Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
1
CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
LỜI NÓI ĐẦU 1
1.2.2. Nội dung ngân sách thị xã: 10
1.2.2.1. Nội dung thu ngân sách thị xã 10
Theo luật NSNN 2002, ngân sách thị xã nằm trong NSĐP được HĐND tỉnh phân cấp về nguồn thu gồm 10
a) Các khoản thu NSĐP hưởng 100% 10
Tương tự như thu ngân sách, theo luật NSNN 2002, ngân sách thị xã nằm trong NSĐP được quy định về nhiệm
vụ chi gồm: 11
+ Quyết toán ngân sách gồm 2 giai đoạn: lập báo cáo quyết toán và phê duyệt báo cáo quyết toán. Để cho một
chu trình ngân sách mới tiếp theo diễn ra kịp thời, báo cáo quyết toán phải được phê duyệt chậm nhất vào tháng
6/N+1 13
THEO THÔNG TƯ 60/2003/TT-BTC QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH
KHÁC CỦA XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN, TA CÓ: 13
3.2.1. Nâng cao chất lượng lập dự toán: 55
3.2.2. Quản lý các nguồn thu: 57
3.2.3. Kiểm soát các nguồn chi 59
3.2.4. Về đội ngũ cán bộ ngân sách: 60
Chế độ chính sách có nhiều thay đổi nhất là chế độ về XDCB đòi hỏi cán bộ phải thường xuyên cập
nhật kiến thức để đáp ứng yêu cầu công việc ngày càng cao 60
Bố trí cán bộ vào những vị trí công việc thích hợp với khả năng của từng người để phát huy thế mạnh
của họ. Phát huy vai trò sáng tạo của cán bộ, công chức, lắng nghe ý kiến của họ, khuyến khích họ
nghiên cứu, viết bài, làm đề tài khoa học, đề xuất các giải pháp để phát huy sáng kiến trong quản lý
ngân sách 60
3.3.1. Với Sở tài chính và HĐND cấp tỉnh 62
3.3.2. Với Quốc hội, Chính phủ và Bộ tài chính 63
KẾT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
66
6/N+1 13
THEO THÔNG TƯ 60/2003/TT-BTC QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH
KHÁC CỦA XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN, TA CÓ: 13
3.2.1. Nâng cao chất lượng lập dự toán: 55
3.2.2. Quản lý các nguồn thu: 57
3.2.3. Kiểm soát các nguồn chi 59
3.2.4. Về đội ngũ cán bộ ngân sách: 60
Chế độ chính sách có nhiều thay đổi nhất là chế độ về XDCB đòi hỏi cán bộ phải thường xuyên cập
nhật kiến thức để đáp ứng yêu cầu công việc ngày càng cao 60
Bố trí cán bộ vào những vị trí công việc thích hợp với khả năng của từng người để phát huy thế mạnh
của họ. Phát huy vai trò sáng tạo của cán bộ, công chức, lắng nghe ý kiến của họ, khuyến khích họ
nghiên cứu, viết bài, làm đề tài khoa học, đề xuất các giải pháp để phát huy sáng kiến trong quản lý
ngân sách 60
3.3.1. Với Sở tài chính và HĐND cấp tỉnh 62
3.3.2. Với Quốc hội, Chính phủ và Bộ tài chính 63
KẾT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
66
SV: Trịnh Thanh Phương Lớp: Tài Chính Công
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Khi nền kinh tế toàn cầu vẫn đang trong thời kì ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế năm 2008 thì năm 2010 thế giới lại chứng kiến sự bế tắc của Hi Lạp
trong khủng hoảng nợ công cũng như tình hình khó khăn của một số quốc gia cũng
sắp lâm vào tình cảnh không thể trả nợ như Italia, Bồ Đào Nha, Ireland. Mặc dù các
gói cứu trợ của quỹ tiền tệ thế giới IMF và liên minh châu Âu EU đã được tung ra
tuy nhiên vẫn không thể giảm hết được những tác động tiêu cực lên nền kinh tế
quốc gia và khu vực. Sau bài học của Thái Lan năm 1997 khi bị thụt lùi 20 năm
phát triển thì giờ đây Hi Lạp đang phải gồng mình với những chính sách giám sát
khắc khổ của IMF và EU.
