giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Thiết bị điện thoại - Pdf 26


LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước đang đổi mới từng ngày, con người cũng luôn luôn đổi mới,
doanh nghiệp càng không thể nằm ngoài sự thay đổi thống nhất đó. Trước
là biểu hiện của nền kinh tế nhỏ hẹp, ít năng động. Các doanh nghiệp luôn
sản xuất cái mà mình có, ít khi sản xuất cái mà thị trường cần. Hầu như
những yếu tố quan trọng tạo nên kết quả kinh doanh có lợi cho doanh
nghiệp ít được quan tâm để ý. Chính vì vậy, vốn và việc sử dụng vốn như
thế nào cũng nằm trong quy luật đó. Giờ đây, nền kinh tế thị trường đã đúc
kết nên nhiều kinh nghiệm quý báu cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần. Không phải đơn thuần sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản
xuất để cho ai. Đó chỉ như là bài toán đầu tiên cần giải cho các doanh
nghiệp khi bước vào một kho tàng các bài toán đồ sộ với hàng trăm, hàng
ngàn những phép tính logic, khó khăn nhưng thú vị, mà kết quả đạt được là
lợi ích đặt ra của doanh nghiệp. Thương trường luôn luôn chọn lọc và đào
thải các doanh nghiệp. Nó không chấp nhận những doanh nghiệp không có
kế hoạch làm ăn năng động, ì ạch, không biết tự đổi mới mình. Nhưng
ngược lại, nó thúc đẩy, khuyến khích các doanh nghiệp chăm chỉ, tích cực
xoay sở với những bài toán khó, tìm ra lời giải tối ưu cho những bài toán
kinh tế đó. Việc có được vốn như thế nào đã không dễ, việc sử dụng vốn
như thế nào lại càng là vấn đề khó hơn. Vấn đề sử dụng vốn như thế nào
cho hiệu quả từ trước tới nay luôn là bài toán làm đau đầu các nhà lãnh đạo
doanh nghiệp. Có những doanh nghiệp lớn, với những hiểu biết đi trước
của mình, với quy mô hoạt động và quy mô tài sản lớn, đã thành lập riêng
một trung tâm, một phòng, ban chuyên trách với những cán bộ chuyên môn
giỏi đảm nhiệm, quản lý về tài chính doanh nghiệp, trong đó có hoạt động
về sử dụng vốn. Với tầm nhìn chiến lược cần có như hiện nay, các doanh
nghiệp trung bình và nhỏ dần dần cũng không thể không xây dựng cho
mình một phòng ban như vậy.
Trong văn kiện đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng
định phát triển nền kinh tế nước ta theo nền kinh tế thị trường có sự định

CHƯƠNG I
VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TRONG DOANH NGHIỆP.
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triền vì nhiều mục tiêu khác nhau
như: tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hoá
lợi nhuận, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp,
tối đa hóa giá trị tài sản doanh nghiệp, v.v... Tất cả các mục tiêu cụ thể đó
nói chung đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hoá giá trị tài sản cho
các chủ sở hữu. Song dù với bất cứ mục tiêu cụ thể hay mục tiêu tổng quát
nào nằm trong các giai đoạn phát triển khác nhau của doanh nghiệp, thì các
nhà lãnh đạo doanh nghiệp đều cần đến những thông tin quan trọng liên
quan đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình. Một trong
những nguồn thông tin quan trọng đó là thông tin về vốn và hiệu quả sử
dụng vốn trong doanh nghiệp. Từ đó các chiến lược kinh doanh và các
quyết định tài chính của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp được xây dựng và
ban hành. Ngược lại, các quyết định này cũng nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn và tăng giá trị tài sản cho doanh nghiệp. Trong phần tổng quan
này, bằng việc tìm hiểu các khái niệm, các chỉ tiêu và các yếu tố liên quan
đến vốn và sử dụng vốn, chúng ta sẽ hiểu rõ được tầm quan trọng của vốn
và việc sử dụng vốn đối với các doanh nghiệp.
1.1 Tổng quan về vốn và vai trò của vốn trong doanh nghiệp.
Mặc dù luật doanh nghiệp đã bỏ điều kiện về vốn pháp định đối với
đa số các ngành nghề nhưng vốn vẫn luôn là điều kiện không thể thiếu
được để một doanh nghiệp tiến hành các công việc cho giai đoạn thành lập
và giai đoạn đi vào các hoạt động sản xuất kinh doanh để tồn tại và phát
triển. Vì vậy việc tìm hiểu sâu về vốn, nắm chắc những kiến thức về vốn

