Kế hoạch Phát triển du lịch ở làng gốm Phù Lãng - Pdf 26

z
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CHƯƠNG TRÌNH TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO & POHE

***

ĐỀ ÁN KINH TẾ DU LỊCH
Đề tài
PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở LÀNG GỐM PHÙ LÃNG
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Phùng Thúy Hằng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Huyền Trang
Lớp : Quản trị khách sạn - POHE
Mã sinh viên : CQ523797

Hà Nội, 12/2011
MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Mục đích nghiên cứu đề tài 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 6
1.1.1. Các khái niệm chính 7
1.1.2. Các khái niệm liên quan 8
1.2. Nguyên tắc và định hướng phát triển du lịch làng nghề 9
PHẦN 2 :TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI LÀNG NGHỀ GỐM PHÙ LÃNG 10
2.1. Giới thiệu về làng gốm Phù Lãng 10
2.1.1. Vị trí địa lý 10
2.1.2. Lịch sử ra đời 10
2.2. Nghề gốm Phù Lãng 11
2.2.1. Các dòng gốm 11
2.2.2. Các công đoạn - kĩ thuật làm gốm 11
2.3.Tiềm năng phát triển 14

3.4. Giải pháp về liên kết và hợp tác 31
C. KẾT LUẬN 32
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, khi thu nhập và mức sống của người
dân ngày càng được cải thiện thì nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới xung
quanh, tìm hiểu lịch sử, văn hóa, đời sống nhân dân các nước, các dân tộc, các
địa phương cũng ngày càng tăng lên. Sự thỏa mãn những nhu cầu ấy thúc đẩy
con người đi du lịch nhiều hơn. Du lịch làng nghề truyền thống ra đời và phát
triển như một kết quả tất yếu đã đáp ứng phần nào những nhu cầu ấy. Bên cạnh
đó, các làng nghề truyền thống cũng đang chiếm một vị trí ngày càng quan
trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.
Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng biệt,
độc đáo không thể thay thế - một cách giới thiệu sinh động về đất nước và con
người của mỗi vùng, miền, địa phương. Phát triển du lịch làng nghề chính là
một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính
sách quảng bá và phát triển du lịch của mình.
Ở Việt Nam, theo thống kê hiện có 2795 làng nghề, tiềm năng phát
triển du lịch làng nghề là rất lớn. Những lợi ích của việc phát triển du lịch làng
nghề không chỉ thể hiện ở những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc
giải quyết nguồn lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức
gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc. Trong những năm gần
đây, loại hình du lịch làng nghề truyền thống ngày càng hấp dẫn du khách, đặc
biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo
sản phẩm thủ công đặc trưng của nó ở mỗi vùng, miền.
Có thể nói, cùng với làng gốm Bát Tràng ở Hà Nội và làng gốm Thổ
Hà ở Bắc Giang, làng gốm Phù Lãng ở Bắc Ninh được coi là một trong ba
trung tâm gốm cổ của người Việt. Xuất hiện vào đầu thời nhà Trần, nghề gốm
Phù Lãng đã để lại dấu ấn lịch sử ngót mười thế kỉ với những sản phẩm chủ

