luận văn thạc sĩ kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Tổng Công ty Cổ phần May 10 - Pdf 26

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu
và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được ai
sử dụng trong bất kỳ luận văn nào trước đây.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
LÊ THỊ THU HẰNG
1
1
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo, đặc biệt là
người hướng dẫn khoa học PGS.TS. Nguyễn Thị Đông đã hướng dẫn, chỉ
bảo, giúp đỡ nhiệt tình tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Do tính phức tạp của đề tài nghiên cứu, cộng với khả năng cũng như
kinh nghiệm của tác giả còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót nhất định.
Tác giả rất mong nhận được những sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
giáo và những nhà nghiên cứu khác để nội dung được nghiên cứu trong luận
văn hoàn thiện hơn.
2
2
MỤC LỤC
3
3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CPSX Chi phí sản xuất
CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CPNCTT Chi phí nhân công trực tiếp
CPSXC Chi phí sản xuất chung
CPSXDDDK Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ
CPSXDDCK Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

phát triển hệ thống các quy định của kế toán nước ta, góp phần vào giúp các
doanh nghiệp hạch toán thống nhất các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Tuy
nhiên, việc đưa các chính sách, chế độ kế toán vào thực tế công tác kế toán
tại các doanh nghiệp vẫn còn một số bất cập cần thiết phải tổng kết, đánh giá
và đưa ra phương hướng hoàn thiện.
Hiện nay, công tác kế toán của các doanh nghiệp được thực hiện theo
một trong hai chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 đối với các loại hình, quy mô doanh
nghiệp hoặc quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa của Bộ trưởng Bộ tài chính. Việc sử dụng chế độ kế toán
của doanh nghiệp quy định việc sử dụng hệ thống chứng từ, tài khoản, hạch
toán, hệ thống sổ sách, và hệ thống báo cáo của doanh nghiệp.
Đề tài nhằm tổng kết lại hệ thống lý thuyết, những quy định về hạch
toán kế toán về chi phí sản xuất và các phương pháp tính giá thành trong loại
hình doanh nghiệp sản xuất.
• Về mặt thực tiễn
Sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất gay gắt, sự sống
còn của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào sức mạnh của sự cạnh tranh.
Đối với mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh, muốn tồn tại được cần phải chiếm
lĩnh được thị trường, được người tiêu dùng chấp nhận sản phẩm của doanh
nghiệp cả về chất lượng và giá cả. Các doanh nghiệp đều mong muốn có một
sự kết hợp tối ưu giữa các yếu tố sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm có
chất lượng cao và giá cả hợp lý mà người tiêu dùng có thể chấp nhận được.
7
Mặt khác, doanh nghiệp cũng cần phải thường xuyên theo dõi thông tin về giá
cả thị trường để có thể tính toán chi phí sản xuất như thế nào để thu lại được
một lợi nhuận tối đa.
Ngày nay, khi sự cạnh tranh không chỉ đơn thuần là sự cạnh tranh về
chất lượng của sản phẩm mà còn là sự cạnh tranh về giá cả, thì vấn đề giảm
chi phí, hạ giá thành sản phẩm luôn luôn được đặt lên mục tiêu hàng đầu đối