3

luôn là yếu tố quan trọng giúp cho các nhà điều hành doanh nghiệp hoạch

tài sản vẫn được quản lý dưới hình thức tiền tệ vì đó là số vốn ứng trước
của doanh nghiệp.
Hình thái giá trị: Vốn được biểu hiện dưới hình thái giá trị là tiền
trong các quỹ tiền mặt dùng để phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần một lượng vốn nhất định ngay từ
lúc thành lập để làm thủ tục đăng ký kinh doanh hay mua sắm trang thiết bị
ban đầu, sau đó thì phải có vốn để chi cho quá trình tồn tại và phát triển.
Như vậy, vốn có thể biểu hiện dưới nhiều hình thái vật chất hay phi vật
chất khác nhau. Tuy nhiên, dù được thể hiện dưới hình thái nào thì vốn của
doanh nghiệp cũng được sử dụng theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển
sau khi hoạt động sản xuất kinh doanh kết thúc.
1.1.2 Phân loại.
1.1.2.1 Căn cứ vào nguồn hình thành.
Căn cứ vào nguồn hình thành của vốn ta có thể xem vốn dưới hai
hình thức, đó là vốn chủ sở hữu và vốn đi vay (nợ).
a/ Vốn chủ sở hữu, bao gồm:
* Vốn góp ban đầu: Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ
doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông-
chủ sở hữu góp, hay do chính các thành viên, chủ doanh nghiệp đóng góp.
Nói chung hình thức sở hữu của doanh nghiệp sẽ quyết định tính chất và
hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp. Cụ thể đối với doanh nghiệp
Nhà nước thì vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước. Chủ sở
hữu của các doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước. Đối với các công ty cổ
phần thì phần vốn góp ban đầu do các cổ đông của công ty đóng góp. Các
cổ đông là chủ sở hữu của công ty, chịu trách nhiệm về phần vốn của mình
đã đóng góp. Đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn, số vốn này có thể
do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ của công ty. Còn đối

5

6

doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụng tín dụng
thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thương
trường. Nhưng việc sử dụng vốn đi vay từ ngân hàng cũng có những hạn
chế nhất định. Đó là các hạn chế về điều kiện tín dụng, sự kiểm soát của
ngân hàng và chi phí sử dụng vốn. Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng
thương mại hay tín dụng của người cung cấp phụ thuộc vào mối quan hệ
hình thành trong quá trình mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp.
Việc tận dụng được nguồn vốn này có ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động
kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp cũng như hoạt động kinh doanh về
phía nhà cung cấp. Việc sử dụng vốn từ tín dụng thương mại là một cách
thức sử dụng hợp lý vì chi phí của nguồn vốn này rẻ, tiện dụng và linh hoạt
trong kinh doanh; hơn nữa nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp
tác kinh doanh một cách lâu bền. Đối với việc sử dụng vốn thông qua phát
hành trái phiếu cũng cần được các doanh nghiệp quan tâm. Bởi sử dụng
nguồn vốn này có liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng
lưu hành của trái phiếu. Trên thị trường tài chính ở nhiều nước thường lưu
hành các loại trái phiếu như trái phiếu có lãi suất cố định, trái phiếu có lãi
suất thả nổi, trái phiếu có thể thu hồi và chứng khoán có thể chuyển đổi.
1.1.2.2 Căn cứ đặc điểm tuần hoàn của vốn.
Vốn được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp.
Các tài sản sẽ trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh và giá trị của chúng sẽ được chuyển dần vào giá trị của sản phẩm,
hàng hoá dưới dạng hao phí lao động. Do đó chu chuyển tuần hoàn của vốn
sẽ khác nhau. Dựa vào đặc điểm này, vốn được phân làm hai loại: vốn cố
định và vốn lưu động.
a/ Vốn cố định: Vốn cố định trong doanh nghiệp được biểu hiện dưới ba
hình thức, đó là giá trị tài sản cố định, giá trị các khoản đầu tư dài hạn, giá
trị chi phí xây dựng cơ bản dở dang.

tư xây dựng cơ bản.