làng nghề. Từ đó tìm ra nguyên nhân của vấn đề.
Đề xuất những giải pháp và hướng đi cụ thể để thu hút khách du lịch,
tháo gỡ những khó khăn người dân nơi đây đang gặp phải và tìm ra hướng phát
triển bền vững, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động kinh doanh du lịch tại làng
nghề.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề về lý luận và thực tiễn về du lịch làng nghề : Du lịch làng
nghề là gì, đặc trưng và vai trò của nó đối với phát triển du lịch hiện nay. Tình
hình phát triển du lịch tại làng gốm Phù Lãng, quá trình xúc tiến thương mại,
quảng bá hình ảnh, mức độ cạnh tranh; tình hình đầu ra, tiêu thụ, doanh thu và
chất lượng sản phẩm….
Nghiên cứu tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tại làng nghề,
những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đáng chú ý.
Nghiên cứu, tìm ra giải ra giải pháp dựa trên thực trạng và tình hình thực
tế, hướng đi để phát triển bền vững.
Nghiên cứu mục tiêu và định hướng phát triển du lịch làng nghề ở Việt
Nam nói chung – từ đó liên hệ đến làng gốm Phù Lãng. Ý nghĩa của việc
nghiên cứu đề tài đối với người làm gốm, các nhà kinh doanh du lịch, khách
tham quan và ngành kinh doanh dịch vụ du lịch nói chung .
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu đề tài này là các làng nghề sản xuất gốm ở xã Phù
Lãng. Hiện nay, theo địa lí hành chính, xã Phù Lãng có 6 thôn : thôn Phấn
Trung, thôn Phù Lãng, thôn Phấn Sở, thôn Đoàn Kết, thôn Thủ Công và thôn
An Trạch. Tuy nhiên, chỉ có 3 thôn chính làm gốm là Thủ Công, Đoàn Kết và
Phù Lãng.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập, phân tích dữ liệu
Thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, đài, tivi, các
chương trình, sự kiện văn hóa; thông qua mạng lưới các Website về du lịch và

- Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, làng nghề là những làng sống
bằng hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam.
- Làng nghề thủ công là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ
các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống
lâu đời.
1
- Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền được hình thành từ lâu
đời, tồn tại và phát triển đến ngày nay. Như vậy, có hai yếu tố cơ bản cấu thành
làng nghề là làng và nghề, trong đó nghề trong làng đã tách khỏi sản xuất nông
nghiệp thành ngành kinh doanh độc lập.
c) Khái niệm du lịch làng nghề
- Du lịch làng nghề là loại hình văn hóa tổng hợp đưa du khách tới tham
quan, thẩm nhận các giá trị văn hóa và mua sắm những hàng hóa đặc trưng của
các làng nghề truyền thống trên khắp miền đất nước.
2
- Khi tham gia tour du lịch làng nghề, du khách không chỉ được ngắm
phong cảnh du lịch làng quê mà còn được thăm nơi sản xuất, thậm chí có thể
tham gia vào một phần quá trình tạo ra sản phẩm. Chính điều này đã tạo nên
sức hấp dẫn riêng của làng nghề truyền thống.
1.1.2. Các khái niệm liên quan
- Khác với du lịch làng nghề, Du lịch cộng đồng là hoạt động tương hỗ
giữa các đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân
cư địa phương, bảo vệ được môi trường và mang đến cho du khách kinh
nghiệm mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của địa
phương có dự án.
3
- Du lịch homestay là loại hình du lịch mà du khách sẽ được ở và sinh
hoạt chung nhà với người dân bản xứ như thành viên trong gia đình, để khám
phá phong cách sống của người dân, trải nghiệm cuộc sống hàng ngày của họ
để biết được văn hóa của người dân nơi đó.

- Bên cạnh việc sử dụng hợp lí và tái tạo nguồn tài nguyên thì du lịch
làng nghề “xanh ” cũng đang dần trở thành một xu hướng mới – phát triển làng
nghề nhưng không gây ô nhiễm môi trường, mà ngược lại, rất thân thiện với
môi trường. Nếu làm được điều này, du lịch làng nghề sẽ không chỉ thu hút sự
quan tâm của công chúng, dư luận; góp phần bảo vệ môi trường sống của
người dân làng nghề, mà còn tạo nên một hướng phát triển mới, hiệu quả và
bền vững cho làng nghề Việt Nam.
PHẦN 2 :TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT
TRIỂN DU LỊCH TẠI LÀNG NGHỀ GỐM PHÙ LÃNG
2.1. Giới thiệu về làng gốm Phù Lãng
2.1.1. Vị trí địa lý
- Làng gốm Phù Lãng thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc
Ninh, cách Hà Nội khoảng 60km về phía Đông và cách thành phố Bắc Ninh
20km.
- Xã Phù Lãng nằm gần trục đường giao thông huyết mạch của tỉnh Bắc
Ninh là quốc lộ 18 đồng thời gắn liền với những di tích lịch sử văn hóa quan
trọng, những lễ hội đặc trưng của vùng Kinh Bắc (hội Lim, hội Đền Đậu, hội
Đền Đô)…
2.1.2. Lịch sử ra đời
- Địa danh Phù Lãng có từ cuối đời Trần, đầu thời Lê. Vào thời kì này,
Phù Lãng có 3 thôn : Trung thôn, Thượng thôn và Hạ thôn. Phù Lãng được
trong và ngoài nước biết đến với nghề gốm truyền thống.
- Ông tổ nghề gốm là Lưu Phong Tú. Vào cuối thời Lý, ông được triều
đình cử đi sứ sang Trung Quốc, khi trở về nước, ông mang theo nghề làm gốm
và truyền dạy cho mọi người. Cùng với làng gốm Bát Tràng của Hà Nội và
làng gốm Thổ Hà của Bắc Giang, làng gốm Phù Lãng là một trong ba trung
tâm gốm cổ của người Việt cổ. Một số phát hiện khảo cổ cho thấy gốm Phù
Lãng đã xuất hiện vào đời Trần, vào khoảng thế kỉ XIII.
2.2. Nghề gốm Phù Lãng
2.2.1. Các dòng gốm

