MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ 2
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN 3
KHÁCH HÀNG CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ 3
DỊCH VỤ CƯỜNG THỊNH 3
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHÁCH HÀNG CỦA 24
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ CƯỜNG THỊNH 24
BẢNG 2: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY 25
TỪ NĂM 2009 – 2011 25
BẢNG 3: HỆ THỐNG ĐẠI LÝ PHÂN PHỐI CỦA CÔNG TY 26
CHƯƠNG 3 45
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN 45
KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI 45
VÀ DỊCH VỤ CƯỜNG THỊNH 45
KẾT LUẬN 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
SƠ ĐỒ
MỤC LỤC 1
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ 2
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN 3
KHÁCH HÀNG CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ 3
DỊCH VỤ CƯỜNG THỊNH 3
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHÁCH HÀNG CỦA 24
chính sách thực sự dựa trên những cơ sở nghiên cứu thị trường khách quan.
Trên thế giới, hoạt động phát triển khách hàng đã được coi trọng từ lâu.
Nhưng ở Việt Nam, hoạt động này lại chưa được quan tâm đúng mức, nhất là
đối với các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ mà số lượng các doanh
nghiệp như vậy trong nền kinh tế nước ta lại khá lớn. Nhận thức được điều
đó, qua quá trình thực tập tại Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ kĩ thuật
Cường Thịnh, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Hoạt động phát triển khách
hàng của Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Cường Thịnh” cho
chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
1
2.Phạm vi nghiên cứu chuyên để:
- Phạm vi không gian: hoạt động phát triển khách hàng tại Công ty
TNHH Thương mại và dịch vụ Cường Thịnh.
- Phạm vi thời gian: hoạt động phát triển khách hàng tại công ty trong
thời gian từ năm 2009 đến nay.
3.Chuyên đề được chia thành ba nội dung chính:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển khách hàng của công ty
TNHH Thương mại và dịch vụ Cường Thịnh.
- Chương 2: Thực trạng phát triển khách hàng của công ty TNHH thương
mại và dịch vụ Cường Thịnh
- Chương 3: Phương hướng và biện pháp phát triển khách hàng tại Công
ty TNHH Thưong mại và dịch vụ Cường Thịnh.
Em xin chân thành cảm ơn GS.TS Hoàng Đức Thân đã hướng dẫn em
thực hiện chuyên đề này. Đồng thời, em cũng xin cảm ơn tập thể các anh chị
nhân viên trong công ty đã nhiệt tình giúp đỡ em về số liệu, các nghiệp vụ để
em hoàn thành chương trình thực tập của mình. Trong quá trình nghiên cứu
tìm tòi, do những hạn chế về mặt kiến thức thực tiễn, bài viết của em không
tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý từ thầy giáo cũng
như từ phía quí công ty để em rút kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu sau
này.
Trong nền kinh tế thị trường, việc doanh nghiệp sản xuất gì, cho ai là do
3
thị trường quyết định. Do vậy, thị trường đóng một vai trò vô cùng quan trọng
đối với doanh nghiệp. Nó không chỉ cho doanh nghiệp biết cần phải sản xuất
cái gì, sản xuất như thế nào, mà còn là nơi tiêu thụ và đem lại doanh thu cho
doanh nghiệp. Thị trường trở thành mối quan tâm hàng đầu của tất cả các
doanh nghiệp trong nền kinh tế. Theo quan điểm của Philip Kotler, nếu những
người bán tập hợp lại thành ngành sản xuất thì những người mua sẽ là thị
trường. Tuy nhiên, đứng trên cương vị là người bán, thị trường của doanh
nghiệp thương mại được mô tả là một hay nhiều nhóm khách hàng tiềm năng
với những nhu cầu cụ thể về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp và
chưa được thỏa mãn. Như vậy, suy đến cùng, thị trường cũng chính là một tập
hợp các khách hàng, thị trường của doanh nghiệp cũng chính là những khách
hàng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hiểu được khách hàng của mình cũng
có nghĩa là doanh nghiệp đã hiểu được một phần thị trường mình đang hoạt
động.
Từ khái niệm trên, có thể thấy hai đặc trưng cơ bản của khách hàng: Thứ
nhất, khách hàng của doanh nghiệp phải là những người có nhu cầu về hàng
hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp, chứ không phải là hàng hóa, dịch vụ
thuộc lĩnh vực khác, và càng không phải là những người không có nhu cầu về
hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Điều này rất quan trọng vì nhờ
đó, doanh nghiệp mới biết cần phải hướng các hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình tới ai. Thứ hai, khách hàng phải là những người có khả năng thanh
toán. Đặc trưng này cho thấy không ai khác mà chính khách hàng là những
người sẽ đem lại doanh thu cho doanh nghiệp. Mặt khác, việc doanh nghiệp
nên bán hàng cho ai, lựa chọn khách hàng như thế nào cũng là một vấn đề mà
doanh nghiệp cần phải suy tính kĩ càng.
