hình của cơ sở này theo hướng đa ngành, đa
trị liệu (bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý trị liệu, công tác xã hội, ), phù hợp với
một số mô hình tiên tiến.
Trong 12 tháng thử nghiệm, Minh Công ( Phó trưởng khoa Tâm lý lâm
sàng, Bệnh viện Tâm thần trung ương 2, Thư ký Hội khoa học tâm lý – giáo
dục Đồng Nai) & Minh Uy ( Phó giám đốc phụ trách chuyên môn của trung
tâm tâm lý hịc ứng dụng Sông Phổ) sẽ tập trung vào xây dựng, hoàn thiện và
triển khai thử nghiệm mô hình, dịch vụ; kết hợp với truyền thông nâng cao
nhận thức cộng đồng về vấn đề này tại Việt Nam.
+ Doanh nghiệp hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề chưa được nhà
nước đầu tư rộng rãi :
21
Ô nhiễm từ các cơ sở tái chế ắc quy tự phát là một trong mười vấn đề
môi trường tồi tệ nhất trên thế giới. Ở Việt Nam, ắc quy chì được được tái chế
trong các lò nấu kim loại thủ công, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, ảnh
hưởng đến sức khỏe của người lao động và cộng đồng. Với 28 triệu xe máy
và 1,4 triệu ô tô, xe tải được đăng ký và cứ khoảng 1-3 năm lại phải thay ắc
quy 1 lần, tiềm năng cho chì tái chế là rất lớn. Tuy nhiên, chì tái chế thủ công
ở Việt Nam chất lượng rất thấp. Các nhà sản xuất pin, ắc quy ở Việt Nam phải
sử dụng 100% chì nhập khẩu, trị giá hàng triệu đô la hàng năm.Là một doanh
được dẫn dắt bởi các cá nhân có uy tín, có tầm nhìn, có trình độ cao, nhiệt
huyết, có đầu óc và có tâm.Ngoài những nguồn tài chính thông thường, các
doanh nghiệp xã hội với đặc tính xã hội nên còn được nhận các nguồn tài trợ
ưu đãi
Với những thực trạng nêu trên, phong trào Doanh nghiệp xã hội tại Việt
Nam được nhận định sẽ có sự lan tỏa và lớn mạnh trong tương lại gần từ
nhiều hướng khác nhau.Trước hết, do nguồn tài trợ không hoàn lại từ các nhà
đầu tư đang có xu hướng giảm dần rõ rệt, sẽ có một sự chuyển đổi mạnh mẽ
từ khối các tổ chức xã hội phi lợi nhuận truyền thống sang mô hình Doanh
nghiệp xã hội. Những tổ chức xã hội có định hướng thị trường rõ ràng và phát
huy yếu tố doanh nhân trong chiến lược phát triển của mình sẽ là những người
tiên phong trong sự thay đổi này. Họ sẽ sử dụng khả năng gây quĩ và thu hút
vốn cũng như kinh nghiệm quản lý hoạt động phát triển và công tác xã hội
của mình một cách hiệu quả và bền vững. Nhiều phương thức chuyển đổi mô
hình đã thể hiện sự thành công. Cụ thể là hình thành thêm các nhánh kinh
doanh tạo thu nhập để duy trì hoạt động cơ bản và tự tạo nguồn lợi nhuận chủ
động phục vụ mục tiêu xã hội ban đầu của mình. Nhánh kinh doanh này vẫn
23
đảm bảo 3 giá trị nền tảng về Mục tiêu xã hội – Sở hữu tập thể - định hướng
doanh nghiệp (VD: Oxfam, Nghị Lực Sống). Có những tổ chức chỉ cần
chuyển đổi cơ cấu tổ chức và chiến lược hoạt động của mình để tận dụng và
phát huy tối đa lợi thế của tổ chức để tạo thêm nguồn thu như CECEM, Green
Net Cooprative…
Với văn hóa nhân văn và tài năng của thế hệ trẻ Việt Nam, sẽ có một trào
lưu mới của sự hình thành các doanh nghiệp xã hội mới được lãnh đạo bởi lớp
Doanh nhân xã hội trẻ có tính tự chủ cao. Ngay từ đầu các Doanh nghiệp xã
hội này đã có mục tiêu xã hội rất rõ ràng và là chủ đạo xuyên suốt trong các
hoạt động của tổ chức. Tính tự chủ cao của họ thể hiện qua định hướng thị
trường rõ nét và các sản phẩm dịch vụ mang tính cạnh tranh cao. Ví dụ cụ thể
của xu hướng này chính là Lifeart Ltd.Co - http://lifeartvietnam.org/; Tò He -