- Khâu chọn và xử lí đất
+ Đây là khâu đầu tiên, nhưng cũng là khâu quan trọng nhất bởi lẽ chất
liệu đất có tốt mới làm ra được những sản phẩm chất lượng cao. Đất để làm đồ
sành phải là loại đặc biệt, có độ dẻo. Lấy được đất về, người thợ phải phơi cho
đất bạc màu trộn lẫn các lần đất, đập thành những viên nhỏ bằng ngón chân cái
rồi mới cho “ngậm ” nước, sau đó xéo tròn, nề đất, chọn sạn, phá, sa cho tới khi
đất phải nhuyễn mịn như một miếng giò mới thôi. Một miếng đất trước khi
chuốt phải nề, xéo tới chục lần mới thành khoanh cho lên bàn xoay nắn thành
sản phẩm.
+ Dưới bàn tay của người thợ thủ công, đất sét được luyện thật nhuyễn,
đảm bảo độ dẻo, mịn nhất định và được tạo hình trên bàn xoay hoặc tay khuôn.
- Tráng men
+ Men được chế tạo kì công từ nhiều loại nguyên liệu thiên nhiên. Chất
liệu làm men tráng gồm có tro cây rừng (loại cây mà khi đốt, tàn tro trắng như
vôi, như tàn thuốc, ngày nay, nghệ nhân Phù Lãng thường dùng tứ thiết là Lim,
Sến, Táu, Nghiến ), hai là vôi sống (vôi tả), ba là sỏi ống nghiền nát, bốn là
bùn phù sa trắng. Bốn chất liệu này, sau khi sơ chế trộn đều với nhau theo một
tỉ lệ nhất định rồi để khô, đập nhỏ cho vào nước, gạn rây qua bột, từ đó chế
thành một chất lỏng quánh, vàng như mật ong.
+ Khi sản phẩm còn ẩm, người thợ dùng chổi lông quét men lên bên
ngoài của sản phẩm một lớp mỏng thích hợp rồi đem phơi. Sau khi quét men và
phơi khô, sản phẩm có màu trắng đục.
- Tạo hình cho gốm
+ Đây là giai đoạn đòi hỏi nhiều đến sự khéo léo, tỉ mỉ và óc sáng tạo.
Một sản phẩm gốm có hình dáng như thế nào chính là được quyết định ở giai
đoạn này.
+ Trước khi tao hình, đất sét sẽ được nhào nặn thành những hình khối
tròn. Công đoạn này được gọi là se đất. Người làm gốm sử dụng nhiều phương
pháp khác nhau trong nghệ thuật tạo dáng, với những khối hình đa dạng, nhưng
nhìn chung có thể quy vào hai phương pháp cơ bản là tạo hình trên bàn xoay và

