ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BỘ MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:
ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN
NỀN VĂN HÓA VÀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
~~~~~*****~~~~~
Hà Nội, 2012
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
CHƯƠNG VII
ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN
NỀN VĂN HÓA VÀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
I. Quá trình nhận thức và nội dung đường lối xây dựng, phát triển nền văn
hóa.
1. Văn hóa là gì?
Theo thống kê thì cho đến nay có hơn 400 định nghĩa về văn hóa. Văn hóa không
đơn giản vì mỗi nhà nghiên cứu đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục
đích riêng phù hợp với vấn đề mình nghiên cứu.
Theo UNESCO thì: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những
đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người
trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức
chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, phát luật, khoa học, tôn
giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các
phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.
Như vậy thì văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người sang tạo ra trên
nền thế giới tự nhiên.
Theo nghĩa rộng: văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần
do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sang tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước
Theo nghĩa hẹp: văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, văn hóa là hệ các giá trị
truyền thống lối sống, văn hóa là năng lực sáng tạo của một dân tộc,văn hóa là bản sắc
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
- Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội Đồng chính phủ, chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nêu lên 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà,
trong đó có 2 nhiệm vụ cấp bách thuộc về văn hoá.
+ Một là, cùng với diệt giặc đói phải diệt giặc dốt.
+ Hai là, phải giáo dục lại tinh thần nhân dân.
Đây là hai nhiệm vụ hết sức khiêm tốn nhưng lại vĩ đại ở tầm nhìn, độ chính xác và tính
thời sự của nó.
- Cuộc vận động thực hiện đời sống văn hoá mới. Đầu năm 1946 Ban Trung ương
vận động đời sống mới được thành lập với sự tham gia của nhiều nhân vật có uy tín như
Trần Huy Liệu, Dương Đức Hiền, Vũ Đình Hoè , mà tổng thư ký là nhà Văn Nguyễn
Huy Tưởng. Đến tháng 3/1947 Hồ Chí Minh viết tài liệu đời sống mới giải thích rất dễ
hiểu những vấn đề thiết thực trong chủ trương văn hoá quan trọng này.
- Đường lối văn hoá kháng chiến dần hình thành trong chỉ thị "Kháng chiến kiến
quốc" ra ngày 25/11/1945 của Ban thường vụ trung ương Đảng, trong bức thư về "Nhiệm
vụ văn hoá Việt Nam trong công cuộc cứu nước và xây dựng nước hiện nay" của đồng
chí Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 16/11/1946 và tại báo cáo "Chủ nghĩa
Mác và văn hoá Việt Nam" trình bày tại Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ hai tháng
7/1948.
• Đường lối đó gồm các nội dung:
+ Xác định mối quan hệ giữa văn hoá và cách mạng giải phóng dân tộc, cổ động
văn hoá cứu quốc.
+ Xây dựng nền văn hoá dân chủ mới Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học, đại
chúng mà khẩu hiệu thiết thực lúc này là Dân tộc, Dân chủ.
+ Tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở đại học, trung học, cải cách việc học theo tinh
thần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ.
+ Giáo dục lại nhân dân, cổ động thực hành đời sống mới.
Nhóm 12 – ĐL1205 4
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
+ Phát triển cái hay trong văn hoá dân tộc, đồng thời bài trừ cái xấu xa hủ bại,
thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động
sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người".
Đại hội VI cũng đề cao vai trò của văn hoá trong đổi mới tư duy, thống nhất về tư
tưởng, dứt bỏ cơ chế cũ đã không còn phù hợp, thiết lập cơ chế mới; khẳng định đồng
thời với xây dựng kinh tế, phải coi trọng các vấn đề văn hoá, tạo ra môi trường văn hoá
thích hợp cho sự phát triển.
- Cương lĩnh năm 1991 lần đầu tiên đưa ra quan niệm nền văn hoá Việt Nam có
đặc trưng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
+ Cương lĩnh chủ trương xây dựng nền văn hoá mới, tạo ra đời sống tinh thần cao
đẹp, phong phú, đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ, khẳng định và biểu
dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân, cái thiện, cái mỹ theo quan điểm
tiến bộ, phê phán những cái lỗi thời thấp kém.
