Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
DANH MỤC BẢNG BIỂU
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
PHẦN II: CHUYÊN ĐỀ “CÔNG TÁC CHI TRẢ CÁC CHẾ
ĐỘ BHXH BẮT BUỘC Ở BHXH THÀNH PHỐ HẠ LONG
GIAI ĐOẠN 2009 - 2011”
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ CHI
BHXH BẮT BUỘC
1.1. Khái niệm về BHXH
1.1.1. Khái niệm
Ngày nay, đối với tất cả các nước trên thế giới thì BHXH là một chính
sách xã hội đặc biệt quan trọng và được các nước chú trọng phát triển cho phù
hợp với điều kiện kinh tế xã hội của nước mình và pháp luật hóa trong hệ
thống pháp luật của Nhà nước.
Đối với nước ta thì BHXH cũng là một chính sách xã hội lớn của Đảng
và Nhà nước, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm chú trọng. Vậy
BHXH là gì? Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về BHXH, tuy nhiên
hiểu theo Luật BHXH của nước ta thì:
“Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo bù đắp một phần hoặc thay thế thu
nhập của người lao động khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết… trên cơ sở đóng góp và sử
dụng một quỹ tài chính tập trung, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và
an toàn cho xã hội”.
1.1.2. Vai trò của BHXH
* Đối với người lao động
BHXH chính là điều kiện cho NLĐ được cộng đồng tương trợ khi ốm
đau, tai nạn…Đồng thời BHXH cũng chính là cơ hội để mỗi người thực hiện
1.1.3. Các chế độ BHXH
Nội dung chi trả quỹ BHXH ở nước ta hiện nay, theo Điều 2 chương 1
– nguyên tắc chung của Điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định 12/CP
ngày 26/1/1995 của Chính phủ quy định các chế độ sau:
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
2
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
Chế độ trợ cấp ốm đau
Chế độ trợ cấp thai sản
Chế độ trợ cấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp
Chế độ hưu trí
Chế độ tử tuất
1.1.4. Quỹ BHXH
1.1.4.1. Khái niệm quỹ BHXH
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung được tồn tích dần từ
sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác,
nằm ngoài NSNN và được Nhà nước bảo hộ. Quỹ này được dùng để chi trả
trợ cấp cho các đối tượng hưởng BHXH và chi phí cho sự nghiệp quản lý
BHXH ở các cấp, các ngành.
1.1.4.2. Nguồn hình thành quỹ BHXH
Thứ nhất, từ người SDLĐ: sự đóng góp này không những thể hiện trách
nhiệm của người SDLĐ đối với NLĐ mà còn thể hiện lợi ích của người
SDLĐ bởi đóng góp một phần BHXH cho NLĐ, người SDLĐ sẽ tránh được
thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với
NLĐ của mình, giảm bớt được những tranh chấp.
Thứ hai, từ NLĐ: hệ thống BHXH ở các nước trên thế giới chủ yếu vẫn
thực hiện trên nguyên tắc có đóng có hưởng vì vậy người tham gia phải đóng
góp cho quỹ mới được hưởng BHXH. NLĐ tham gia đóng góp cho mình để
bảo hiểm cho chính bản thân mình. Thông qua hoạt động này NLĐ đã giàn
trải rủi ro theo chiều dọc và theo chiều ngang, khoản đóng góp vào quỹ
Việc chi trả đúng, đủ, an toàn đến người hưởng trợ cấp BHXH là đảm
bảo sự công bằng, bình đẳng trong hưởng thụ quyền lợi về bảo hiểm góp phần
gắn kết chặt chẽ giữa đóng góp và thụ hưởng của NLĐ.
* Đối với người sử dụng lao động
Công tác chi trả trợ cấp BHXH cũng đóng vai trò hết sức quan trọng
đối với những chủ SDLĐ. Công tác chi thực hiện tốt sẽ giúp cho đơn vị
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
4
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
SDLĐ ổn định được nguồn chi, ngay cả khi có rủi ro lớn xảy ra thì cũng
không lâm vào tình trạng nợ nần hay phá sản. Nhờ đó, các chi phí được chủ
động hạch toán, ổn định và tạo điều kiện để phát triển.