8

Nhìn chung, ba hình thức trên cùng biểu hiện về mặt giá trị cấu thành
vốn cố định của doanh nghiệp và ba bộ phận này sẽ luân phiên chuyển hoá
cho nhau trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Sự thay đổi như thế nào và tỷ trọng của các thành phần này ra sao
sẽ phụ thuộc vào các quyết định đầu tư và sử dụng vốn của các nhà quản lý
doanh nghiệp.
b/ Vốn lưu động: Vốn lưu động đóng một vai trò rất lớn trong sự tồn tại và
phát triển đối với doanh nghiệp. Vốn lưu động là số tiền ứng trước về tài
sản lưu động để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục.
Đặc điểm cơ bản của vốn lưu động là nó tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh dưới hình thức đối tượng lao động, không ngừng vận động
và luôn thay đổi hình thái biểu hiện. Giá trị của nó được dịch chuyển một
lần vào giá trị hàng hoá và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy thời gian chu chuyển
của vốn lưu động sẽ nhanh hơn vốn cố định.
Vốn lưu động là điều kiện không thể thiếu được trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy trong quản lý cần xác định đúng
đắn giá trị hợp lý của vốn lưu động và các nguồn bù đắp để cung cấp kịp
thời khi cần thiết. Bên cạnh đó, người quản lý phải theo sát sự dịch chuyển
của vốn lưu động bằng cách thu hồi nhanh và có kế hoạch sử dụng hợp lý ở
các khâu tiếp theo. Cần tăng nhanh vòng quay, tránh ứ đọng lãng phí vốn
lưu động, đó là một trong những hoạt động cần thiết cho sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp.
Để góp phần vào việc sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả vốn lưu động
nhằm đáp ứng các yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh, người ta sắp
xếp vốn lưu động thành từng nhóm theo những tiêu thức nhất định:

đáp ứng nhu cầu cấp thiết với thời gian huy động vốn nhanh chóng và
chính xác.
1.1.2.4 Căn cứ vào thời gian sử dụng.

10

Nhìn trên góc độ thời gian sử dụng của vốn, vốn được chia làm hai
thành phần tiêu biểu, đó là thành phần vốn ngắn hạn và thành phần vốn
trung, dài hạn.
a/ Vốn ngắn hạn: vốn ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm chủ yếu các
khoản nợ ngắn hạn, các khoản phải trả, phải nộp, các khoản chậm trả. Bên
cạnh đó là các khoản vốn có được do cầm cố thế chấp tài sản. Nhìn chung
đây cũng là khoản vốn quan trọng nhưng chiếm tỷ trọng không lớn trong
tổng vốn của doanh nghiệp so với tỷ trọng của phần vốn trung và dài hạn.
Sử dụng phần vốn này, doanh nghiệp cần cân nhắc về chi phí vốn và khả
năng hoàn trả trong một thời gian ngắn.
b/ Vốn trung và dài hạn: đây là thành phần thường chiếm một tỷ trọng lớn
trong tổng vốn của doanh nghiệp. Vốn này có tính chất lâu dài và bền
vững. Tuy nhiên sử dụng vốn này thì chi phí vốn cũng không nhỏ. Vốn
trung và dài hạn của doanh nghiệp bao gồm chủ yếu là vốn đi vay dài hạn
từ ngân hàng hay các tổ chức tín dụng, vốn góp của các cổ đông hay vốn từ
lợi nhuận không chia. Việc sử dụng vốn này cũng đòi hỏi các nhà điều
hành doanh nghiệp cân nhắc và có kế hoạch hợp lý, tránh lãng phí, đầu tư
không hiệu quả.
Có thể nói rằng việc phân loại vốn là hết sức quan trọng đối với yêu
cầu của quản lý vốn hiện nay. Phân loại vốn mới giúp cho các nhà quản lý
tài chính nắm bắt được rõ ràng về sự biến động đối với các thành phần làm
nên cơ cấu của vốn. Phân loại vốn cũng giúp cho hoạt động tài chính của
doanh nghiệp được minh bạch hơn, và phân loại vốn giúp cho quá trình
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cụ thể hơn, chi tiết hơn và chính xác hơn.