2.3.1. Nét sắc thái riêng biệt của sản phẩm gốm Phù Lãng
- Gốm Phù Lãng có nét sắc thái riêng biệt, đó là những sản phẩm gốm
men nâu, nâu đen, vàng nhạt, vàng thẫm, vàng nâu mà người ta gọi chung là
men da lươn. Đây là một loại men được chế tạo rất kì công. Muốn cho men
óng, phải dùng tro đốt từ củi rừng cùng với đá, làm đất sét mịn khô đập nhỏ
cho vào nước rồi lọc qua rây bột. Củi phải mua. Men và đất phải rất kì công,
mà sản phẩm phải đẹp và giá phải rẻ. Đây cũng là một nước men đặc trưng
gốm Phù Lãng khi đem so sánh với nước men rạn của Bát Tràng hay men cánh
gián của Thổ Hà.
- Nét đặc trưng nổi bật trong kĩ thuật tạo hình của gốm Phù Lãng là sử
dụng phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm bong (còn gọi là chạm kép ),
màu men tự nhiên, bền và lạ.
- Dáng của gốm mộc mạc, thô phác nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ
đẹp nguyên sơ của đất với lửa và rất đậm nét của điêu khắc tạo hình. Vẻ đẹp
này hoàn toàn đối lập với vẻ đẹp tinh tế của gốm sứ Bát Tràng hay vẻ rắn chắc,
“đanh thép ” của gốm Thổ Hà.
- Nếu các làng nghề gốm hiện nay trên cả nước đã có những lò nung
hiện đại, sử dụng chất đốt công nghiệp thì người dân Phù Lãng vẫn trung thành
với phương pháp nung truyền thống. Đó là lí do tại sao, mặc dù nằm tiếp giáp
với vùng than Quảng Ninh nhưng ở Phù Lãng người ta vẫn dùng củi để nung,
nhờ sự biến nhiệt khác nhau tạo ra những vết táp trên bề mặt gốm mà không
phương pháp nào thay thế nổi.
- Khác với những sản phẩm gốm lấy chất liệu từ “xương ” đất sét xanh
của Thổ Hà, sét trắng của Bát Tràng, gốm Phù Lãng được tạo nên từ “xương ”
đất đỏ hồng lấy từ vùng Thống Vát, Cung Khiêm (Bắc Giang). Đất được chở
về Phù Lãng theo đường sông. Điều này rất thuận lợi do Phù Lãng không phải
lấy đất sét tại chính làng họ, tránh phá vỡ cấu trúc địa chất và cảnh quan làng
nghề.
- Xương đất sét có màu hồng nhạt, khi nung ở nhiệt độ cao, xương gốm
chuyển màu gan gà, với hai màu men chủ đạo là nâu vàng và nâu đen (thường

phẩm gốm tràn ngập khắp nơi, trên sân nhà, dưới bờ ruộng, dọc các con đường
đi…Nào tiểu quách, nào chậu cảnh, bình gốm, chum vại, ống nước… cái đỏ
tươi màu đất, cái đã bạc màu rêu phong, thô mộc hoặc lên nước bóng loáng…
Với những vật trang trí tình cờ ấy, mỗi góc đường, hàng rào, ngôi nhà của Phù
Lãng đều trở thành một khuôn hình dễ thương đầy chất mộc mạc, giản dị của
một làng nghề yên bình. Có lẽ vì thế mà Phù Lãng là một trong những điểm
đến thú vị của các tay săn ảnh chuyên và không chuyên, trong và ngoài nước.
- Làng Phù Lãng còn là một điển hình của làng nông thôn Bắc Bộ, với
nhiều điểm du lịch văn hóa. Những mái nhà, phần lớn, vẫn giữ được màu đỏ
tươi của ngói, những bức tường làng phủ màu thời gian, những khóm tre và
cánh đồng rộng mênh mông. Dù là làng nghề sản xuất gốm, người dân nơi đây
vẫn cấy hái để tự cung cấp cho mình những nông sản cần thiết.
- Đi dọc hai bên con đường làng bê tông quanh co, du khách dễ dàng
nhận ra nét đặc trưng của làng nghề làm gốm với những đống củi được chất rất
cao, chờ ngày đem vào lò nung gốm. Hình ảnh này có thể dễ dàng thu hút sự
chú ý, tò mò từ phía các du khách.
- Cách làng gốm không xa về phía Bắc là con sông Cầu thơ mộng với
con đò xuôi ngược – hình ảnh hiếm hoi của khung cảnh làng quê Bắc bộ xưa
còn sót lại. Sự kết hợp giữa dòng sông, cánh đồng và những ngôi nhà ngói đỏ
sẽ mang đến cho du khách nhiều cảm giác khác lạ - vừa gần gũi, thân quen, vừa
hoài niệm và thơ mộng – cái mà những đô thị lớn không còn lưu giữ.