Việc chi trả BHXH đúng thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đóng BHXH
một cách đầy đủ của NSDLĐ đối với NLĐ.
* Đối với xã hội
Công tác chi trả BHXH tốt góp phần đảm bảo an ninh chính trị, an toàn
và phát triển xã hội. Công tác chi trả BHXH góp phần trực tiếp vào việc đáp
ứng nhu cầu thiết thân nhất của NLĐ.
Thực hiện tốt công tác chi trả BHXH là góp phần quan trọng trong việc
cung cấp dịch vụ công (dịch vụ xã hội cơ bản) cho con người, cho NLĐ trong
một xã hội phát triển.
Công tác chi BHXH tốt còn góp phần vào tiến trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế. Thực hiện tốt công tác chi trả BHXH sẽ bảo
đảm được sự an toàn của quỹ BHXH, theo đó quỹ BHXH nhàn rỗi sẽ có điều kiện
để góp phần đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế – xã hội của đất nước.
1.2.3. Nguyên tắc chi trả các chế độ BHXH
Chi đầy đủ: việc chi trả cho các đối tượng phải đảm bảo đủ số tiền,
không để tình trạng thiếu nguồn tiền trong quá trình chi trả. Ngoài ra, đảm
bảo chi đầy đủ cho các loại chế độ BHXH.
Chi kịp thời, an toàn: đảm bảo chi trả cho đối tượng hưởng chi đúng
trở lên và 65% nếu đóng BHXH dưới 30 năm.
* Chế độ thai sản
- Điều kiện hưởng: Lao động nữ sinh con và NLĐ nhận con nuôi dưới
4 tháng tuổi phải đóng BHXH đủ 6 tháng trong thời gian 12 tháng trước khi
sinh con hoặc nhận con nuôi.
- Mức hưởng:
+ Thời gian hưởng trợ cấp như sau:
Nghỉ 4 tháng đối với NLĐ làm việc trong điều kiện bình thường. Nghỉ
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
6
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
5 tháng đối với NLĐ làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, làm việc theo
chế độ 3 ca, làm việc những nơi có trợ cấp khu vực hệ số 0.5 hoặc 0.7. Nghỉ 6
tháng đối với người làm việc ở những nơi có phụ cấp khu vực hệ số 1, người làm
nghề hoặc công việc đặc biệt theo danh mục do BLĐTB&XH ban hành.
Nếu sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, mỗi con được cộng
thêm 30 ngày nghỉ (ngoài thời gian quy định thông thường). Trong trường
hợp nếu con dưới 60 ngày tuổi bị chết (kể cả trường hợp đẻ thai chết lưu) thì
người mẹ được nghỉ việc hưởng trợ cấp 75 ngày tính từ ngày sinh. Nếu con từ
60 ngày tuổi trở lên bị chết thì được nghỉ 15 ngày tính từ khi con chết nhưng
không vượt quá thời gian quy định.
+ Tiền trợ cấp thai sản hàng tháng đối với người hưởng chế độ là 100%
mức tiền lương đóng BHXH trước khi nghỉ đẻ, đồng thời khi sinh con được
hưởng trợ cấp một lần bằng một tháng tiền lương đóng BHXH.
* Chế độ TNLĐ-BNN
- Điều kiện hưởng: NLĐ bị tai nạn trong khi làm việc, tại nơi làm việc
kể cả ngoài giờ theo yêu cầu của chủ SDLĐ; bị tai nạn ngoài giờ làm việc khi
thực hiện công việc theo yêu cầu của người SDLĐ hay bị tai nạn trên tuyến
đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc.
- Mức hưởng: Người bị tai nạn lao động được hưởng trợ cấp tùy thuộc
- Phương thức chi trả trực tiếp: Là hình thức chi trả lương hưu và trợ
cấp BHXH không qua khâu trung gian. Nghĩa là, hàng tháng cán bộ của cơ
quan BHXH trực tiếp chi trả chế độ cho đối tượng thụ hưởng. Cán bộ chi trả
có trách nhiệm chuẩn bị mọi công việc có liên quan đến công tác chi trả từ
việc nhận danh sách đối tượng được hưởng, tạm ứng tiền và thanh quyết toán
chi trả.