Phân loại:
4
Thị trường hàng hóa- dịch vụ của doanh nghiệp là tập hợp các khách
Ngoài những tiêu chí phân loại khách hàng trên, người ta còn dùng nhiều
tiêu chí khác như: khối lượng hàng hóa mua, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp,
tôn giáo, tầng lớp xã hội… và kết hợp các tiêu chí với nhau. Sự phân loại
khách hàng theo tiêu chí nào là do mục đích tiếp cận, nghiên cứu khách hàng
của tổ chức. Nghiên cứu khách hàng và tâm lí khách hàng giúp cho doanh
nghiệp xác định được khách hàng tiềm năng, những nhu cầu nào của khách
hàng chưa được thỏa mãn, thời gian địa điểm cần có hàng hóa, đặc điểm sử
dụng hàng hóa, giá cả mà khách hàng có thể chấp nhận và phương thức phục
vụ khách hàng tốt nhất.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, việc thu hút được
khách hàng, đặc biệt là giữ được sự trung thành khách hàng và thu hút được
khách hàng tiềm năng là vấn đề sống còn của doanh nghiệp thương mại. Sự
tín nhiệm của khách hàng là tài sản vô giá đối với doanh nghiệp. Sự tín nhiệm
đó có lâu dài hay không là phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh cũng
như phát triển khách hàng của doanh nghiệp có đáp ứng được những yêu cầu
của cạnh tranh hay không.
c)Theo mục đích mua sắm
Theo tiêu chí này, khách hàng được chia thành khách hàng là người tiêu
dùng cuối cùng và khách hàng là các tổ chức.
*) Khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng:
Người tiêu dùng cuối cùng là người mua sắm và tiêu dùng các hàng hóa-
dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của chính mình hoặc của gia đình và hàng hóa-
dịch vụ biến đi trong quá trình tiêu dùng, thoát khỏi vòng tái sản xuất xã hội.
*) Khách hàng là các tổ chức
6
Khách hàng là các tổ chức thường được phân chia thành 3 loại:
- Doanh nghiệp sản xuất: đây là các tổ chức mua sắm sản phẩm dịch
vụ sử dụng vào việc sản xuất ra những hàng hóa hay dịch vụ khác, để bán,
cho thuê hay cung ứng cho người khác để kiếm lời.
- Tổ chức thương mại: đây là những khách hàng mua hàng với mục
đoạn cụ thể của mình, doanh nghiệp có thể ưu tiên một hướng nào đó hơn
nhưng suy đến cùng, để tồn tại và phát triển bền vững, doanh nghiệp phải tiến
hành đồng thời hai phương hướng trên.
Là một doanh nghiệp mới thành lập,nên việc tìm kiếm và nâng cao,phát
triển số lượng khách hàng của doanh nghiệp được đặc biệt chú trọng.Công ty
đã áp dụng một số biện pháp cũng như những tiêu chí đánh giá cho đội ngũ
nhân viên trong việc chăm sóc,phát triển khách hàng của công ty,như:
•Số lượng cửa hàng,khách hàng mới trong tháng,trong qúy:
Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Cường Thịnh,đã áp dụng tiêu chí
đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của từng nhân viên thông qua số
lượng khách hàng mới( Khách hàng mua hàng lần đầu của công ty) trong từng
tháng,từng qúy .
Ví du:Nhân viên A được giao chỉ tiêu trong tháng 12/2011 cần phải bán
hàng lần đầu cho 15 khách hàng mới.Nếu,nhân viên A này hoàn thành hoặc
vượt chỉ tiêu trên sẽ được công ty xếp vào mức thưởng A cho việc này.
•Số lượng khách hàng mua trong tháng:
Đây là tiêu chí đánh giá rất quan trọng đối với doanh nghiệp,nó cho biế
tỷ lệ khách hàng mua trong tháng của doanh nghiệp là bao nhiêu.Có bao
nhiêu khách hàng,sau khi mua hàng lần đầu đã quay trở lại để tiếp tục mua
hàng của công ty.
Điều này đòi hỏi nhân viên kinh doanh cũng như bản thân doanh nghiệp
8
phải có những hành động đúng đắn và kịp thời nhằm giữ chân khách hàng,để
họ thực sự trở thành những đối tác tin cậy của công ty.