+ Cương lĩnh khẳng định tiếp tục tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh
vực tư tưởng và văn hoá, làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền
thống văn hoá tốt đẹp của tất cả cấc dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá
nhân loại. Chống tư tưởng, văn hoá phản tiến bộ, trái với truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.
+ Cương lĩnh xác định giáo dục và đào toạ, khoa học và công nghệ là quốc sách
hàng đầu.
- Đại hội VII đến đại hội X và nhiều Nghị quyết Trung ương tiếp theo đã xác định
văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Trong đó:
+ Đại hội VII (6/1991) và Đại hội VIII (6/1996) của Đảng khẳng định: khoa học
và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và
Nhóm 12 – ĐL1205 6
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
bảo vệ tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên
trình độ tiên tiến của thế giới. Do đó phải coi sự nghiệp giáo dục - đào tạo cùng với khoa
học và công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực
tiếp của sự phát triển xã hội.
"Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá".
• Tăng cường xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách về văn hoá.
• Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hoá.
• Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hoá.
+ Đến HNTƯ 9 khoá IX (1/2004) xác định thêm "phát triển văn hoá đồng bộ với
phát triển kinh tế".
+ HNTƯ 10 khoá IX (7/2004) đặt vấn đề đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát
triển kinh tế là trung tâm; xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt với nhiệm vụ không
ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng - tinh thần xã hội. Đồng thời cũng nhận định: cơ chế
thị trường đã làm thay đổi mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, thúc đẩy dân chủ đời
sống xã hội, đa dạng hoá thị hiếu và phương thức sinh hoạt văn hoá. Do đó phạm vi, vai
trò của dân chủ hoá - xã hội hoá văn hoá và của cá nhân ngày càng tăng lên và mở rộng là
những thách thức mới đối với sự lãnh đạo và quản lý công tác văn hoá của Đảng và Nhà
nước ta.
• Hạn chế và nguyên nhân
- Công tác tư tưởng thiếu sắc bén, thiếu tính chiến đấu.
- Việc xây dựng thể chế văn hóa còn chậm
Nhóm 12 – ĐL1205 8
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
- Sự suy thoái về đạo đức, lối sống có nhiều chiều hướng phát triển
- Đời sống văn hóa nghệ thuật còn nhiều mặt bất cập
- Giai đoạn 1955-1986 bị tư duy bởi chính trị
• Mục tiêu:
- Cách mạng tư tưởng văn hóa bị quy định bởi cuộc cách mạng quan hệ sản xuấtmà tư
tưởng chỉ đạo triệt để là xóa bỏ tư hữu xóa bỏ bóc lột, đưa quan hệ xã hội chủ nghĩa đi
trước một bước.
- Đấu tranh cùng cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, kìm hãm sự phát triển văn hóa và
khả năng sáng tạo của con người.
2. Văn hóa thời kì đổi mới
a. Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hóa
Khái niệm văn hoá là nền tảng tinh thần có từ NQTW 4 Ngày 14/1/1993 (khoá
VII) Đây là lần đầu tiên, Đảng ta ra một NQ riêng về văn hoá. Tên NQ: “Về một số
nhiệm vụ văn hoá văn nghệ những năm trước mắt”, đến văn kiện ĐH VIII và NQ TW5
(khoá VIII) nhắc lại. Đây là một quan điểm quan trọng của Đảng ta về văn hoá, nằm
trong quan điểm về đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy. Quan điểm này chỉ rõ vị trí, vai
trò đặc biệt quan trọng của văn hoá. Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hoá thể
hiện sức sống, sức sáng tạo phát triển và bản lĩnh của một dân tộc. Văn hoá có mối quan
hệ thống nhất biện chứng với kinh tế, chính trị. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm
mục tiêu cuối cùng là văn hoá. Trong mỗi chính sách kinh tế - xã hội luôn bao hàm nội
dung và mục tiêu văn hoá. Văn hoá có khả năng khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con
người - nguồn nhân lực quyết định sự phát triển xã hội.