Ninh Bình
Em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thùy Dương và các cô, chú ở phòng
Tài chính – Kế hoạch thị xã Tam Điệp đã tận tình hướng dẫn cho em hoàn thành
chuyên đề này.
SV: Trịnh Thanh Phương Lớp: Tài Chính Công
2
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NSNN VÀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH THỊ XÃ
1.1. Hệ thống NSNN
1.1.1. Khái niệm NSNN:
Trong tiến trình lịch sử, NSNN với tư cách là một phạm trù kinh tế đã ra đời
và tồn tại từ lâu gắn liền với sự hình thành nhà nước và nền kinh tế hàng hoá- tiền
tệ. Sau các cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội, Nhà nước ra đời kéo theo quá trình
tập trung của cải vật chất để làm phương tiện nuôi sống bộ máy công quyền. Bằng
quyền lực đó, nhà nước tham gia vào quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và
chính nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ đã trao cho nhà nước các công cụ như thuế bằng
tiền, vay nợ để tạo lập quỹ tiền tệ riêng của mình hay còn gọi là NSNN. Tuy nhiên
quan niệm về NSNN vẫn chưa thống nhất giữa các trường phái kinh tế và các lĩnh
vực nghiên cứu.
Các nhà nghiên cứu kinh tế học cổ điển quan niệm : NSNN là một văn kiện
tài chính, mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ, được thiết lập hàng năm.
Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về
NSNN. Theo các nhà kinh tế phương Tây, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà
nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước. Các nhà kinh tế Trung Quốc cho
rằng, NSNN là kế hoạch thu, chi tài chính hàng năm của Nhà nước được xét duyệt
theo trình tự pháp luật quy định. Các nhà kinh tế Nga cũng cho rằng, NSNN là bảng
liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của một quốc gia.
Chúng ta có thể thấy, quan điểm của các nhà kinh tế Nga và Trung Quốc khá gần
đúng đắn. NSNN chính là công cụ để nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều
tiết của mình, được xem xét trên bốn mặt.
Thứ nhất, NSNN là nguồn tài chính chủ yếu cho hoạt động của bộ máy
nhà nước
Hoạt động của nhà nước bao quát trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã
hội, vì vậy bộ máy nhà nước cần một nguồn lực tài chính lớn. Vì quyền lực của nhà
nước chỉ có hiệu lực trên chính quốc gia nên các nguồn thu được huy động từ bản
thân nó chính là nguồn tài trợ thường xuyên và chủ yếu cho các hoạt động thường
xuyên của nhà nước. Chính vì vậy nhà nước phải xác định được mức huy động vào
NSNN một cách phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các chủ thể trong nền
kinh tế.
Thứ hai, NSNN là công cụ điều tiết kinh tế.
NSNN là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát
triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Tùy vào trình độ sản xuất của quốc
gia mà chính phủ sẽ ưu tiên phát triển một số ngành kinh tế chiến lược.Thông qua
hoạt động thu và chi ngân sách, nhà nước thực hiện được chính sách phát triển kinh
tế xã hội đã để ra.
SV: Trịnh Thanh Phương Lớp: Tài Chính Công
4
Chuyên đề tốt nghiệp
Bằng các khoản chi Ngân sách, Nhà nước xây dựng cở sở hạ tầng, tạo một
môi trường thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế phát triển, đồng thời cũng hướng
vốn đầu tư chảy vào các lĩnh vực được tạo điều kiện thuận lợi hình thành các ngành
sản xuất then chốt, tạo ra cơ cấu kinh tế mới. Sự phát triển đồng đều giữ cho thị
trường không rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo, tạo động lực phát triển.