1.2:Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển khách hàng của
doanh nghiệp.
1.2.1:Nhân tố khách quan.
Phát triển khách hàng là hoạt động gắn liền với thị trường, do đó, nó chịu
tác động rất lớn bởi các nhân tố khách quan từ môi trường kinh doanh. Các
yếu tố này là các yếu tố khách quan mà doanh nghiệp không thể kiểm soát
khách hàng trên khu vực đó.
+ Thu nhập và phân bố thu nhập của người tiêu thụ: đây là yếu tố rất
quan trọng vì nó quyết định chủ yếu đến quyết định mua sản phẩm nào của
khách hàng vừa thỏa mãn được nhu cầu bản thân vừa thỏa mãn được khả
năng tài chính. Từ đây hình thành nên khái niệm về chất lượng sản phẩm theo
cách đánh giá của người tiêu thụ: sản phẩm vừa đủ. Doanh nghiệp sẽ có nhiều
cơ hội để lựa chọn sản phẩm thỏa mãn khách hàng theo mức độ yêu cầu khác
nhau về chất lượng, chủng loại hàng hóa và dịch vụ.
Ngoài ra, các yếu tố về nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, dân tộc, chủng tộc,
sắc tộc, tôn giáo và nền văn hóa sẽ ảnh hưởng đến sự đa dạng của nhu cầu và
cách thức thỏa mãn. Thị trường vốn là một tập hợp rất nhiều đối tượng khách
hàng có nhu cầu rất phong phú và phức tạp nên việc nắm được các nhân tố
trên sẽ giúp doanh nghiệp tìm được phương thức phù hợp để giữ được chân
các khách hàng truyền thống, đồng thời mở rộng số lượng khách hàng mới.
Đối với các khách hàng là các tổ chức các yếu tố trên cũng được thể hiện như:
10
- Số lượng các tổ chức sử dụng sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp
và xu hướng phát triển của nó.
- Qui mô của các tổ chức và xu hướng vận động của nó.
- Sự hình thành các khu công nghiệp tập trung và xu hướng vận động.
- Mức độ tăng trưởng và khả năng thanh toán của các tổ chức, doanh
nghiệp bạn hàng.
a)Môi trường địa lí- sinh thái
*) Vị trí địa lí là yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động thương mại
của doanh nghiệp, trong đó có hoạt động phát triển khách hàng. Khoảng cách
địa lí (không gian) giữa doanh nghiệp với khách hàng sẽ ảnh hưởng lớn tới
khả năng chinh phục, vận chuyển và chi phí vận chuyển của doanh nghiệp.
Nếu khoảng cách này lớn thì rất khó cho doanh nghiệp luôn luôn đảm bảo khả
năng giao hàng kịp thời, đúng tiến độ và chi phí vận chuyển cạnh tranh, điều
này là một bất lợi lớn cho doanh nghiệp trong việc giữ chân khách hàng. Lúc
thị trường, thực hiện hoạt động marketing như bán hàng, xúc tiến, dịch vụ
chăm sóc khách hàng….Với chức năng đặc thù là mua để bán, khách hàng có
một vai trò quyết định đến doanh thu, uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp
thương mại. Trong nền kinh tế cạnh tranh gay gắt như hiện nay, doanh nghiệp
nào có được sự ủng hộ của khách hàng thì tồn tại. Còn doanh nghiệp nào
không có được sự ủng hộ của khách hàng hay nói cách khác, hàng hóa, dịch
vụ của doanh nghiệp bị khách hàng tẩy chay thì doanh nghiệp đó sẽ sớm bị
sụp đổ. Niềm tin, sự ưa thích của khách hàng đối với hàng hóa, dịch vụ của
một công ty là tài sản vô giá của công ty đó. Tài sản đó không tự nhiên mà có.
Nó được hình thành nhờ chính những nỗ lực hoạt động của bản thân doanh
nghiệp, trong đó, phát triển khách hàng là hoạt động chủ yếu và cơ bản nhất.
c) Môi trường chính trị:
12
Môi trường chính trị là một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh tới
cách quyết định marketing. Môi trường chính trị bao gồm hệ thống luật và các
văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của nhà nước, tổ chức bộ máy và
cơ chế điều hành của chính phủ và các tổ chức chính trị - xã hội. Sự tác động
của môi trường chính trị tới các quyết định marketing, phản ánh sự tác động
can thiệp của các chủ thể quản lý vĩ mô tới kinh doanh của Doanh nghiệp.
Để điều chỉnh hành vi kinh doanh, thậm chí cả tiêu dùng, quan hệ trao
đổi – thương mại … các nước đều có một hệ thống luật pháp. Ở Việt Nam
mới bước sang nền kinh tế thị trường, hệ thống luật pháp còn thiếu nhiều
trong đó có luật dược.