- Phương thức chi trả gián tiếp: Là hình thức chi trả lương hưu và trợ
cấp BHXH cho đối tượng được hưởng thông qua các đại lý chi trả ở xã,
phường, thị trấn. Thực hiện phương thức chi trả này, cơ quan BHXH cấp
huyện ký hợp đồng với các đại diện chi trả có xác nhận của Uỷ ban nhân dân
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
8
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
xã, phường, thị. Hàng tháng, đại diện chi trả có trách nhiệm đến BHXH cấp
huyện nhận danh sách đối tượng được hưởng và số tiền phải chi trả trong
tháng để tổ chức chi trả cho các đối tượng kịp thời, đầy đủ. Đại diện chi trả
cũng có thể nhận tiền tay ba tại ngân hàng hoặc kho bạc khi có sự thỏa thuận
với cơ quan BHXH cấp huyện. Sau mỗi kỳ chi trả, đại diện chi trả có trách
nhiệm thanh quyết toán với cơ quan BHXH cấp huyện theo quy định.
- Phương thức chi trả lương hưu qua tài khoản ATM : Là hình thức chi
trả lương hưu có sự phối hợp giữa cơ quan BHXH với cơ quan ngân hàng
trong việc cung ứng dịch vụ chi trả lương hưu cho đối tượng. Thực chất hình
thức chi trả này cũng là hình thức chi trả gián tiếp. Tuy nhiên, đây là hình
thức chi trả hoàn toàn mới và được tiến hành ở các thành phố có điều kiện.
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chi trả
* Độ tuổi và tuổi thọ bình quân
Độ tuổi là một yếu tố tác động rất lớn tới các chế độ BHXH vì đi kèm
với sự gia tăng của độ tuổi là hết tuổi lao động, là sự giảm sút sức khỏe của
NLĐ. Khi sức khỏe bị suy giảm, NLĐ thường có nguy cơ dễ mắc bệnh, làm
việc kém hiệu quả, dẫn tới năng suất lao động bị giảm sút, kéo theo việc phải
được thu-chi sẽ làm cho công tác chi được đảm bảo hơn về nguyên tắc chi cho
các đối tượng hưởng chế độ BHXH.
* Sự điều chỉnh về chính sách, pháp luật BHXH của nhà nước
Khi nhà nước có những sửa đổi về chính sách, pháp luật BHXH một
cách hợp lý và đúng dắn về các quy định của các chế độ, chính sách BHXH
thì đều có sự tác động tới hoạt động thu và chi BHXH. Ngoài ra việc điều
chỉnh chính sách tiền lương của Chính phủ sẽ có tác động tới thu và chi
BHXH.
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
10
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHI TRẢ CÁC
CHẾ ĐỘ BHXH BẮT BUỘC Ở BHXH THÀNH PHỐ HẠ
LONG GIAI ĐOẠN 2009 - 2011
2.1 Đặc điểm của thành phố và của BHXH thành phố có ảnh hưởng đến
công tác chi trả.
2.1.1 Đặc điểm của thành phố
* Thuận lợi:
- Tình hình kinh tế của tỉnh, của thành phố tuy có ảnh hưởng bởi lạm
phát nhưng vẫn ổn định và có bước phát triển thuận lợi để BHXH thành phố
thực hiện công tác BHXH.
- Các cấp Ủy đảng, chính quyền thành phố Hạ Long, trực tiếp là BHXH
tỉnh thường xuyên quan tâm, chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động của BHXH
thành phố
- Liên đoàn lao động, phòng Lao động thương binh xã hội thành phố,
các cơ quan tuyên truyền phố hợp chặt chẽ với BHXH thành phố Hạ Long
phổ biến chế độ chính sách về BHXH
- Ủy ban nhân dân các cấp tạo điều kiện thuận lợi để việc chi trả lương
hưu, trợ cấp BHXH cho các đối tượng kịp thời, nhanh gọn, an toàn.