Trong xã hội có 2 nền tảng: nền tảng vật chất (kinh tế) và nền tảng tinh thần (văn
hoá). Hai nền tảng này bổ sung cho nhau, cùng phát triển. Trong mỗi cá nhân con người,
có đời sống vật chất chưa đủ (mới chỉ đáp ứng được phần “con” (ăn, mặc, ở đi lại và
những nhu cầu sinh học) mà phải có đời sống tinh thần. Không có nền tảng vật chất, con
người không thể tồn tại như một sinh thể, nhưng không có nền tảng tinh thần thì con
người cũng không thể tồn tại như một nhân cách văn hoá. Có thể ví như: vật chất quyết
định sự tồn tại của phần “con”, tinh thần quyết định sự tồn tại của phần “người”. Trong
một xã hội cũng vậy, có nền tảng vật chất chưa đủ, phải có nền tảng tinh thần mới có thể
trở thành cộng đồng được. Nền tảng tinh thần có sức mạnh ghê gớm (sức mạnh của niềm
Nhóm 12 – ĐL1205 10
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
tin tôn giáo - thánh chiến, tử vì đạo của cả một cộng đồng). Đó cũng chính là hệ giá trị, là
hòn đá tảng của văn hoá
Con người vừa là chủ thể của sự sáng tạo văn hóa vừa là sản phẩm của văn hóa.
Trong quá trình vận động và phát triển, các quốc gia đều xây dựng và phát triển các giá
trị văn hóa của dân tộc mình, bảo lưu và truyền đạt cho các thế hệ tiếp nối, tạo thành một
dòng chảy liên tục của lịch sử văn hóa dân tộc. Các giá trị văn hóa này được kết tinh ở
truyền thống văn hóa dân tộc và được biểu hiện sinh động ở các giá trị văn hoá vật thể,
phi vật thể cùng phương thức ứng xử của con người trong hoạt động thực tiễn. Toàn bộ
giá trị và chuẩn mực xã hội, bằng văn hoá. Sự điều tiết đó phải hướng tới mục đích nâng
cao chất lượng cuộc sống, vì hạnh phúc của con người: nối dài cuộc sống, an sinh xã hội,
điều tiết sự công bằng XH.
- Văn hóa là một mục tiêu của phát triển
Tại sao nói văn hoá là động lực của sự phát triển? Trước hết phải dựa vào chức
năng của văn hoá: Chức năng nhận thức (tính hiểu biết); chức năng điều tiết (điều chỉnh)
mối quan hệ xã hội và chức năng động. Nói văn hoá là động lực của sự phát triển phải nói
đến vai trò của văn hoá trong sự phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội: Phát triển phải
mang tính đồng bộ, hệ thống biểu hiện bằng chất lượng sống. Phải phát triển hài hòa giữa
kinh tế và văn hoá, giữa GDP và HDI. Chìa khoá của sự phát triển tập trung ở một nhân
tố sau :
- Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên.
- Nguồn vốn.
- Nguồn KHCN.
- Nguồn lực con người.
Trong đó, nguồn lực con người có vai trò quyết định, đây là chìa khoá của mọi
chìa khoá. Con người tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất tạo ra sản phẩm xã hội. Vì vậy
cùng với quá trình phát triển phải hiện đại hoá dân tộc, trước hết cần phải hiện đại hoá
nguồn lực con người. Đầu tư vào giáo dục đào tạo phải được coi là đầu tư cơ bản để đi tắt
đón đầu trong quá trình phát riển. Con người phải được phát triển toàn diện về trí lực và
Nhóm 12 – ĐL1205 12
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
thể lực, tư tưởng, lý tưởng, đạo đức, lối sống, đủ điều kiện để bước vào thời đại CNH -
HĐH. Văn hoá phải làm bà đỡ để cho sự ra đời của nền kinh tế tiên tiến văn minh thông
qua việc hoàn thành hệ thống pháp lý và đạo lý xã hội, chống lại những tiêu cực phản giá
trị, phản văn hoá do nền kinh tế thị trường dã man tạo ra. Trong việc phát triển nguồn lực
khoa học công nghệ, không chỉ là quá trình phát triển KHKT công nghệ mà cái chính là
quá trình chuyển đổi tư duy của cả một cộng đồng dân tộc, nâng cao tầm văn hoá và trình
độ văn hoá của dân tộc, là quá trình làm thay đổi lối sống, nếp sống của xã hội cho phù
hợp với sự phát triển của thời đại công nghiệp.