2.3.3. Con người thân thiện
- Người làm gốm ở Phù Lãng rất mộc mạc và thân thiện. Sinh ra và lớn
lên ở vùng đất giàu truyền thống văn hóa, mỗi con người Phù Lãng đều mang
trong mình không chỉ là niềm tự hào về nghề cổ truyền của cha ông, mà còn cả
những lối sống đẹp, hồn hậu và sự đùm bọc lẫn nhau.
- Người Phù Lãng không ngại tiếp chuyện khách phương xa, họ sẵn
sàng trả lời tỉ mỉ những công đoạn làm nghề, tay làm miệng nói, những giọt mồ
hôi rơi giữa trưa hè nắng gắt, nhưng không phải vì thế mà họ không mỉm cười.

- Trước sức ép của lạm phát và cơ chế nền kinh tế thị trường, nghề gốm
Phù Lãng ngày càng bị mai một, từ hơn 300 hộ làm gốm trước đây, giờ chỉ còn
khoảng hơn 200 hộ theo đuổi nghề gia truyền, khá nhiều hộ gia đình đã quyết
định chuyển sang kinh doanh lĩnh vực khác hoặc quay về với đồng ruộng.
- Làng Phù Lãng, nơi tập trung nhiều hộ sản xuất gốm nhất xã, không
khí làm việc khá im ắng, khác hẳn với khoảng thời gian hai năm về trước khi
người dân nơi đây làm hết công suất mà vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu thị
trường.
- Theo ước tính của địa phương, lượng hàng hóa sản xuất hiện tại chỉ
bằng 30% so với thời điểm đầu năm 2008, đủ để duy trì truyền thống. Tính đến
thời điểm này, toàn xã mới có hơn 250 lượt lò đốt gốm, như vậy với hơn 200
doanh nghiệp, cơ sở sản xuất gốm, bình quân mỗi hộ chỉ mới đốt có hơn một
lò Hiện tại, trong các doanh nghiệp, hộ sản xuất ở Phù Lãng, lượng hàng tồn
kho còn khá nhiều đồng nghĩa với việc bị tồn đọng.
- Sau một thời gian gốm phát triển ồ ạt, mọi người làm gốm theo phong
trào, dẫn đến sự quá tải về số lượng sản phẩm, hay tình trạng “cung vượt quá
cầu ” khiến cho hàng hóa bị tồn đọng, không tiêu thụ hết. Chính tình trạng này
đã tác động trực tiếp đến tâm lí những người làm nghề, họ bắt đầu giảm sản
xuất, làm việc với thái độ không còn hào hứng như ngày nào. Quy tắc làm
nghề, do đó, bị xem nhẹ, kinh doanh tự phát, theo kiểu “bóc ngắn cắn dài ”
2.4.3. Thực trạng đầu tư, phát triển thị trường
- Sự tham gia của cộng đồng vào phát triển du lịch chưa cao. Khả năng
tiếp cận với nguồn vốn kích cầu vẫn còn hạn chế. Những người còn trụ lại với
nghề gốm không biết phải quảng bá sản phẩm của mình ra sao, đưa những sản
phẩm này đến những hội chợ nào, và làm gì để níu chân những du khách thập
phương.
- Hiện Phù Lãng chỉ có ba cơ sở có thể tự xuất khẩu sản phẩm ra nước
ngoài, đó là công ty gốm Nhung, công ty Trí Việt và Hợp tác xã (HTX) gốm.
Cho đến thời điểm đó, Hội sản xuất gốm Phù Lãng vẫn chưa ra đời, trong khi
Hội sản xuất lại đóng một vai trò rất quan trọng : “Thông qua Hội làng nghề,