tác kiểm soát chi phí, xác định giá thành tại công ty.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Bài viết của tác giả Ngô Thành Nam, 2009, Hoàn thiện hệ thống kế
toán tại các doanh nghiệp ngành may mặc trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Báo
kinh tế và dự báo, đã có những giải pháp hoàn thiện cho các doanh nghiệp
ngành may trên địa bàn tỉnh này. Trên cơ sở khảo sát số liệu thực tế, giải pháp
mà tác giả đưa ra gồm:
Hoàn thiện việc phân loại chi phí: tác giả đã đề xuất hướng phân loại
theo mức độ ứng xử trong doanh nghiệp may mặc. Với chi phí sản xuất chung
phát sinh như khảo sát hầu hết là chi phí hỗn hợp thì các doanh nghiệp có thể
sử dụng phương pháp cực đại – cực tiểu hoặc bình phương bé nhất để tách
thành biến phí và định phí
Tác giả đề xuất hoàn thiện hạch toán thiệt hại trong doanh nghiệp may
mặc thông qua việc quy định rõ tỷ lệ sản phẩm hỏng trong và ngoài định mức
tại doanh nghiệp để loại trừ chi phí ngoài định mức khỏi giá thành.
Với đặc điểm các doanh nghiệp gia công theo các đơn đặt hàng, tác giả
đề xuất lựa chọn kỳ tính giá thành theo thời gian gia công đơn đặt hàng sẽ
giúp tiết kiệm thời gian và công sức va tính toán chính xác.
Để quản lý chi phí sản xuất, các doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống
định mức chi phí sản xuất
9
Xây dựng và vận hành hệ thống kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm.
Bài viết đã có những hướng hoàn thiện cho kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm doanh nghiệp may mặc trên địa bàn tỉnh Hải Dương
theo cả hướng kế toán tài chính và kế toán quản trị. Tuy nhiên, giải pháp đưa
ra chưa có số liệu tính toán, các bước thực hiện giải pháp và kết quả cụ thể
của các giải pháp hoàn thiện.
Nghiên cứu của Nguyễn Bích Hương Thảo (2013) đăng trên Tạp chí Tài
chính số 8 “Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm cho các doanh nghiệp chế

Thông qua đó phát hiện những mặt hạn chế còn tồn tại và đề xuất các giải pháp
hoàn thiện kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm may mặc GCXK.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong quá trình nghiên
cứu tác giả luôn chú trọng vào việc tìm lời giải cho các câu hỏi sau:
- Kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm tại các DNSX dựa trên lý luận nào?
- Thực trạng về kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm may mặc gia công xuất
khẩu tại Tổng Công ty CP May 10 như thế nào?
- Cần có những giải pháp nào để hoàn thiện kế toán chi phí, tính giá thành sản
phẩm may mặc giao công xuất khẩu tại Tổng Công ty CP may 10?
4. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mục đích khái quát hóa lại hệ thống lý luận về kế
toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh
nghiệp sản xuất.
Tìm hiểu những đặc điểm và thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm của hoạt động may gia công xuất khẩu trong các công ty
may. Từ đó, đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong hoạt động may gia công xuất khẩu.
Đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm may mặc gia công xuất khẩu trong các doanh nghiệp dệt may.
5. Đối tượng nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu:
11
Đề tài tập trung vào nghiên cứu công tác kế toán chi phí, tính giá thành sản
phẩm may mặc gia công xuất khẩu tại Tổng công ty CP May 10.
 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ thực hiện khảo sát tại Tổng công ty CP May 10
- Đề tài chỉ đặt ra vấn đề nghiên cứu trong phạm vi số liệu năm 2012-2013
- Nội dung nghiên cứu:
Việc nghiên cứu chỉ thực hiện trên phương diện kế toán tài chính trong công ty.
Về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tập trung vào hoạt động may

Đối với dữ liệu sơ cấp
Sau khi tìm hiểu được những quyết định, thông tư, văn bản pháp lý ảnh hưởng
đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty nhằm so sánh và tìm hiểu
thực trạng tại doanh nghiệp và phân tích sự tác động của những văn bản pháp lý đến
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các công ty nghiên cứu.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh
mục sơ đồ và bảng biểu, lời mở đầu, tài liệu tham khảo, các phụ lục, nội dung
chính của luận văn được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm may
mặc gia công xuất khẩu tại Tổng công ty CP May 10.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí, tính giá thành sản
phẩm may mặc gia công xuất khẩu tại Tổng Công ty CP May 10.
13
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ, TÍNH GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm trong các DNSX và vai trò
của kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm.
1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất
Thuật ngữ chi phí có từ thời trung cổ (từ thế kỷ thứ V sau công nguyên) từ đó
cho đến nay người ta vẫn quan niệm chi phí như là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy
sự thu về. Xét về bản chất, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao
phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hoá thực tế mà doanh nghiệp đã chi
ra trong quá trình sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình doanh nghiệp khai thác, sử dụng
lao động, vật tư, tiền vốn … để sản xuất kinh doanh sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. Đó