Hệ thống các công cụ chính sách của nhà nước cũng tác động không nhỏ
tới hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Các công cụ chính sách điển
hình có: chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập, chính
sách xuất nhập khẩu, chính sách phát triển các thành phần kinh tế … Tất cả
các công cụ chính sách đó đều có liên quan đến khuyến khích hay hạn chế kể
cả sản xuất và tiêu dùng và do đó chúng buộc các doanh nghiệp
1.2.2:Nhân tố chủ quan.
+ Tố chất cá nhân và kinh nghiệm của người lao động là những yếu tố
gớp phần làm nên hiệu quả của hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động
phát triển khách hàng nói riêng. Phát triển khách hàng là những hoạt động
liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới khách hàng. Người nhân viên bán hàng
phải thường xuyên tiếp xúc với nhiều loại khách hàng, vì vậy, rất cần sự kiên
nhẫn, tự chủ và đôi khi cần cả kinh nghiệm để xử lí các tình huống một cách
thỏa đáng mà vẫn giữ chân khách hàng.
b)Tiềm lực vô hình:
14
Tiềm lực vô hình là những tài sản mà doanh nghiệp có nhưng không
lượng hóa được. Nó tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khả năng
“bán hàng gián tiếp của doanh nghiệp”. Nó ảnh hưởng và tác động lớn tới sự
lựa chọn và quyết định mua hàng của người tiêu thụ. Trong nền kinh tế thị
trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, có hàng nghìn công ty cùng sản xuất
và kinh doanh cùng một mặt hàng, dịch vụ như nhau và không có một sự khác
biệt đáng kể nào giữa chúng thì yếu tố khiến khách hàng lựa chọn và quyết
định mua mặt hàng, dịch vụ của công ty nào đó phụ thuộc rất lớn ở những tài
sản vô hình mà công ty ấy có được. Những tài sản đó có thể là: hình ảnh,
danh tiếng, uy tín hay các mối quan hệ xã hội của công ty.
Hình ảnh của doanh nghiệp trên thương trường liên quan đến hình thức,
chất lượng, giá cả của sản phẩm, thái độ của nhân viên công ty…tất cả những
yếu tố đó tạo nên sự quan tâm ở khách hàng. Một hình ảnh “tốt” của doanh
nghiệp có thể sẽ giúp ích nhiều cho việc quyết định mua hàng có tính “ưu
tiên” của khách hàng. Điều này không những giúp doanh nghiệp dễ bán hàng
hơn mà còn giúp tạo ra một lượng khách hàng trung thành với mình.
Một thực tế là, người tiêu dùng thường xuyên có sự ưu tiên với các nhãn
hiệu có danh tiếng từ trước. Danh tiếng của một nhãn hiệu sẽ góp phần vào
việc thúc đẩy hoạt động tìm kiếm khách hàng mới, đồng thời, khách hàng
càng phát triển cũng càng tạo thêm danh tiếng cho nhãn hiệu.
Uy tín và các mối quan hệ xã hội của công ty có ảnh hưởng lớn tới các
thể huy động được vào kinh doanh. Nó ảnh hưởng đến qui mô, khả năng, lợi
thế kinh doanh của doanh nghiệp.
16
1.3:Đặc điểm của công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Cường Thịnh.
1.3.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH Cường Thịnh, tên giao dịch đầy đủ là Công ty TNHH
Thương mại và Dịch vụ Cường Thịnh, được thành lập theo giấy phép đăng kí
kinh doanh số 0102014302 của Sở Kế hoạch và đầu tư- UBND Thành phố Hà
Nội, đăng kí lần đầu ngày 1 tháng 10 năm 2004, đăng kí thay đổi lần hai ngày
8 tháng 8 năm 2008.
• Tên doanh nghiệp:
• Loại hình doanh nghiệp
• Địa chỉ liên hệ:
• Tel:
• Vốn điều lệ:
Công ty TNHH Thương Mại và Dich Vụ
Cường Thịnh
Công ty TNHH hai thành viên
780 Minh Khai,Hai Bà Trưng,Hà Nội
04.39875784
3.000.000.000 VND
Năm 2004, công ty được thành lập và bước vào lĩnh vực phân phối và
dịch vụ của các sản phẩm là mặt hàng tiêu dùng nhanh (FMCG).Hiện
nay,công ty đang là nhà phân phối của các hãng nổi tiếng trong nước như
Unilever,Freshland Campina,VNF1.Unza…
Trong quá trình hoạt động hơn 7 năm qua của mình, công ty đã luôn duy
trì ổn định tình hình kinh doanh với tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần từ
hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ tương đối cao.