này khiến cho sự cạnh tranh về giá bị giảm đáng kể. Việc phát triển ở thị
trường nội địa, việc bảo hộ, sở hữu trí tuệ với các doanh nghiệp này cũng
không phải là điều dễ dàng.
2.4.5. Thực trạng tác động đến môi trường
- Khói bụi liên tục xả ra môi trường, không khí và nguồn nước bị ô
nhiễm, sức khỏe của người dân bị ảnh hưởng do lâu ngày sống chung với khói.
- Chỉ đốt một lò gốm cũng đã cần đến một số lượng củi tương đối lớn.
Mỗi ngày đều có những lò gốm hoạt động, lượng củi cần đốt là không thể đếm
hết. Điều này đồng nghĩa với việc, nếu người dân Phù Lãng không biết cách
giữ gìn và tái tạo nguồn tài nguyên này thì những ngọn đồi quanh làng gốm về
lâu dài sẽ bị ảnh hưởng nặng nề : sự trơ sỏi đá của đất, sự rửa trôi của nước
mưa và sự mất cân bằng thảm thực vật. Tổn hại sau cùng là đến môi trường
sống của chính người dân làng nghề.
2.5. Nguyên nhân
2.5.1. Nguyên nhân ảnh hưởng đến lượng du khách
- Do công tác quảng bá và giới thiệu hình ảnh còn quá kém và ít ỏi, nên
phần lớn khách du lịch, đặc biệt là các du khách nước ngoài, không hề biết đến
sự tồn tại của làng nghề.
- Những du khách đã biết đến làng nghề thì lại chỉ biết qua kênh thông
tin tiếng Việt là chính; không có tờ rơi, tập gấp, hướng dẫn hay bản đồ có thể
đưa họ đến tận nơi; mặt khác, khi phần lớn du khách tham quan làng nghề là
khách bụi, “Tây ba lô ” thì cũng là rất khó để cho họ có thể tìm được đúng địa
chỉ do Phù Lãng chưa có bản đồ quy hoạch, chưa có biển báo hướng dẫn và hệ
thống giao thông, cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế.
- Ở một khía cạnh khác, nếu được bạn bè hoặc người thân giới thiệu và
đưa đến tận nơi, thì khi đặt chân vào làng nghề, phần lớn các du khách nước
ngoài đều thất vọng bởi khâu thuyết minh ở đây hầu như chẳng theo bài bản gì.
Hầu hết thợ thủ công, những người làm nghề, tuy thân thiện và nhiệt tình, song
đều mang nặng quan niệm họ chỉ đóng vai trò người thợ chứ không phải là
hướng dẫn viên hay thuyết minh viên. Bên cạnh đó, người dân cũng không phải

dựng được tiếng nói chung.
- Việc chưa xây dựng được hội cho riêng mình dẫn đến các hộ sản xuất
gốm phải chịu rất nhiều thiệt thòi. Đơn cử như việc các cơ sở sản xuất gốm
muốn xuất khẩu hàng ra nước ngoài buộc phải qua khâu trung gian. Điều này
làm cho các hộ không thể chủ động trong sản xuất, phụ thuộc vào khâu trung
gian, nhiều lúc còn bị ép giá .
5
- Nếu thành lập được hội sản xuất gốm thì không gì tốt bằng, bởi nó liên
kết, bảo vệ cho các hộ sản xuất. Đó sẽ là “đầu não ” của gốm Phù Lãng để giải
quyết những vấn đề chung của làng nghề. Hơn nữa, có tổ chức hội thì các
khách hàng về đây tìm hiểu về gốm hay mở các tour du lịch dễ dàng hơn nhiều
bởi có tổ chức đón tiếp họ. Hiện nay, nhiều khách hàng về đây lại không biết
vào đâu trước, tìm hiểu như thế nào bởi không có một cá nhân, tổ chức nào phụ
trách vấn đề chung này .
6
- Cho đến thời điểm này, Hội sản xuất gốm Phù Lãng vẫn chưa ra đời do
nguyên nhân quan trọng nhất là chưa có sự thống nhất của tất cả các hộ sản
xuất gốm trong xã. Điều này bắt nguồn từ việc gốm Phù Lãng hiện nay được
chia làm hai dòng : gốm mỹ nghệ và gốm truyền thống, lợi ích của hai dòng
gốm này là khác nhau và nhất là không chung thị trường. Mặt khác, các hộ sản
xuất gốm truyền thống ở Phù Lãng chưa hiểu về mục đích, ý nghĩa, phương
thức hoạt động…và lợi ích được thụ hưởng khi tham gia.
- Như vậy, vấn đề ở chỗ từ trước đến nay chưa có một tổ chức hay cá
nhân nào đứng ra kêu gọi thành lập hội sản xuất gốm Phù Lãng, vận động và
giải thích cho người dân hiểu về lợi ích của hội. Các hộ sản xuất gốm cũng
chưa thông, chưa hiểu nên ngại thủ tục. Trong khi đó, Nghị định số
45/2010/NĐ-CP ngày 21-04-2010 của Chính Phủ quy định về tổ chức hoạt
động và quản lí hội đã nói rõ việc thành lập hội ở địa phương với thủ tục khá
đơn giản.
5