Chi tiêu của doanh nghiệp là sự chi ra, sự giảm đi thuần tuý của tài sản doanh
nghiệp không kể các khoản đã dùng vào việc gì và dùng như thế nào. Mặc dù chi
tiêu là cơ sở của chi phí song chi phí của doanh nghiệp sẽ không bao gồm các khoản
chi tiêu có đặc điểm sau:
- Các khoản chi tiêu làm giảm 1 tài sản này nhưng làm tăng 1 tài sản khác
hoặc làm giảm 1 khoản nợ phải trả trong doanh nghiệp.
- Các khoản chi tiêu làm tăng 1 khoản nợ phải trả nhưng đồng thời làm tăng 1
tài sản hoặc giảm 1 khoản nợ phải trả khác của doanh nghiệp.
Như vậy, chi phí chỉ bao gồm các trường hợp làm giảm tài sản hoặc tăng
khoản nợ phải trả nhưng không kèm theo các biến động khác. Do có sự không phù
hợp giữa thời gian phát sinh các khoản chi tiêu và thời gian phát huy tác dụng của
nó đối với thu nhập của doanh nghiệp nên chi phí và chi tiêu có sự khác biệt về thời
gian: Khoản chi tiêu ở kỳ này nhưng còn được chờ phân bổ ở kỳ sau (chi phí trả
trước). Khoản được tính vào chi phí của kỳ này ( chi phí phải trả ) nhưng chưa được
15
chi tiêu (sẽ chi ở các kỳ sau).
Còn theo Giáo trình kế toán quản trị (2004), trường Đại học Kinh tế quốc
dân: Chi phí là một khoản hao phí bỏ ra để thu được một số sản phẩm hoặc dịch vụ
nào đó. Bản chất của chi phí phải mất đi để đổi lấy một khoản thu về.
Các khái niệm trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, về mức độ khái quát
nhưng đều thể hiện bản chất của chi phí là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy sự
thu về, có thể thu về dưới dạng vật chất định lượng được như số lượng sản phẩm
hoặc thu về dưới dạng tinh thần hay dịch vụ được phục vụ.
1.1.1.2. Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí lao động
sống và lao động vật hóa mà DN bỏ ra có liên quan đến khối lượng sản phẩm, công
việc, lao vụ và dịch vụ đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là thước đo giá trị và cũng là một đòn bẩy kinh tế, nó là
một chỉ tiêu kinh tế quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của DN, là chỉ
tiêu tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình hoạt động

chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào việc chế tạo sản xuất sản phẩm.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các chi phí về tiền lương, phụ cấp
phải trả và các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ trên tiền lương của công
nhân trực tiếp sản xuất .
+ Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dùng cho việc quản lý và phục vụ sản
xuất cho bộ phận sản xuất, phân xưởng sản xuất .
 Phân loại chi phí sản xuất theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành

Theo cách này, toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành biến phí, định phí,
chi phí hỗn hợp.
+ Biến phí: Là những chi phí thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi về khối
lượng sản phẩm, công việc hoàn thành, chẳng hạn như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
chi phí nhân công trực tiếp….Biến phí thay đổi theo tỷ lệ thuận với khối lượng sản
phẩm, công việc hoàn thành, nhưng lại là hằng số nếu tính trên một đơn vị sản phẩm.
+ Định phí: Là những chi phí không đổi so với khối lượng sản phẩm, công
việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí về thuê mặt bằng
17
SX….Định phí tính cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành sẽ thay đổi nếu số lượng
sản phẩm thay đổi.
+ Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tố của
định phí và biến phí.
 Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp vào các đối tượng kế toán chi phí
+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng
kế toán tập hợp chi phí mà kế toán có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu
chi phí. Trong quản trị doanh nghiệp nói chung và kế toán quản trị nói riêng, nếu
loại chi phí này chiếm đa số trong tổng chi phí thì sẽ thuận lợi cho việc kiểm soát
chi phí và dễ dàng trong việc xác định nguyên nhân gây ra chi phí.
+ Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán
tập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập
hợp chi phí được mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng phát