chỉ yêu cầu đối với một số ngành nghề kinh doanh nhất định. Tuy vậy
điều đó không có nghĩa là doanh nghiệp khi mới thành lập không cần
đến vốn. Trang trải các chi phí thành lập doanh nghiệp, mua sắm trang
thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết,
chuẩn bị các cơ sở vật chất thiết yếu, tất cả những việc đó đều cần đến

12

một lượng vốn không nhỏ để doanh nghiệp ra đời và có thể đi vào hoạt
động.
Thứ hai, trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một trong
những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
Vốn không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây
truyền công nghệ để phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho
hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục.
Thứ ba, vốn là yếu tố quan trọng quyết định năng lực sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên
thương trường. Điều này càng thể hiện rõ trong nền kinh tế thị trường
hiện nay với sự cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp phải không ngừng
cải tiến máy móc thiết bị, đầu tư hiện đại hóa công nghệ, thực hiện các
hoạt động marketing, quảng cáo, xây dựng thương hiệu, v.v... tất cả
những yếu tố này muốn đạt được đòi hỏi doanh nghiệp phải có một
lượng vốn đủ lớn.
Thứ tư, vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi
hoạt động của doanh nghiệp. Có vốn giúp doanh nghiệp đầu tư mở rộng
sản xuất, quảng bá sản phẩm dịch vụ của mình, thâm nhập vào thị trường
mới, từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp
trên thương trường.
Nhận thức được vai trò quan trọng của vốn như vậy, doanh nghiệp
cần phải có những biện pháp hữu hiệu huy động đủ vốn cho doanh

không bị mất mát hoặc ăn chia vào vốn, không được tạo ra lãi giả để làm
giảm vốn, kể cả vốn cố định và vốn lưu động. Đồng thời, người sử dụng
vốn phải thường xuyên duy trì được giá trị đồng vốn của mình thể hiện
bằng năng lực sản xuất của tài sản cố định, khả năng mua sắm vật tư cho
khâu dự trữ và tài sản lưu động định mức nói chung, duy trì khả năng thanh
toán của doanh nghiệp. Do đó trong điều kiện có trượt giá tăng lên thì số

14

vốn được cấp ban đầu (hoặc tự bổ sung) cũng phải được tăng theo để duy
trì năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài trách nhiệm bảo toàn vốn, các doanh nghiệp còn có trách
nhiệm chăm lo phát triển vốn, thường xuyên bổ sung và tăng vốn để tự mở
rộng, đổi mới công nghệ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.5.2 Chi phí vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
Chi phí vốn đầu tư là chỉ tiêu được sử dụng chủ yếu để hoạch định
cơ cấu vốn cũng như cơ cấu tài sản. Có thể hiểu chi phí vốn là chi phí cơ
hội của việc sử dụng vốn, được tính bằng số lợi nhuận kỳ vọng đạt được
trên vốn đầu tư vào dự án hoặc doanh nghiệp để giữ không làm giảm số lợi
nhuận dành cho chủ sở hữu.
Thông thường, đối với nhà quản lý tài chính, sau khi nghiên cứu chi
phí vốn và phân tích một số nhân tố, việc tiếp theo là thiết lập một cơ cấu
vốn hợp lý. Mục tiêu này có thể thay đổi theo thời gian khi những điều kiện
thay đổi. Nhưng tại bất kỳ thời điểm nào cho trước, ban quản lý doanh
nghiệp đều có một cơ cấu vốn nhất định và những quyết định tài trợ phải
thích hợp với mục tiêu này. Nếu tỷ lệ nợ thực tế lớn hơn tỷ lệ nợ mục tiêu,
cổ phiếu sẽ có thể được bán. Chính sách cơ cấu vốn liên quan tới mối quan
hệ giữa lợi nhuận và rủi ro. Việc tăng sử dụng nợ làm tăng rủi ro đối với
thu nhập và tài sản của chủ sở hữu. Có bốn nhân tố tác động đến những
quyết định về cơ cấu vốn, đó là: rủi ro kinh doanh, chính sách thuế, khả