Bằng việc huy động các khoản thu, NSNN cũng thể hiện vai định hướng đầu
tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. Với sự ra đời của các loại thuế suất
ưu đãi, các quy định miễn giảm thuế, hay việc đánh thuế nặng hơn vào đầu vào
hoặc đầu ra có ảnh hưởng lớn đến quyết định của các nhà đầu tư và sản xuất. Rõ
ràng một chính sách thuế có lợi sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh và khả năng sinh
bào bão lụt.
Thông qua thu ngân sách, bằng chính sách thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu
thụ đặc biệt với hàng hóa xa xỉ chính phủ đã điều tiết một phần thu nhập của người
giàu sang người nghèo. Điều này cũng đúng với đặc điểm của NSNN là không hoàn
trả trực tiếp. Tuy nhiên các khoản thu này cũng là góp phần bình ổn thị trường, tạo
điều kiện cho sự ổn định trong thu nhập của tầng lớp thu nhập cao hơn.
1.1.3. Hệ thống NSNN ở Việt Nam
HTNS là tổng thể các cấp ngân sách của bộ máy nhà nước từ trung ương đến
cơ sở, giữa chúng có những mối quan hệ hữu cơ, được xác định bởi sự thống nhất
về cơ sở kinh tế, chính trị, pháp lí và các nguyên tắc tổ chức của nhà nước.
Ngân sách là quỹ tiền tệ của nhà nước vì vậy HTNS phải phụ thuộc vào hệ
thống chính quyền của nhà nước. Trên thế giới HTNS của các nước thường chia
thành hai nhóm. Nhóm một là những nước như Mỹ, Đức, Malaisia có cơ cấu nhà
nước liên bang thì HTNS gồm 3 cấp: ngân sách liên bang, ngân sách bang và
NSĐP. Nhóm hai là những nước có cơ cấu nhà nước thống nhất thì HTNS gồm 2
cấp: ngân sách chính phủ và ngân sách các đơn vị hành chính cơ sở.
Việt Nam có HTNS thuộc nhóm nước thứ hai, tuy nhiên trong lịch sử không
phải mỗi cấp chính quyền đều là một cấp ngân sách. Cơ cấu của HTNS nhà nước đã
có những thay đổi nhất định theo thời gian.
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước năm 1967, hệ thống NSNN chỉ
có một cấp duy nhất là NSNN, không có sự phân chia thẩm quyền giữa các cấp
chính quyền Nhà nước trong quản lý NSNN. Mỗi cấp chính quyền chỉ là những đơn
vị dự toán NSNN.
Năm 1967, Nghị định 118/CP ngày 01 tháng 08 năm 1967 của Chính phủ đã
khai sinh đến chế độ phân cấp quản lý ngân sách. HTNS gồm 2 cấp ngân sách:
NSTW và ngân sách tỉnh, thành phố thuộc trung ương. Các cấp chính quyền huyện,
xã đóng vai trò là đơn vị dự toán ngân sách cho ngân sách cấp tỉnh. Tuy nhiên chế
độ phân cấp đã khiến các cấp hành chính mang tâm lý ỷ lại dây chuyền vào ngân
sách cấp trên, không khuyến khích các địa phương chủ động và sáng tạo trong việc
khai thác và huy động các nguồn tài chính trong địa bàn để phục vụ nhu cầu phát
để thực hiện những nhiệm vụ chiến lược quan trọng của quốc gia đồng thời thúc
đẩy sự tự phấn đấu và tăng cường trách nhiệm của địa phương trong việc giải quyết
những nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn
SV: Trịnh Thanh Phương Lớp: Tài Chính Công
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Sơ đồ hệ thống NSNN tại Việt Nam:
NSTW:
Ngân sách cấp trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách này được hình
thành từ những nguồn thu theo ngành hay có tính chất quốc gia, và nhiệm vụ chi có
tính chất chiến lược trên phạm vi cả nước và hỗ trợ ngân sách cho những địa
phương chưa cân đối được thu chi.
NSĐP:
NSĐP gồm ngân sách của các đơn vị hành chính có HĐND và UBND, tức là
cấp ngân sách này thực hiện nhiệm vụ chi và thu nhằm thực hiện chức năng quản
lý toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội của chính quyền cấp tỉnh (thành phố),
huyện (quận) và xã trong địa bàn của mình.