nhau, giá thành được phân thành các loại khác nhau.
 Theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được tính trên cở sở chi phí sản xuất kế
hoạch và số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch do bộ
phận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu quá
trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của
doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch
hạ giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: Là giá thành được tính trên cơ sở các định mức chi phí
hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định mức là công cụ quản lý định
mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật
tư, lao động trong sản xuất, giúp đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật đã
thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Giá thành thực tế: Là giá thành được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất
thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như sản lượng sản phẩm thực tế
đã sản xuất trong kỳ. Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán, được sau khi kết thúc
quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và được tính toán cho cả chỉ tiêu tổng giá
19
thành và giá thành đơn vị. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh
kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh
tế, kỹ thuật, tổ chức và công nghệ….để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ
sở để xác định kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp và nghĩa vụ của doanh
nghiệp đối với Nhà nước cũng như đối với các đối tác liên doanh liên kết.
 Theo phạm vi tính toán vào chi phí vào giá thành
- Giá thành sản xuất: Là giá thành bao gồm toàn bộ toàn bộ các chi phí cố
định và chi phí biến đổi thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Chỉ tiêu giá thành sản xuất toàn bộ có ý nghĩa
quan trọng trong quản trị doanh nghiệp. Dựa vào giá thành sản xuất toàn bộ, doanh
nghiệp có thể xác định được kết quả sản xuất sản phẩm là lãi hay lỗ. Nó đóng vai
trò chủ yếu trong các quyết định mang tính chiến lược dài hạn. Quyết định ngừng

dựa trên giá thành sản phẩm chính xác. Về phần giá thành thì giá thành lại chịu ảnh
hưởng của kết quả tổng hợp chi phí sản xuất sản xuất. Do vậy, tổ chức tốt công tác
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm để xác định nội dung, phạm vi
chi phí cấu thành trong giá thành cũng như lượng giá trị các yếu tố chi phí đã dịch
chuyển vào sản phẩm hoàn thành là yêu cầu rất cần thiết đối với các doanh nghiệp
nói chung và doanh nghiệp sản xuất nói riêng.
Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm là tiền đề để xác định kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, tránh tình trạng lãi giả, lỗ thật như một số năm
trước đây. Khi nền kinh tế đang trong thời kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp
hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh, vật tư, tiền vốn do cấp trên cấp, giá thành là giá
thành kế hoạch định sẵn. Vì vậy, công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm chỉ mang tính hình thức. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh
nghiệp được chủ động hoạt động sản xuất kinh doanh theo phương hướng riêng và
phải tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Để có thể cạnh tranh
được trên thị trường, công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
còn phải thực hiện đúng theo những quy luật khách quan.Như vậy, kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm sản xuất là phần không thể thiếu được đối với
21
các doanh nghiệp sản xuất khi thực hiện chế độ kế toán, hơn nữa là nó có ý nghĩa to
lớn và chi phối chất lượng công tác kế toán trong toàn doanh nghiệp.
Vậy tóm lại giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp có các vai trò cơ bản
sau đây:
- Chức năng thước đo bù đắp chi phí : Giá thành sản phẩm biểu hiện hao phí
về vật chất mà các doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Những
hao phí vật chất này cần phải được bù đắp đầy đủ kịp thời để đảm bảo yêu cầu tái
sản xuất. Bù đắp hao phí sản xuất là vấn đề quan tâm đầu tiên của các doanh nghiệp
bởi hiệu quả kinh tế được thể hiện ra trước hết là ở chỗ doanh nghiệp có khả năng
bù lại những gì mà mình đã bỏ ra hay không. Đủ bù đắp là khởi đầu của hiệu quả và
là yếu tố đầu tiên để xem xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chức năng thước đo hiệu quả, chất lượng của hoạt động sản xuất kinh

lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá
khứ, hiện tại và tương lai.
Như vậy, mọi chi phí phát sinh của doanh nghiệp phải được ghi nhận tại
thời điểm phát sinh, không căn cứ vào dòng tiền ra và vào doanh nghiệp. Chỉ khi
tuân thủ đúng nguyên tắc này, báo cáo tài chính mới phản ánh được tình hình tài
chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
- Nguyên tắc giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của
tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính
theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài
sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.
Mọi tài sản của doanh nghiệp khi xuất dùng (nguyên vật liệu và công cụ dụng
cụ) phải được ghi nhận theo giá gốc, khi phản ánh chúng theo giá thị trường tại thời
điểm đưa tài sản đó vào quá trình sản xuất sản phẩm. Thực hiện nguyên tắc này để
đảm bảo tính khách quan của số liệu kế toán, xác định được kết quả kinh doanh và
đơn giản hơn trong việc ghi chép, thuận lợi cho công tác quản lý.
- Nguyên tắc phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với
nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương
23
ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu
gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải
trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó.
Do đó, tất cả các khoản chi phí cấu thành nên sản phẩm sẽ được tập hợp tạo
ra giá vốn của sản phẩm đó và phải phù hợp với doanh thu của sản phẩm được cung
cấp trong một khoảng thời gian xác định.
- Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp
đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp
có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh
hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.
Tuân thủ nguyên tắc nhất quán, đảm bảo cho việc ghi nhận các yếu tố chi phí
một cách hợp lý, không tạo nên các thay đổi bất thường trong giá thành sản phẩm

Theo quy định của VAS 02 được ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-
BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 và được áp dụng từ ngày 01/01/2002. Chuẩn mực
này đưa ra những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán
hàng tồn kho gồm có:
- Xác định giá trị và kế toán hàng tồn kho được tính vào chi phí
- Ghi giảm giá trị hàng tồn kho cho phù hợp với giá tri thuần có thể thực hiện
được và phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo
cáo tài chính.
Đối tượng điều chỉnh của chuẩn mực là hàng tồn kho như tài sản được giữ đề
bán trong kỳ SXKD bình thường(thành phẩm), hay đang trong quá trình sản xuất,
kinh doanh dở dang(bán thành phẩm hay các sản phẩm dở dang) và các nguyên vật
liệu, công cụ, dụng cụ sản xuất. Như vậy đối tượng điều chỉnh của chuẩn mực này
cũng chính là đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Nội dụng chính của chuẩn mực đề cặp đến là là cách xác định trị giá của hàng tồn
kho theo phương pháp giá gốc.
Theo chuẩn mực này “ Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí
chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho
25
ở địa điểm và trạng thái hiện tại”.
Các chi phí được tính vào giá gốc của hàng tồn kho là:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gồm: giá mua của hàng tồn kho và chi phí
mua hàng(bốc dỡ, vận chuyển,…), các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá
hàng mua do hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất được trừ khỏi chi phí mua.
- Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm: chi phí lương, các khoản phụ cấp có
tính chất lương, khoản trích theo lương theo quy định của pháp luật.
- Chi phí sản xuất chung bao gồm: các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến
quá trình sản xuất sản phẩm như CPSX chung cố định và CPSX chung biến đổi.
Chi phí SXC chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường
không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất như chi phí khấu hao, chi phí bảo
dưỡng máy móc thiết bị nhà xưởng, chi phí quản lý hành chính ở các phân xưởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status