hay tối đa hoá giá trị tài sản của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế rất quan
trọng vì nó có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
Hiệu quả xã hội phản ánh kết quả mà xã hội thu được từ các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả xã hội tạo ảnh
hưởng không nhỏ tới các quyết định kinh doanh của các nhà điều hành
doanh nghiệp.

16

Như vậy hiệu quả có thể được thể hiện bằng công thức sau:
Trong thực tế, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có khi thống nhất,
có khi mâu thuẫn nhau. Nếu doanh nghiệp đầu tư có lãi thì đời sống cán bộ
công nhân viên cũng được cải thiện đồng thời tăng nguồn thu cho ngân
sách để thực hiện các chính sách xã hội. Như vậy doanh nghiệp vừa đạt
hiệu quả kinh tế vừa đạt hiệu quả xã hội. Nhưng nếu doanh nghiệp kinh
doanh sản xuất gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động
của cá nhân, tổ chức khác, trốn lậu thuế thì doanh nghiệp đó chỉ đạt được
hiệu quả kinh tế mà không đem lại hiệu quả xã hội, thậm chí gây ảnh
hưởng đến hiệu quả xã hội. Lúc này hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội là
mâu thuẫn nhau.
Như vậy dựa trên cách nhìn nhận về hiệu quả, ta cũng có thể thấy
đôi nét về hiệu quả sử dụng vốn. Hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở kết
quả do vốn mang lại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp so với chi phí huy động vốn. Cũng có thể hiểu hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng
lực khai thác và sử dụng vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất
kinh doanh làm cho đồng vốn sinh lời nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích
và tối thiểu hoá chi phí.
Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ

quả sử dụng vốn làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, là cơ sở để nâng cao
đời sống, thu nhập cho cán bộ công nhân viên, góp phần đóng góp vào sự
phát triển của xã hội. Như vậy có thể khẳng định rằng việc nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn sẽ có ý nghĩa tích cực đối với doanh nghiệp nói riêng và
toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Bằng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn, các nhà điều hành
doanh nghiệp sẽ đánh giá được thực trạng sử dụng vốn của doanh nghiệp
mình. Việc sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chính là
việc sử dụng các công cụ phân tích tài chính để đưa ra các đánh giá và
quyết định tài chính quan trọng cho doanh nghiệp.
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn.

18

Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương
pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin
khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp,
đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
đó. Phương pháp truyền thống được áp dụng trong phân tích tài chính là
phương pháp tỷ số, phương pháp này được phản ánh thông qua hệ thống
các chỉ tiêu. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn là một nội dung trong phân
tích tài chính. Do vậy khi phân tích, đánh giá về thực trạng hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp, các nhà phân tích cũng thông qua hệ thống các
chỉ tiêu đánh giá về tình hình sử dụng vốn. Thông tin dùng để phân tích
cũng rất quan trọng đối với các nhà phân tích. Nó là tư liệu quan trọng bậc
nhất giúp các nhà phân tích đánh giá khả năng cân bằng tài chính hoặc khả
năng thanh toán, hay cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Các báo cáo tài chính
chính là nguồn tin quan trọng bên cạnh việc quan sát tình hình thực tiễn,
cung cấp các thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm
năng về vốn, lao động kỹ thuật, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của

thuế vì nó phản ánh kết quả thực tế hoạt động của doanh nghiệp, còn nếu
dùng lợi nhuận sau thuế chỉ nói lên được kết quả khi doanh nghiệp hoàn
thành nghĩa vụ với nhà nước.
c/ Doanh lợi vốn chủ sở hữu.20