Ở Việt Nam, do đặc điểm mỗi cấp ngân sách cấp dưới là bộ phận hợp thành
của ngân sách cấp trên, ngân sách cấp trên không chỉ bao gồm ngân sách cấp mình
mà còn gồm cả ngân sách cấp dưới nên HTNS còn mang tính lồng ghép. Nhiều chỉ
tiêu thu chi của ngân sách cấp dưới do cấp trên ấn định. Điều này đã không khuyến
khích cấp dưới tự cân đối thu, chi, lập dự toán tích cực mà thường có xu hướng lập
dự toán thu thấp, dự toán chi cao để được nhận trợ cấp nhiều hơn.
1.2. Ngân sách thị xã và công tác quản lý ngân sách thị xã
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ngân sách thị xã
1.2.1.1. Khái niệm ngân sách thị xã
Ngân sách thị xã là một cấp ngân sách trong NSĐP vì vậy nó là một bộ phận
của NSNN. Ngân sách thị xã là toàn bộ các khoản thu, chi trong dự toán đã được
SV: Trịnh Thanh Phương Lớp: Tài Chính Công
các cơ quan quản lý cấp trên. Mọi chủ chương, chính sách của Nhà nước, hiệu lực
quản lý Nhà nước đều có sự tham gia của cấp ngân sách này, giúp cho công tác
quản lý điều hành đạt hiệu quả tốt hơn. Đồng thời cũng phản ánh kết quả của chủ
trương chính sách, chế độ đó khi triển khai thực hiện tại cơ sở.”
Bên cạnh đó, ngân sách thị cũng là một bộ phận hữu cơ của NSĐP. Đóng vai
trò NSNN trên địa bàn, ngân sách thị là một quỹ tài chính của cấp chính quyền cơ
sở. Vì vậy :
Thứ nhất, ngân sách thị đảm bảo cho cấp chính quyền Nhà nước cấp thị
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo pháp luật quy định. Mặc dù không
thực hiện các nhiệm vụ quan trọng và có tính chiến lược như NSTW nhưng Ngân
sách thị xã cũng tạo cho mình một vị trí nhất định, nhằm chủ động trong việc thực
hiện chức năng Nhà nước tại ở địa phương tuỳ theo địa giới hành chính, tình hình
kinh tế xã hội của từng huyện thị.
SV: Trịnh Thanh Phương Lớp: Tài Chính Công
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ hai, ngân sách thị là công cụ tài chính để khai thác thế mạnh kinh tế, xã
hội trên địa bàn thị. Trong nền kinh tế năng động như hiện nay, sự cạnh tranh để có
thể thu hút vốn đầu tư là rất lớn. Vì vậy, để có thể khai thác được thế mạnh ở địa
phương, tạo một cái đà, động lực ban đầu cho phát triển kinh tế cần phải đáp ứng
được những điều kiện cơ bản về cơ sở vật chất, hành lang pháp lý an toàn thuận lợi
mà trong đó ngân sách thị chính là nguồn vốn chủ yếu tài trợ cho những điều kiện
cơ bản đó.
Thứ ba, ngân sách thị xã góp phần bù đắp khiếm khuyết thị trường, bảo đảm
công bằng xã hội và các vấn đề về môi trường. Bởi vì kinh tế thị trường là một nền
kinh tế tự do nên mặc dù nó có nhiều ưu điểm về mặt kinh tế nhưng vẫn tồn tại
nhiều nhược điểm về mặt xã hội. Cùng với việc tăng cường hiệu quả hoạt động của
nhà nước, ngân sách thị còn phải hướng cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển
đúng đắn, giải quyết các nhu cầu cấp thiết về vấn đề phát triển sự nghiệp giáo dục, y
tế, phát triển cơ sở hạ tầng. Đặc biệt là vấn đề xoá đói giảm nghèo tại các huyện
− Thu kết dư NSĐP theo quy định tại Điều 63 của Luật này.
− Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
b) Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa NSTW và NSĐP :
− Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu
− Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của
các đơn vị hạch toán toàn ngành.
− Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
− Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không kể thuế chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí.
− Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước.
− Phí xăng, dầu.
c) Thu bổ sung từ NSTW;
d) Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy
định
1.2.2.2. Nội dung chi ngân sách:
Tương tự như thu ngân sách, theo luật NSNN 2002, ngân sách thị xã nằm
trong NSĐP được quy định về nhiệm vụ chi gồm:
a) Chi đầu tư phát triển:
− Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do địa
phương quản lý.
− Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức
tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
− Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
SV: Trịnh Thanh Phương Lớp: Tài Chính Công
11
Chuyên đề tốt nghiệp
b) Chi thường xuyên:
− Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn
hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi
trường, chi quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể, các hoạt động sự nghiệp khác do địa
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Khi ngân sách ở tình trạng bội thu, hay thu > chi cũng không tốt vì lúc đó vốn bị ứ
đọng, không sử dụng, phát huy hết số tiền thu về.
1.2.3. Quản lý Ngân sách thị xã
1.2.3.1. Chu trình ngân sách xã
Chu trình ngân sách là toàn bộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt
đầu hình thành cho tới khi kết thúc chuyển sang ngân sách mới. Một chu trình ngân
sách gồm 3 khâu nối tiếp nhau, đó là: lập ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết
toán ngân sách.
Ở Việt Nam , một chu trình ngân sách kéo dài 2 năm. Cụ thể đối với năm N:
+ Dự toán ngân sách gồm 2 giai đoạn: xây dựng dự toán từ tháng 6/N và phê
chuẩn dự toán chậm nhất vào ngày 31/12/N.
+ Chấp hành ngân sách: sau khi dự toán ngân sách được phê duyệt, kéo dài
từ ngày 1/1 đến 31/12/N.
+ Quyết toán ngân sách gồm 2 giai đoạn: lập báo cáo quyết toán và phê
duyệt báo cáo quyết toán. Để cho một chu trình ngân sách mới tiếp theo
diễn ra kịp thời, báo cáo quyết toán phải được phê duyệt chậm nhất vào
tháng 6/N+1.
a) Lập dự toán ngân sách xã
Lập dự toán ngân sách là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn
bộ các khâu của chu trình quản lý ngân sách mà thực chất là lập kế hoạch các khoản
thu-chi của ngân sách trong một năm.
Hàng năm, phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã chỉ đạo UBND xã lập dự toán
ngân sách năm sau trình HĐND xã quyết định trên cơ sở hướng dẫn của UBND
tỉnh. Dự toán ngân sách xã, phường cùng với dự toán của đơn vị cơ sở được phòng
Tài chính thị xã tổng hợp trình HĐND là cơ sở tạo nên dự toán ngân sách thị.
Theo thông tư 60/2003/TT-BTC quy định về quản lý ngân sách xã và các
hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn, ta có:
Căn cứ lập dự toán ngân sách xã
khai dự toán ngân sách xã cho nhân dân biết.
Điều chỉnh dự toán ngân sách xã
Để đảm bảo phù hợp với định hướng chung hoặc có biến động lớn về nguồn
thu và nhiệm vụ chi thì UBND cấp trên yêu cầu UBND xã tiến hành lập dự toán
điều chỉnh trình HĐND xã quyết định và báo cáo UBND huyện thị.
b) Chấp hành ngân sách xã
Sau khi dự toán ngân sách xã được phê duy, Ban tài chính xã sử dụng tổng
hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi
ghi trong kế hoạch NSNN năm trở thành hiện thực. Quá trình này gọi là chấp hành
ngân sách xã,bao gồm: chấp hành dự toán thu NSNN và chấp hành dự toán chi
SV: Trịnh Thanh Phương Lớp: Tài Chính Công
14
Chuyên đề tốt nghiệp
NSNN.
Chấp hành dự toán thu ngân sách xã:
- Ban Tài chính xã có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thuế đảm bảo thu
đúng, thu đủ và kịp thời.