năm nay với những sản phẩm độc đáo, mộc mạc đậm chất nguyên sơ và mang
nét đặc trưng riêng. Thế nhưng, trên thực tế thương hiệu Phù Lãng còn được
khá ít người biết đến bởi công tác quảng bá còn hạn chế. Cả làng với hàng trăm
doanh nghiệp, cơ sở và hộ sản xuất kinh doanh nhưng mới chỉ có một vài trang
7
Theo anh Trần Mạnh Thiều, giám đốc công ty TNHH gốm Trí Việt.
web cá nhân, còn website riêng cho cả làng nghề mặc dù đã có nhưng lượng
thông tin vẫn rất ít ỏi và không được cập nhật thường xuyên.
- Theo thống kê, tổng dư nợ của cả hai ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn và Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn Phù Lãng mới
đạt hơn 7 tỷ đồng, một con số quá thấp so với nhu cầu sản xuất kinh doanh của
người dân.
- Ngoài những bất cập về hội ngành nghề, người dân Phù Lãng cũng
chưa được trang bị những kiến thức cơ bản về cách tiếp thị, quảng bá, thu hút
khách, trình độ ngoại ngữ lại rất kém mà hầu như là không ai có khả năng.
- Như vậy, ở góc độ nào đó, các nghệ nhân làng gốm Phù Lãng vẫn chỉ
là những người “làm thuê ”. Thương mại điện tử, một trong những cách thức
tiếp cận thị trường hiệu quả và chi phí thấp vẫn chưa được áp dụng phổ biến ở
nơi đây.
2.5.4. Nguyên nhân ảnh hưởng đến doanh thu
- Không nằm ngoài tác động của nền kinh tế, gốm Phù Lãng cũng chịu
ảnh hưởng khá nặng nề của tình trạng suy giảm kinh tế. Suy giảm kinh tế khiến
cho tình trạng thất nghiệp trở nên nghiêm trọng, con người ít muốn đi du lịch
hơn và do đó cũng chi tiêu tiết kiệm hơn. Khách du lịch sẽ không dễ dàng
“móc hầu bao ” để chi trả cho những món đồ họ không ưng ý.
- Tình trạng làm theo phong trào khiến lượng hàng hóa cung cấp vượt
nhu cầu sử dụng thực tế, hàng hóa vì thế bị ứ đọng, không thể tiêu thụ, và do
đó, không thể thu hồi vốn để tái xoay vòng sản xuất và kinh doanh.
- Thị trường nội địa về đồ gốm gia dụng bị thu hẹp đáng kể do sự xuất
hiện ồ ạt và tràn lan của các sản phẩm gia dụng làm từ nhôm, nhựa và các mặt

- Tạo ra nhiều loại hình du lịch hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
dạng của du khách.
- Hàng thủ công truyền thống có thể được ví như biểu tượng văn hóa và
nghệ thuật của mỗi vùng miền, mỗi quốc gia, là nhân tố quan trọng để hấp dẫn

Trích đoạn Giải pháp về liên kết và hợp tác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status