- Các đơn vị và người lao động đã nhận thức rõ hơn về luật BHXH tự giác
các đại lý chi trả hàng năm đều thực hiện hợp đồng chi trả và hợp đồng quản
lý đối tượng có sự bảo lãnh của UBND các phường, xã.
- Chủ động phối hợp với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và địa
phương kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắ trong việc giải quyết các
chế độ BHXH đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các đối tượng.
* Khó khăn:
- Số cán bộ thực hiện công tác chi của BHXH thành phố còn ít chưa
đáp ứng đủ. Một số đại lý chi trả còn chưa nắm rõ nghiệp vụ, chuyên môn.
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
12
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
- Ứng dụng công nghệ vào công tác chi trả còn chậm và hiệu quả chưa cao.
2.2 Thực trạng chi trả các chế độ BHXH bắt buộc ở BHXH thành phố Hạ
Long giai đoạn 2009-2011.
2.2.1. Thực trạng công tác lập dự toán và xét duyệt chi
* Lập dự toán chi:
Hằng năm BHXH huyện lập dự toán kinh phí chi các chế độ thành 03
bản: 01 bản gửi kho bạc Nhà nước, 01 bản gửi BHXH tỉnh, 01 bản lưu.
BHXH tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn lập, xét duyệt dự toán chi BHXH hàng
năm cho các huyện. Bên cạnh đó BHXH huyện cũng phải kịp thời báo cáo
những biến động cho BHXH tỉnh để có những điều chỉnh kịp thời.
BHXH tỉnh lập dự toán chi các chế độ BHXH theo hướng dẫn của
BHXH Việt Nam để sửa đổi, bổ sung.
BHXH Việt Nam có trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức xét duyệt, thông
báo dự toán kinh phí chi các chế độ cho các tỉnh theo quy định.
* Xét duyệt chi:
Hàng tháng lập 02 bộ báo cáo chi lương hưu và chi trợ cấp BHXH,
danh sách thu hồi kinh phí BHXH, danh sách đối tượng nhận lương hưu, 01
bản gửi tại cơ quan BHXH tỉnh, 01 bộ lưu lại cơ quan.
Hàng quý lập 02 bản báo cáo chi trợ cấp ốm đau, thai sản, kèm theo
các phường. Đại lý chi trả là người được lựa chọn trong số cán bộ hưu trí và
do UBND phường, xã giới thiệu, đảm bảo có phẩm chất đạo đức, trung thực,
có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình với công việc. Theo định kỳ, từ ngày 5
đến ngày 10 hàng tháng cán bộ phụ trách mảng chi trực tiếp vận chuyển tiền
bằng ô tô chuyên dụng đến các phường để bàn giao số tiền chi trả cho đại lý.
Các đại lý có trách nhiệm nhận tiền chi trả trên cơ sở danh sách, mức trợ cấp
của đối tượng được giao quản lý, sau đó tổ chức chi trả trong khoảng 3-5 ngày
và thực hiện quyết toán với BHXH thành phố. Hiện nay, trên địa bàn thành
phố có 12 phường thực hiện việc chi trả qua đại lý với tổng số đối tượng hàng
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
14
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
tháng thường xuyên là 17.000 người và số tiền chi trả hàng tháng trên 27 tỷ
đồng, chiếm 54,68%. Từ thực tiễn hoạt động của các đại lý chi trả có thể
khẳng định rằng đây là một hình thức chi trả hỗ trợ tích cực cho mô hình chi
trả trực tiếp, đồng thời phát huy được các yếu tố thuận lợi cho công tác quản
lý đối tượng và tổ chức chi trả các chế độ BHXH.
* Bên cạnh việc chi trả qua các đại lý, các đơn vị BHXH còn thực hiện
hình thức chi trả gián tiếp qua tài khoản ATM.
Về thực chất, Ngân hàng quản lý tài khoản thẻ ATM là đại lý chi trả
chính. Hiện nay hình thức này đang được lựa chọn như một giải pháp chi trả
tuyệt đối an toàn, tiện lợi, nhờ đó đối tượng có thể chủ động thời gian lĩnh
lương hưu và trợ cấp. Trên thực tế, hiện có 3210 người thuộc 4 phường đăng
ký lĩnh lương qua tài khoản với số chi hàng tháng gần 2 tỷ đồng.
