NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN BAN ĐẦU VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ VẬN TẢI TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ - Pdf 73

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN BAN ĐẦU VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ VẬN TẢI TRONG DOANH
NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ .
I . KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ VẬN TẢI
TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ .
1. Đặc điểm của nghành kinh doanh dịch vụ vận tải.
Theo đà phát triển của nền kinh tế và sự tiến bộ của văn minh nhân loại, dịch
vụ ở tất cả các lĩnh vực quản lý và công việc càng ngày càng khẳng định rõ vai
trò quan trọng của mình trong nền kinh tế quốc dân nói riêng cũng như trong
xã hội nói chung. Cho đến nay có nhiều tác giả đã đưa ra những khái niệm về
dịch vụ. Song nhìn chung, Dịch vụ theo ISO 8402 được hiểu là “ Dịch vụ là
kết quả của hoạt động sinh ra do tiếp xúc giữa bên cung ứng và khách hàng và
các hoạt động nội bộ bên cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng”.
Hoạt động kinh doanh dịch vụ rất đa dạng bao gồm các hoạt động kinh
doanh bưu điện, vận tải, du lịch, may đo, sửa chữa, dịch vụ khoa học kĩ thuật,
dịch vụ tư vấn, dịch vụ công cộng, vui chơi, giải trí, chụp ảnh, cho thuê đồ
dùng, cắt tóc, giặt là, ...
Căn cứ vào tính chất của hoạt động dịch vụ, người ta chia làm 2 loại dịch vụ:
• Dịch vụ có tính chất sản suất như dịch vụ vận tải, bưu điện, may đo, sửa
chữa,...
• Dịch vụ không có tính chất sản suất như dịch vụ hướng dẫn du lịch, giặt là,
chụp ảnh,...
Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thì hoạt động kinh doanh dịch vụ
là hoạt động kinh doanh chính, còn đối với các tổ chức kinh tế khác có hoạt
động chính là sản xuất, kinh doanh mua bán hàng hoá ...thì hoạt động dịch vụ
chỉ mang tính phụ trợ, bổ sung cho hoạt động kinh doanh .
Dịch vụ vận tải nói riêng là ngành sản suất vật chất đặc biệt, sản phẩm vận
tải là quá trình di chuyển hàng hoá, hành khách từ nơi này đến nơi khác và đo
được bằng các chỉ tiêu: tấn.km.hàng hoá vận chuyển và người.km.hành
khách.Chỉ tiêu chung của ngành vận tải là tấn .km tính đổi.
Sản phẩm của hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải tuyệt đại bộ phận không

2.1 Khái niệm.
Để tiến hành sản suất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có đầy đủ ba yếu tố
cơ bản đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Sự tham gia
của ba yếu tố trên vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có sự khác
nhau hình thành nên các yếu tố tương ứng là : chi phí về tư liệu lao động, chi
phí về đối tượng lao động , và chi phí lao động.Ba yếu tố này cấu thành nên giá
thành sản phẩm mới tạo ra.
Theo chuẩn mực số 01- Chuẩn mực chung ban hành và công bố theo quyết
định số 165/2002/QĐ - BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của bộ trưởng Bộ Tài
chính thì “ Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong
quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí
khác”.
Trong đó chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động
kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, như : giá vốn hàng bán, chi phí
bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay, và những chi phí
liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền
bản quyền,...những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tương
đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị.
Chi phí khác bao gồm các chi phí ngoài chi phí sản xuất, kinh doanh phát
sinh trong quá trình hoạt động linh doanh thông thường của doanh nghiệp,
như : chi phí về thanh lý, nhượng bán TSCĐ, các khoản tiền bị khách hàng
phạt do vi phạm hợp đồng,...
Trên thực tế, muốn công tác quản lý, sử dụng thông tin hạch toán chi phí và
giá thành nói chung cũng như chi phí vận tải và giá thành sản phẩm vận tải nói
riêng có hiệu quả ta phải hiểu được bản chất của chi phí vận tải. Hiện nay vẫn
còn nhiều cách hiểu khác nhau về bản chất và nội dung về bản chất và nội dung
của chi phí và giá thành sản phẩm vận tải. Vậy thực chất chi phí vận tải là gì ?
Chi phí vận tải là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động sống, lao
động vật hoá và các chi phí cần thiết khác chi ra cho quá trình hoạt động dịch
vụ vận tải trrong một thời kì nhất định .