Lợi nhuần thuần từ hoạt động kinh doanh tăng đều qua các năm. Với
những cố gắng của mình, công ty luôn được đánh giá cao về năng lực triển
-Xây dựng một hình ảnh công ty chuyên nghiệp,thân thiện có chất lượng
sản phẩm cũng như dịch vụ tốt nhất trên thị trường.
18
- Thực hiện nghiêm túc và hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ và các qui
định của Nhà nước đối với doanh nghiệp.
- Đảm bảo cung cấp các sản phẩm chính hãng với chất lượng cao, giá cả
cạnh tranh, đặt mục tiêu đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng lên hàng
đầu.Đem đến cho khách hàng những ưu đãi tốt nhất trên thị trường dành cho
khách hàng.
Tổ chức bộ máy của công ty
Giống như đa phần các doanh nghiệp khác ở Việt Nam, tổ chức của công
ty TNHH Cường Thịnh theo mô hình trực tuyến chức năng. Bộ máy tổ chức
của công ty TNHH Cường Thịnh được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:
19
Sơ đồ 1- Bộ máy tổ chức của công ty TNHH TM và DV Cường Thịnh:
* Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận chức năng:
● Ban giám đốc:
Ban giám đốc bao gồm:
- Giám đốc: Bà Đỗ Thị Ngọc Trâm, là người đại diện pháp nhân của
công ty và có quyền điều hành cao nhất ở công ty. Giám đốc chịu trách nhiệm
điều hành chung các hoạt động kinh doanh của công ty, kí các chứng từ và
giấy tờ liên quan đến việc mua bán hàng hóa, thực hiện nghĩa vụ với nhà
nước. Quyết định bổ nhiệm, cho thôi việc, khen thưởng, kỉ luật các nhân viên
trong công ty .
- Phó giám đốc: Ông Đinh Văn Thoại. Phó giám đốc là người giúp Giám
đốc điều hành một sỗ lĩnh vực của công ty theo sự phân công của giám đốc.
●Bộ phận hành chính:
Bộ phận hành chính chịu trách nhiệm về các hoạt động:
- Tuyển dụng nhân sự, chấm công, tính lương và theo dõi tình hình nộp
-Có thể nói đây chính là bộ phận bán hàng phía sau của công ty.
● Bộ phận kế toán:
Bộ phận kế toán có những chức năng, nhiệm vụ sau:
- Theo dõi hoạt động xuất- nhập hàng trong kho, ghi phiếu xuất-
nhập kho.
- Theo dõi hoạt động mua bán hàng hóa, đảm bảo đủ hóa đơn, chứng từ
hợp lệ, ghi nhận đầy đủ và chính xác doanh thu và chi phí từ việc mua bán
21
hàng hóa.
- Sử dụng các nghiệp vụ kế toán để theo dõi tình hình tài chính và việc
thực hiện nghĩa vụ với nhà nước của công ty, lập báo cáo tài chính của công
ty theo từng tháng, quý, năm để nộp cho cơ quan thuế.
1.3.3. Đặc điểm các nguồn lực của công ty
Bảng 1- Một số chỉ tiêu về nguồn lực của công ty
STT Chỉ tiều
Đơn vị
tính
2009 2010 2011
1 Tổng nguồn vốn kinh doanh
Triệu
đồng
2.371,8 2.765,4 3.733
2 Lao động Người 12 15 18
Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty các năm 2009, 2010, 2011
a) Vốn
Nguồn vốn hiện có của công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Cường
Thịnh được huy động từ nhiều nguồn như:
- Tín dụng thương mại: 2.868.915.860VND
- Vốn điều lệ: 3.000.000.000VND
- Lợi nhuận chưa phân phối (năm 2011): 125.587.635VND
viên đều đạt trình độ Đại học,Cao Đẳng . Lực lượng lao động trong công ty
đểu là những người trẻ tuổi, năng nổ, nhiệt tình, có kỉ luật và có trình độ
chuyên môn khá cao. Lãnh đạo công ty cũng là những người giỏi chuyên môn
và nhạy bén với thị trường. Điều đó được thể hiện qua sự phát triển nhanh
chóng của công ty trong thời gian qua. Trong quá trình tác nghiệp, mọi người
đều nhận được sự hỗ trợ lẫn nhau, nhờ đó, công việc luôn được hoàn thành
tốt. Tuy nhiên, do số lượng lao động còn ít nên hiệu quả thực hiện nhiều
nghiệp vụ kinh doanh chưa cao.
23