- Đơn vị, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách thì căn cứ vào thông báo thu
của cơ quan thu hoặc Ban tài chính xã, lập giấy nộp tiền đến KBNN nộp trực tiếp
vào NSNN.
- Trong trường hợp đối tượng phải nộp ngân sách không có điều kiện nộp
tiền trực tiếp vào KBNN theo chế độ quy định, thì:
+ Đối với các khoản thu thuộc nhiệm vụ của cơ quan thuế thì cơ quan thuế
thu, sau đó lập giấy nộp tiền và nộp tiền gửi vào KBNN. Trường hợp cơ quan thuế
uỷ quyền cho Ban Tài chính xã thu thì cũng như trên nhưng được hưởng phí uỷ
nhiệm thu theo chế độ quy định.
+ Đối với các khoản thu thuộc nhiệm vụ của Ban Tài chính xã thì Ban Tài
chính xã thu sau đó lập giấy nộp tiền và nộp tiền gửi vào KBNN hoặc nộp vào quỹ
của ngân sách xã để chi theo chế độ quy định (nếu là các xã miền núi, vùng sâu,
vùng xa chưa có điều kiện giao dịch thường xuyên với KBNN).
trường hợp nhu cầu chi lớn hơn thu trong quý cần có biện pháp đề nghị cấp trên
tăng tiến độ cấp bổ sung hoặc tạm thời sắp xếp lại nhu cầu chi phù hợp với nguồn
thu, theo nguyên tắc đảm bảo chi lương, có tính chất lương đầy đủ kịp thời.
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi ngân sách, sử dụng tài sản của các tổ
chức đơn vị sử dụng ngân sách, phát hiện và báo cáo đề xuất kịp thời Chủ tịch
UBND xã về những vi phạm chế độ, tiêu chuẩn, định mức để có biện pháp đảm bảo
thực hiện mục tiêu và tiến độ quy định.
+ Chủ tịch UBND xã:
Việc quyết định chi phải theo đúng chế độ, tiêu chuẩn và mức chi trong phạm
vi dự toán được phê duyệt và người ra quyết định chi phải chịu trách nhiệm về quyết
định của mình, nếu chi sai phải bồi hoàn cho công quỹ và tuỳ theo tính chất, mức độ
vi phạm còn bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
+ HĐND xã và cơ quan tài chính cấp trên:
HĐND xã giám sát việc thực hiện thu, chi ngân sách xã.
Các cơ quan tài chính cấp trên thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn công tác
quản lý ngân sách xã.
- Chấp hành dự toán chi ngân sách xã:
+ Căn cứ vào dự toán chi cả năm, dự toán ngân sách quý có chia tháng và
tiến độ công việc. Ban Tài chính xã làm thủ tục chi trình Chủ tịch xã hoặc người
được uỷ quyền quyết định gửi KBNN nơi giao dịch đồng thời kèm theo các tài liệu
cần thiết theo quy định pháp luật. Việc thanh toán các khoản chi của ngân sách xã
bằng Lệnh chi ngân sách xã.
+ Trường hợp thanh toán bằng tiền mặt thì sử dụng Lệnh chi ngân sách xã
bằng tiền mặt. Khi KBNN kiểm tra, nếu đủ điều kiện thì thực hiện thanh toán cho
khách hàng hoặc người được sử dụng.
SV: Trịnh Thanh Phương Lớp: Tài Chính Công
16
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Trong những trường hợp cần thiết như tạm ứng công tác phí, ứng trước
tiền cho khách hàng, nhà thầu theo hợp đồng, chuẩn bị hội nghị, tiếp khách, mua
chính theo chế độ quy định, nghiêm cấm việc nợ XDCB cũng như chiếm dụng vốn
dưới mọi hình thức.
SV: Trịnh Thanh Phương Lớp: Tài Chính Công
17
Chuyên đề tốt nghiệp
c) Kế toán và quyết toán ngân sách xã:
Quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng của chu trình ngân sách xã. Mục
đích của nó là tổng kết đánh giá lại toàn bộ quá trình thu, chi ngân sách trong năm
ngân sách đã qua.