Từ việc vận dụng linh hoạt hai mô hình chi trả chế độ BHXH phù hợp
với đặc điểm của địa phương đã từng bước thực hiện hiệu quả mục tiêu tăng
dần tỷ lệ chi trả trực tiếp, nâng cao chất lượng phục vụ đối tượng, góp phần
chăm lo đời sống của hàng vạn người lao động. Thông qua đó khẳng định tính
ưu việt của chế độ chính sách BHXH của Nhà nước ta trong thực tiễn cuộc
sống và củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng.
* Công tác chi trả 1 lần
Chi ngắn hạn của chế độ TNLĐ – BNN, tử tuất BHXH có trách nhiệm
chi kịp thời cho đối tượng.
Đối với việc chi trả chế độ ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức phục hồi
sức khỏe, sau khi nhận và xét duyệt xong hồ sơ do đơn vị SDLĐ chuyển đến,
BHXH tỉnh tiến hành chuyển tiền chi trả cho NLĐ thông qua đơn vị SDLĐ.
Hàng tháng chủ sử dụng lao động được giữ lại 2% để kịp thời chi trả cho
những đối tượng trong đơn vị bị ốm đau, thai sản theo đúng quy định tại Luật
BHXH. Hàng quý các đơn vị sử dụng lao động phải quyết toán với cơ quan
BHXH về số tiền đã chi. Phần thiếu hoặc thừa sẽ phải trả quỹ hoặc được
BHXH bù vào tháng đầu quý sau.
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
16
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
2.2.4 Thực trạng đối tượng hưởng và kết quả chi trả các chế độ BHXH bắt
buộc ở BHXH thành phố Hạ Long
* Chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức
Chi trả chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức là nhiệm vụ thiết thực nhằm
đảm bảo quyền lợi của NLĐ, công chức đang công tác, yêu cầu công tác xét
duyệt hồ sơ phải chính xác, kịp thời, đúng chính sách, đúng chế độ. BHXH
thành phố luôn được sự quan tâm cấp kinh phí kịp thời của BHXH tỉnh để chủ
động xét duyệt chi trả thường xuyên, kịp thời.
Cơ quan BHXH chỉ thực hiện chi trả trợ cấp ốm đau cho những người bị
ốm đau tham gia đóng BHXH tại đơn vị cơ sở và hiện đang công tác. Việc chi trả
trợ cấp ốm đau tại BHXH thành phố là chi trả tập trung cho các đơn vị cơ sở có
người bị ốm đau. Các đơn vị SDLĐ giữ lại 2% trong 3% quỹ tiền lương, tiền công
đóng vào quỹ ốm đau và thai sản để chi trả kịp thời cho NLĐ.
Chi trả cho chế độ thai sản là khoản chi lớn nhất trong các khoản chi trả
trợ cấp ngắn hạn của BHXH. Đây là một chế độ do yêu cầu kết hợp của rất
nhiều các cơ quan, đoàn thể cùng phối hợp thực hiện (Y tế, BHXH, Công
2009 5.539 1.598 478 7.615 -
2010 6.234 1.956 657 8.859 16,34
2011 7.550 2.567 835 10.952 23,63
(Nguồn: BHXH thành phố Hạ Long)
Qua bảng số liệu và biểu đồ trên cho ta thấy:
Từ năm 2009 đến năm 2011 số đối tượng hưởng chi của 3 chế độ trên
đều có xu hướng tăng từ 7.615 người năm 2009 lên 10.952 người năm 2011
tương ứng tăng 3.337 người (43,82%). Tốc độ tăng bình quân giữa các năm
tương đối đều ở mức 16%. Trong 3 chế độ trên thì chế độ ốm đau có số đối
tượng hưởng lớn nhất: năm 2009 là 5.539 người đến năm 2011 là 7.550
người, tăng 2.011 người (36,31%); sau đó đến chế độ thai sản: năm 2009 là
1.598 người đến năm 2011 là 2.567 người, tăng 969 người (60,68%); cuối
cùng là chế độ dưỡng sức tăng 74,68%, có mức tăng lớn nhất.