Lợi nhuận thu được trong kỳ
Doanh lợi vốn =
Tổng số vốn sử dụng bình quân trong
kỳ

Lợi nhuận thu được trong kỳ
Doanh lợi vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu bình quân trong
kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, trình
độ sử dụng vốn của người quản trị doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn
càng tốt. Tuy nhiên chỉ tiêu này có hạn chế là nó phản ánh một cách
phiến diện. Do mẫu số chỉ đề cập đến vốn chủ sở hữu bình quân trong
kỳ, trong khi hầu hết đối với các doanh nghiệp thì nguồn vốn huy động
từ bên ngoài chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng nguồn vốn. Do đó
nếu chỉ nhìn vào chỉ tiêu này nhiều khi đánh giá thiếu chính xác.
Qua đây ta thấy, ba chỉ tiêu trên đã cho một cái nhìn tổng quát về
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra người ta còn sử dụng
một số chỉ tiêu khác như tỷ suất thanh toán ngắn hạn, số vòng quay các
khoản phải thu, ... Tuy nhiên như ta đã biết nguồn vốn của doanh nghiệp
được phân làm hai loại là vốn cố định và vốn lưu động. Do đó, các nhà

đồng doanh thu thuần trong một năm. Như vậy giá trị này càng lớn thì
hiệu quả sử dụng vốn cố định càng cao và ngược lại, nếu chỉ tiêu này
thấp so với chỉ số trung bình ngành thì chứng tỏ doanh nghiệp chưa khai
thác được hết ích lợi của tài sản cố định.
b/ Doanh lợi vốn cố định.
Đây là chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giá chất lượng và hiệu
quả sử dụng vốn cố định bằng tỷ số lợi nhuận trong kỳ kinh doanh. Chỉ

22

Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Vốn cố định sử dụng bình quân trong
kỳ

Lợi nhuận
Doanh lợi vốn cố định =
Vốn cố định sử dụng bình quân trong
kỳ

tiêu này cho biết trung bình một đồng vốn cố định tạo ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn càng chứng tỏ việc sử dụng vốn cố
định là có hiệu quả.
c/ Hệ số bảo toàn vốn cố định.
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp đã thực hiện được việc bảo
toàn vốn cố định so với kế hoạch như thế nào. Nếu hệ số này lớn hơn
hoặc bằng một thì doanh nghiệp đã bảo toàn được vốn cố định. Ngược
lại nếu hệ số này nhỏ hơn một thì doanh nghiệp đã không bảo toàn và
phát triển được vốn cố định.
Nói chung, những chỉ tiêu nêu trên cũng chỉ cung cấp những

quân trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Do vậy, chỉ
tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.
Doanh thu phản ánh quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh cũng
như vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Có doanh thu mới có
thể bù đắp được chi phí kinh doanh và là cơ sơ để có lợi nhuận, đảm bảo
khả năng thanh toán, khả năng phát triển trong giai đoạn tiếp theo. Tuy
vậy, trong kinh tế, doanh thu chỉ mang tính tổng quát, nó chưa biểu hiện
rõ kết quả cụ thể từ hoạt động kinh doanh. Do vậy ngoài việc xem xét
hiệu suất sử dụng vốn lưu động, các nhà điều hành doanh nghiệp cần
quan tâm thêm các chỉ tiêu khác như doanh lợi vốn lưu động,
b/ Doanh lợi vốn lưu động.24

Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng vốn lưu động =
Vốn lưu động sử dụng bình quân
trong kỳ

Lợi nhuận
Doanh lợi vốn lưu động =
Vốn lưu động sử dụng bình quân trong
kỳ

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt
động sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Cũng giống như các chỉ tiêu khác, chỉ tiêu này càng lớn phản ánh
mức sử dụng vốn lưu động càng hợp lý. Phản ánh mức sinh lời của vốn
lưu động, chỉ tiêu này là thước đo quan trọng trong việc cân nhắc các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status