Quy trình quyết toán ngân sách xã hàng năm như sau:
Ban Tài chính xã lập quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã trình UBND xã
xem xét gửi Phòng Tài chính huyện; đồng thời UBND xã trình HĐND xã phê
chuẩn. Sau khi được HĐND xã phê chuẩn, UBND xã báo cáo bổ sung quyết toán
ngân sách gửi Phòng Tài chính huyện.
Phòng Tài chính huyện thị thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã; lập
quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện; tổng hợp, lập báo cáo quyết toán thu
NSNN trên địa bàn huyện và quyết toán thu, chi ngân sách huyện (bao gồm quyết
toán thu, chi ngân sách cấp huyện và quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã) trình
UBND huyện thị xem xét gửi Sở Tài chính - Vật giá; đồng thời UBND huyện trình
HĐND huyện phê chuẩn. Sau khi được HĐND huyện phê chuẩn, UBND báo cáo
bổ sung, quyết toán ngân sách gửi Sở Tài chính - Vật giá.
1.2.3.2. Phân cấp ngân sách xã
Căn cứ vào nguồn thu, nhiệm vụ chi của BSĐP do HĐND cấp tỉnh quyết
định phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách của chính
quyền địa phương theo nguyên tắc:
a) Phù hợp với phân cấp nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh đối
với từng lĩnh vực và đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư của từng vùng và trình độ quản
lý của địa phương;
b) Trong các nguồn thu của ngân sách xã, thị trấn, ngân sách xã, thị trấn
được hưởng tối thiểu 70% các khoản thu thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế nhà,
xã hội và các doanh nghiệp có sử dụng vốn của NSNN. Quan hệ giữa cơ quan kiểm
toán nhà nước và đơn vị phải kiểm toán là quan hệ bắt buộc theo luật định. Cơ quan
kiểm toán Nhà nước xác nhận, đánh giá và nhận xét các tài liệu, số liệu kế toán, báo
cáo kế toán đã được kiểm toán và chịu trách nhiệm về các nội dung đó. Theo quy
định của luật ngân sách thì Kiểm toán Nhà nước có nhiệm vụ xác định tính đúng
đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán ngân sách các cấp và đơn vị dự toán. Kết quả
kiểm toán này được báo cáo Chính phủ, Quốc hội và được thực hiện trước khi Quốc
hội, HĐND phê chuẩn quyết toán.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
THỊ XÃ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH
2.1. Tổng quan về thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình
Thị xã Tam Điệp được thành lập theo Quyết định số 200-HĐBT của Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 27/12/1982, trên cơ sở thị trấn Tam Điệp
SV: Trịnh Thanh Phương Lớp: Tài Chính Công
19
Chuyên đề tốt nghiệp
và 2 xã Yên Bình, Yên Sơn tách từ huyện Tam Điệp. Khi đó thị xã gồm 3 phường:
Bắc Sơn, Nam Sơn, Trung Sơn, và 4 xã: Quang Sơn, Yên Bình, Yên Sơn, Đông
Sơn. Trước đó thị trấn Tam Điệp được thành lập vào ngày 23/2/1974 trên cơ sở thị
trấn nông trường Đồng Giao thuộc huyện Yên Mô và nông trường Tam Điệp. Đến
năm 1977, trên cơ sở sát nhập tỉnh Ninh Bình và tỉnh Hà Nam thành tỉnh Hà Nam
Ninh năm 1976, trấn Tam Điệp trở thành huyện lị huyện Tam Điệp được thành lập
do sáp nhập huyện Yên Mô và 10 xã của huyện Yên Khánh.
Hiện nay thị xã Tam Điệp gồm gồm 5 phường: Bắc Sơn, Nam Sơn, Trung
Sơn, Tây Sơn, Tân Bình và 4 xã: Quang Sơn, Yên Bình, Yên Sơn, Đông Sơn.