Qua các năm số đối tượng luôn tăng là do:
Các quy định về điều kiện hưởng, mức hưởng và thời gian đã được quy
định cụ thể, rõ ràng qua các văn bản bổ sung và hướng dẫn đến từng doanh
nghiệp, từng NLĐ khiến cho người tham gia hiểu rõ hơn về quyền lợi của
mình cùng với công tác giải quyết chế độ được thực hiện nhanh chóng, đảm
bảo đầy đủ quyền lợi cho người được hưởng.
Bên cạnh đó đối tượng hưởng chế độ ốm đau, dưỡng sức có số lượng
lớn và tăng nhanh là do đặc thù công viêc vì chủ yếu lao động của thành phố
làm trong ngành khai thác than nặng nhọc, độc hại.
Trong vài năm gần đây, vấn đề bức xúc về môi trường và bệnh dịch
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
18
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
đang là nỗi lo lớn cho toàn xã hội, số người hưởng chế độ ốm đau luôn tăng.
Bảng 2.2: Tình hình thực hiện chi trả chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức
ở BHXH thành phố Hạ Long giai đoạn 2009-2011
Năm
Số tiền chi trả cho các đối tượng tăng làm cho số tiền chi trả bình quân
qua các năm cũng tăng; năm 2009 là 1.22 triệu đồng/người/năm; năm 2011 là
1.41triệu đồng/người/năm, tăng 0.19 triệu đồng/người/năm.
Đối với chế độ ốm đau sở dĩ qua các năm số tiền được hưởng tăng như
vậy là do số người được hưởng BHXH tăng lên, mà số người tăng lên là do
Nhà nước ngày càng quan tâm đến sức khỏe của người lao động nên các
khoản trợ cấp được giải quyết nhanh và các khoản trợ cấp cũng được tăng lên.
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
19
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
Một số người được hưởng vì phải chăm sóc con cái ốm đau, có người được
hưởng vì bận việc riêng của gia đình và còn một số người nữa mắc bệnh cần
điều trị dài ngày.
Đối với chế độ thai sản số tiền chi tăng là do: số người được hưởng trợ
cấp thai sản qua các năm tăng, số người được hưởng tăng lên như vậy là do số
lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ và những người sinh con thứ nhất, thứ hai
tương đối lớn cho nên việc tăng số tiền chi trả trợ cấp thai sản cho người tham
gia đóng BHXH đó là điều tất yếu.
Đối với chế độ dưỡng sức số tiền chi cũng tăng qua các năm do số
người được nghỉ dưỡng sức nhiều hơn, có sự thay đổi về số lượng người tham
gia đóng BHXH. Và số người lao động ốm đau, thai sản đều ảnh hưởng đến
nhu cầu nghỉ dưỡng dức của người lao động.
* Chế độ TNLĐ-BNN
Người lao động là người trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội,
tăng thu nhập cho bản thân và gia đình, là nguồn trụ cột, thu nhập chính trong
gia đình. Trong quá trình lao động hàng ngày tại nơi làm việc thì điều không
thể tránh khỏi có thể xảy ra rủi ro bất cứ lúc nào như: tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp Hiện nay tình hình về tai nạn lao động–bệnh nghề nghiệp xảy
ra mỗi năm với số lượng ngày càng tăng lên, báo động nhiều nguy cơ cho xã
hội hiện nay.
Số tiền
(triệu
đồng)
2009 1.228 3.470 501 1.491 1.729 4.961 2,86
2010 1.564 4.296 546 1.652 2.110 5.948 2,82
2011 2.015 5.321 590 1.828 2.605 7.149 2,72
(Nguồn: BHXH thành phố Hạ Long)
Qua bảng số liệu trên cho thấy: số tiền chi trả trợ cấp chế độ tai nạn lao
động-bệnh nghề nghiệp hàng tháng qua các năm đều có sự gia tăng. Hầu hết
số tiền để chi trả cho chế độ này đều là nguồn chi từ quỹ BHXH, chi từ nguồn
NSNN ít hơn. Cụ thể: Năm 2009 có tổng số tiền chi là 4.961 triệu đồng trong
đó chi từ Quỹ BHXH 3.470 triệu đồng, chi từ NSNN chỉ có 1.491 triệu đồng.