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi con người phải có trình độ ngày càng cao: trình độ nhận
thức, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ thuật. Thời đại CNH – HĐH đòi hỏi phải
nắm chắc KHKT tiên tiến nhất, vấn đề ngoại ngữ, vi tính, tin học v.v…thì mới có thể hòa
nhập với thế giới phát triển được. Bên cạnh trình độ nhận thức, trình độ KHKT để phát
triển kinh tế, con người xã hội hiện đại cũng phải có văn hoá: những hiểu biết về văn hoá
nghệ thuật (để sáng tạo và hưởng thụ – nếu không được đào tạo cơ bản khó mà hưởng thụ
được các tác phẩm VHNT), có mối quan hệ xã hội tốt đẹp dựa trên nền tảng của chuẩn
mực xã hội.
• Hai là: xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Tiên tiến: là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tuởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa Mác Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người.
Bản sắc dân tộc: bao gồm những giá trị truyền thống bền vững của cộng đồng Việt
Nam được vun đắp qua lịch sử hang ngàn năm dựng nước và giữ nước.
Trước hết, chúng ta cần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về đường lối xây dựng và
phát triển một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Nhóm 12 – ĐL1205 14
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
Về cơ sở lý luận, chúng ta thấy rằng văn hóa là hoạt động tinh thần, thuộc về ý
thức của con người. Vì vậy sự phát triển của văn hóa chịu sự quy định của cơ sở kinh tế
bởi theo chủ nghĩa Mác Lênin thì cơ sở hạ tầng (kinh tế) quyết định kiến trúc thượng tầng
– mà văn hóa là một lĩnh vực thuộc về kiến trúc thượng tầng. Tách rời khỏi cơ sở kinh tế
sẽ không hiểu được nội dung, bản chất của văn hóa. Muốn phát triển văn hóa phải phát
triển kinh tế vì kinh tế là nền tảng sự phát triển, là cơ sở vật chất của xã hội và vì vậy nó
cũng là tiền đề để phát triển văn hóa. Sự phát triển kinh tế tạo nên cơ sở vật chất - kỹ
thuật.
Văn hóa - với tư cách là hoạt động tinh thần mang tính sáng tạo - lại trở thành
động lực của phát triển. Trong thời đại ngày nay chúng ta thấy rằng sự phát triển của mỗi
quốc gia không phải do vấn đề vấn đề tài nguyên, dân số, điều kiện địa lý quy định mà
là nhân tố con người quyết định. Vai trò của con người là quan trọng nhất đối với tiến
trình phát triển
trình độ dân trí, khoa học, công nghệ
- Nền văn hóa tiên tiến không chỉ thể hiện ở nội dung tư tưởng mà còn được phản
ánh ở hình thức biểu hiện phong phú đa dạng, kể cả trong những cơ sở vật chất, kỹ thuật,
phương tiên để chuyển tải nội dung. Ở đây tiên tiến thường là hiện đại, song không phải
mọi cái hiện đại đều là tiên tiến
Nền văn hóa tiên tiến có thể được cụ thể hóa bằng những khía cạnh cơ bản như
sau : Tiên tiến về trình độ học vấn, về dân trí, về trình độ khoa học và công nghệ; Tiên
tiến về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống; Tiên tiến còn là sự kết hợp giữa
hiện đại và truyền thống, cả về hình thức và về nội dung. Nền văn hóa tiên tiến Việt Nam
là sự kết hợp truyền thống dân tộc với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Mọi hoạt động giáo dục, văn hóa, nghệ thuật của từng cá nhân, của tập thể, của nhà nước,
đều hướng vào xây dựng nền văn hóa với nội dung như trên
Nhóm 12 – ĐL1205 16
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
Dân tộc Việt Nam có nền văn hóa lâu đời, giàu tinh hoa và giá trị sáng tạ. Sức
mạnh văn hóa ấy đã được tôi luyện, thử thách và phát huy trong sự nghiệp dựng nước và
giữ nước. Đảng Cộng sản Việt Nam coi trọng xây dựng và phát triển văn hóa và trong
thực tế đã lãnh đạo sự nghiệp đó đạt được những thành tựu to lớn. Hơn 6 thế kỷ qua, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam đã khơi dậy và phát huy.
- Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
Nền văn hóa tiên tiến cũng là nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Tính chất đậm
đà dân tộc luôn luôn gắn bó với tính chất tiên tiến của nền văn hóa. Hai mặt này liên quan
biện chứng với nhau.
Bản sắc văn hóa của một dân tộc là những đặc trưng về văn hóa, về đời sống tinh
thần dân tộc ấy, là những nét đặc biệt, độc đáo về tinh thần, về văn hóa, về cách sống và
sức sáng tạo để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Mất bản sắc văn hóa dân tộc tức
là dân tộc đã bị đồng hóa chỉ còn lại cái vỏ bề ngoài. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
là hạt nhân của tinh thần sáng tạo của dân tộc, truyền từ đời này sang đời khác, được làm
giàu thêm bằng kinh nghiệm cuộc sống và sự sáng tạo của các thế hệ. Đó là truyền thống
được tạo ra và hun đúc trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc.
dân tộc nhưng không thể tách khỏi quan hệ với thế giới. Bởi xu thế toàn cầu hóa đang
diễn ra là tất yếu xu thế đó là khách quan, mang tính thời đại, trước hết trong lĩnh vực
kinh tế, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, không một quốc gia có thể đứng biệt lập mà
có thể tồn tại và phát triển. Mặt khác, phải nhận thức được rằng toàn cầu hóa là một quá
trình đầy mâu thuẩn, phức tạp, mặt tất yếu kỹ thuật, kinh tế là mặt tích cực có lợi ta phải
Nhóm 12 – ĐL1205 18
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
tận dụng, song cũng không thể bỏ qua mặt xã hội kinh tế, mặt bản chất giai cấp của quá
trình toàn cầu hóa.
• Ba là: nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Nét đặc trưng nổi bật của văn hoá Việt Nam là sự thống nhất mà đa dạng, là sự
hoà quyện bình đẳng, sự phát triển độc lập của văn hoá các dân tộc anh em cùng sống
trên lãnh thổ Việt Nam. Mỗi thành phần dân tộc có truyền thống và bản sắc của mình, cả
cộng đồng dân tộc Việt Nam có nền văn hoá chung nhất. Sự thống nhất bao hàm cả tính
đa dạng, đa dạng trong sự thống nhất không có sự đồng hoá hoặc thôn tính, kỳ thị bản sắc
văn hoá của các dân tộc.
Quan điểm chỉ đạo này xác định tính thống nhất và đa dạng của nền văn hóa. Hiện
nay, hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị văn hóa mang các sắc thái
khác nhau. Các giá trị và các sắc thái văn hóa đó bổ sung cho nhau, làm phong phú cho
nền văn hóa Việt Nam. Mặt khác, các thành tựu văn hóa của các dân tộc anh em góp
phần củng cố sự thống nhất dân tộc- cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa
dạng văn hóa của các dân tộc anh em. Sự thống nhất của nền văn hóa phải được thể hiện
ở sự thống nhất về hệ tư tưởng chính trị, thống nhất về thể chế và thiết chế văn hóa. Đồng
thời, phải phát huy tính đa dạng, cùng hợp tác và hỗ trợ nhau phát triển, chống các âm
mưu lợi dụng sự khác biệt văn hóa để gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
54 dân tộc trên đất nước Việt Nam đều có những giá trị và bản sắc văn hoá riêng.
Các giá trị và bản sắc văn hoá đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá Việt
Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc.
• Bốn là: xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp chung của toàn dân do
Nhóm 12 – ĐL1205 20
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
+ Bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp
học, bậc học.
+ Thực hiện xã hội hoá giáo dục.
+ Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo.
+ Phát triển khoa học xã hội, tiếp tục góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
+ Phát triển khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ.
+ Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ.
• Năm là: văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự
nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì
thận trọng.