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Tam Điệp là thị xã miền núi phía nam của tỉnh Ninh Bình ở vị trí cửa ngõ
miền Bắc Việt Nam, có vai trò là trung tâm vùng Nam Bắc Bộ. Phía bắc thị xã giáp
2 huyện Nho Quan và Hoa Lư, phía đông và đông nam giáp huyện Yên Mô, phía
2.1.2. Đặc điểm về kinh tế, xã hội
2.1.2.1. Về kinh tế
Từ những định hướng, chủ trương và chính sách phù hợp của Ban chấp hành
Đảng bộ thị xã, 20 năm qua, thị xã Tam Điệp có bước phát triển vượt bậc. Kinh tế
luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, nhất là trong 5 năm gần đây tốc độ tăng
trưởng kinh tế bình quân đạt trên 20%/năm. Tổng giá trị sản xuất tăng mạnh qua các
năm, năm 2011 đạt 5.484 tỷ đồng, tăng gấp 73,1 lần so với năm 1992. Cơ cấu ngành
kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, thương mại,
dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, trong đó công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ
trọng 70,51%; dịch vụ 26,4%; nông nghiệp 3,45%. Thị xã ngày càng khẳng định là một
trong 3 vùng phát triển kinh tế trọng điểm của tỉnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh và các vùng phụ cận. Với điều kiện địa hình chiếm 70% là đồi núi, có
tiềm năng về nguồn nguyên liệu đá vôi, đất sét, vì vậy sản xuất vật liệu xây dựng, chế
biến rau quả xuất khẩu là ngành công nghiệp chủ lực của thị xã.
a. Nông – lâm – ngư nghiệp
Với diện tích đất canh tác lớn, thị xã Tam Điệpcó tiềm năng trong phát triển
nông nghiệp, nhất là trồng cây công nghiệp, cây ăn quả quy mô lớn theo hướng
trang trại. Về sản xuất nông nghiệp: Thị xã có trên 5.000 ha đất nông nghiệp chiếm
50 % tổng diện tích.
Hiện nay trên địa bàn thị xã Tam Điệp có 233 trang trại, trong đó có 54 trang
trại chăn nuôi, 126 trang trại trồng trọt, 12 trang trại nuôi trồng thuỷ sản và 41 trang
trại tổng hợp trại với các sản phẩm chính con nuôi, cây trồng như: bò, dê, dứa,
nhãn, vải, đào phai, cây cảnh
Việc phát triển kinh tế theo mô hình trang trại hiện đang là một trong những
trọng tâm trong công tác phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo của thị xã Tam
Điệp. Điều đáng chú ý là mô hình kinh tế trang trại được phát triển ngày càng theo
hướng quy mô lớn với nhiều loại cây, con nuôi đặc sản có giá trị kinh tế cao, cung
cấp đầu vào cho công nghiệp chế biến. Năm 2011, giá trị thu nhập trên 1 ha canh
tác đạt 62 triệu đồng, tăng 40 triệu đồng so với năm 2005. Mô hình kinh tế trang trại
ngày càng mang lại hiệu quả kinh tế cao, những trang trại có giá trị thu nhập hàng
đền Quán Cháo và và di tích đình làng Quang Hiển hay phòng tuyến Tam Điệp –
Biện Sơn thì Tam Điệp đang là một điểm đến của những người nghiên cứu văn hóa,
hướng về tâm linh. Bên cạnh đó thị xã đã có 3 dự án lớn đầu tư vào du lịch với tổng
trị giá trên 420 tỷ đồng, đó là các dự án: Khu liên hợp du lịch sân golf 54 lỗ; dự án
du lịch Đồi Dù; Khu du lịch sinh thái hồ Yên Thắng đặc biệt hệ thống biệt thự nghỉ
dưỡng để phục vụ khách du lịch tham quan và khách đến chơi golf. Ngoài ra, thị xã
đang phát triển mạnh về trồng cây cảnh nghệ thuật, sưu tầm, chế tác đá cảnh nghệ
thuật, gỗ lũa, đây là một lĩnh vực mới nhưng cũng đã thu hút được khá đông lượng
SV: Trịnh Thanh Phương Lớp: Tài Chính Công
22