Đến năm 2011 số tiền chi đã tăng cao do số đối tượng được hưởng tăng là 876
đối tượng với số tiền chi là 7.149 triệu đồng, trong đó nguồn Quỹ BHXH là
5.321 triệu đồng, nguồn NSNN là 1.828 triệu đồng.
Nguyên nhân nguồn chi từ quỹ BHXH cao hơn là do hàng tháng người
lao động trích một khoản tiền lương để đóng vào quỹ BHXH, khiến cho
nguồn quỹ luôn được duy trì và ổn định từ đó có kinh phí để chi cho các đối
tượng được hưởng các chế độ trên.
Và nguyên nhân dẫn đến sự tăng số tiền chi trả qua các năm là do số
cán bộ công chức làm việc trong cơ quan nhà nước, xí nghiệp sản xuất bị tai
nạn lao động ngày càng tăng vì gặp nhiều rủi ro trong lao động sản xuất, chế
độ bảo hộ lao động không đảm bảo an toàn trong quá trình làm việc, công tác.
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
21
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
Do việc Chính phủ liên tục ban hành các Nghị định tăng mức tiền
lương tối thiểu thì tổng tiền chi trả, cũng như số tiền chi trả bình quân
người/nămkhông ngừng tăng lên qua các năm. Tiền chi trả trợ cấp TNLĐ-
BNN thường xuyên được lấy từ hai nguồn quỹ đó là NSNN và quỹ BHXH,
2009 170 - 522 - 3,07 -
2010 312 83,5 911 -74,52 2,91 -5,2
2011 241 -22,1 845 -18,22 3,51 20,6
(Nguồn: BHXH thành phố Hạ Long)
Qua bảng số liệu trên ta thấy: quỹ BHXH là nguồn đảm bảo chi trả duy
nhất cho các đối tượng hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN 1 lần. Nhìn chung trong
giai đoạn 2009 – 2011 số người hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN 1 lần không nhiều
( chưa đến 1000 người); do đó số tiền chi trả cũng không nhiều. Điều này một
phần là do đặc điểm thành phố có các công ty, doanh nghiệp mới…do đó việc
trang bị bảo hộ lao động cho NLĐ được các nhà máy hết sức quan tâm, góp
phần hạn chế tối đa số người bị mắc TNLĐ-BNN 1 lần trong các năm. Trong
SV: Nguyễn Minh Phượng Báo cáo thực tập
22
Trường Lao động xã hội Khoa Bảo hiểm
thời gian qua số người hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN 1 lần trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn biến động không đồng đều: tăng 142 người năm 2010 nhưng đến
năm 2011 lại giảm xuống còn 241 người. Số tiền chi trả cũng theo vậy mà
biến động tăng giảm. Tuy nhiên từ năm 2010 đến năm 2011 số người hưởng
giảm 71 người nhưng số tiền chi trả chỉ giảm nhẹ 66 triệu đồng do những
người được hưởng TNLĐ-BNN 1 lần cũng có tỷ lệ suy giảm khả năng lao
động tương đối cao, do vậy, cho dù số đối tượng hưởng có giảm mạnh nhưng
số tiền chi trả giảm nhẹ hơn tỷ lệ đối tượng hưởng nên số tiền chi bình quân
hàng năm vẫn tăng lên.
Năm 2010 số người hưởng chế độ TNLĐ-BNN tăng 52 người, đòi hỏi
người sử dụng lao động cần có các biện pháp nâng cao điều kiện làm việc cho
NLĐ, giáo dục nhận thức bảo hộ lao động để hạn chế đến mức thấp nhất khả
năng xảy ra TNLĐ-BNN, đồng thời tổ chức kiểm tra, khám sức khỏe định kì
nhằm sớm phát hiện bệnh nghề nghiệp để điều trị và dưỡng sức phục hồi sức
khỏe cho người bệnh.
* Chế độ hưu trí