Như chúng ta đều biết, từ năm 1951, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
đang bước vào giai đoạn quyết liệt, Hồ Chí Minh đã có thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển
lãm hội họa 1951. Trong bức thư quan trọng này, Người nói: “Văn hóa nghệ thuật cũng
là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
“Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà
phải ở trong kinh tế và chính trị”. Đây là một quan điểm chỉ đạo của Hồ Chí Minh và
Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như Nhà nước ta đối với văn hóa nói chung, văn học
nghệ thuật nói riêng trong suốt hai cuộc kháng chiến cho đến hôm nay.
Từ quan điểm trên, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, đã nêu thành một trong năm quan điểm chỉ đạo cơ bản của văn hóa
Việt Nam, như sau: “Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự
nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng”.
Nghị quyết ra đời năm 1998 tức là sau khi đất nước ta tiến hành sự nghiệp đổi mới. Cho
đến nay, sau nhiều năm Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII vẫn là một văn kiện
Nhóm 12 – ĐL1205 21
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
cho trường học được tang cường đáng kể.
- Khoa học công nghệ phát triển phục vụ đời sống.
- Văn hóa phát triển, việc xây dựng văn hóa và nếp sống văn minh có tiến bộ hơn.
- Những thành tựu đang chứng tỏ sự đúng đắn trong đường lối chính sách của Đảng.
Hạn chế:
• So với yêu cầu của xã hội thì những thành tựu về văn hóa là chưa tương xứng và chắc
chắn bền vững, chưa tác động có hiệu quả tới đời sống xã hội.
• Sự phát triển của văn hóa chưa đồng bộ với sự phát triển của kinh tế xã hội, thiếu gắn
bó với nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
• Việc xây dựng thể chế văn hoá còn chậm, chưa đổi mới thiếu đồng bộ, làm hạn chế
tác dụng của văn hoá đối với các lĩnh vực quan trọng của đời sống đất nước.
• Tình trạng nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu về đời sống văn hoá - tinh thần ở nhiều
vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vẫn chưa được khắc phục có hiệu quả. Khoảng
cách chênh lệch về hưởng thụ văn hoá giữa các vùng miền, khu vực, tầng lớp xã hội
tiếp tục mở rộng.
Nguyên nhân:
• Các quan điểm chỉ đạo về phát triển văn hoá chưa được quán triệt đầy đủ cũng chưa
được thực hiện nghiêm túc
• Bệnh chủ quan, duy ý chí trong quản lý kinh tế - xã hội cùng với cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội kéo dài 20 năm đã tác động tiêu cực đến việc triển khai đường lối phát
triển văn hóa.
Nhóm 12 – ĐL1205 23
Đường lối xây dưng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội.
• Chưa xây dựng được cơ chế chính sách và giải pháp phù hợp để phát triển văn hoá
trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
• Một bộ phận những người hoạt động trên lĩnh vực văn hoá có biểu hiện xa rời đời
sống, chạy theo chủ nghĩa thực dụng, thị hiếu thấp kém
2. Quá trình nhận thức và chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội.
1. Thời kì trước đổi mới.
a. Chủ trương của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội.
b. Đánh giá việc thực hiện đường lối.
Chính sách xã hội trong giai đoạn này tuy có nhiều điểm hạn chế nhưng đã bảo
đảm được sự ổn định của xã hội, đồng thời còn đạt được thành tựu phát triển đáng tự hào
trên một số lĩnh vực như văn hoá, giáo dục, y tế, lối sống, đạo đức, kỷ cương và an sinh
xã hội, hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.
Những thành tựu đó nói lên bản chất tốt đẹp của chế độ mới và sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng trong giải quyết các vấn đề xã hội trong điều kiện chiến tranh kéo dài, kinh tế chậm
phát triển.
- Hạn chế và nguyên nhân
+ Trong xã hội đã hình thành tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể trong
cách giải quyết các vấn đề xã hội.
+ Chế độ phân phối trên thực tế là bình quân cao bằng không khuyến khích những
đơn vị cá nhân làm tốt, làm giỏi
Nhóm 12 – ĐL1205 25