nằm trong kế hoạch được duyệt ; chi phí cho công việc từ thiện ; các khoản chi
do vi phạm hợp đồng, vi phạm hành chính ...
2.3Phân loại chi phí kinh doanh dịch vụ vận tải .
Chi phí trong các doanh nghiệp vận tải bao gồm nhiều loại khác nhau, mỗi
loại chi phí có những tính chất khác nhau, mục đích công dụng khác nhau và
yêu cầu quản lý cũng khác nhau. Để quản lý chi phí vận tải một cách chặt chẽ,
tiết kiệm chi phí vận tải, hạ giá thành sản phẩm thì cần thiết phải tiến hành
nghiên cứu cách phân loại chi phí vận tải ô tô. Mỗi cách phân loại có nội dung,
tác dụng, yêu cầu và mục đích quản lý khác nhau. Phân loại chi phí vận tải
đúng đắn, khoa học, phù hợp với điều kiện quản lý kinh tế trong từng giai
đoạn là vấn đề quan trọng cả về lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng
công tác quản lý chi phí và quản lý giá thành sản phẩm vận tải, phát huy được
chức năng kiểm tra, giám sát và tổ chức thông tin cũng như cung cấp thông tin
chính xác cho việc điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh. Dưới đây là một
số cách phân loại chi phí vận tải.
a. Phân loại chi phí vận tải theo tính chất kinh tế của chi phí.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào tính chất, nội dung kinh tế của chi
phívận tải để chi ra các yếu tố chi phí, mỗi yếu tố chi phí bao gồm những chi
phí có cùng một nội dung kinh tế, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh
vực hoạt động nào, ở đâu và mục đích hay tác dụng của chi phí như thế nào.
Toàn bộ chi phí vận tải trong kỳ được chia thành các yếu tố chi phí sau:
+ Khấu hao TSCĐ.
+ Nhiên liệu.
+ Tiền lương công nhân viên chức.
+ Khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ.
+ Phụ tùng thay thế.
+ Các chi phí khác.
Cách phân loại này cho biết chi phí gồm những yếu tố gì ? Dung lượng của
từng yếu tố chi phí là bao nhiêu, nó phục vụ cho công tác thống kê, công tác dự
đoán nhu cầu về vốn, là căn cứ để lập các kế hoạch về quỹ tiền lương, kế hoạch

loại chi phí này gồm có: chi phí tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí công đoàn của lái xe, phụ xe, chi phí săm lốp, nhiên liệu,...
Phân loại chi phí theo cách này có ý nghĩa và tác dụng rất lớn trong việc xác
định điểm hoà vốn, phân tích dự đoán chi phí. Ngoài ra giúp cho những nhà
quản lý, quản lý chi phí của 1 đơn vị sản phẩm tốt hơn và tìm ra các biện pháp
để hạ giá thành sản phẩm.
d. Phân loại chi phí theo phương pháp tập hợp và đối tượng chịu chi phí.
Toàn bộ chi phí vận tải theo cách phân loại này chia thành 2 loại chi phí: Chi
phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
+ Chi phí trực tiếp : Là những chi phí liên quan một cách trực tiếp đến việc
hoàn thành sản phẩm vận tải, nó có thể hạch toán trực tiếp theo từng đối tượng
chịu chi phí như chi phí nhiên liệu, vật liệu...
+ Chi phí gián tiếp: Là những khoản chi phí có liên quan đến nhiều sản
phẩm vận tải. Các chi phí nàykhi phát sinh phải tập hợp lại để cuối kỳ phân bổ
cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu chuẩn phân bổ hợp lý.
Cách phân bổ này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phương pháp
tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm vận tải cho từng đối tượng một cách
khoa học và hợp lý.
Các chi phí gián tiếp trong kinh doanh vận tải hiện nay bao gồm:
+ Chi phí khấu hao TSCĐ.
+ Tiền lương.
+ Chi phí công cụ, dụng cụ.
+ Chi phí sửa chữa TSCĐ.
+ Chi phí đào tạo bồi dưỡng , quảng cáo,...
+ Các khoản chi phí khác.
e. Phân loại chi phí vận tải theo yếu tố chi phí.
Theo cách phân loại này, chi phí vận tải được chia thành các nội dung sau
đây:
+ Chi phí vật liệu trực tiếp : gồm toàn bộ các chi phí về nhiên vật liệu (xăng,
dầu) dùng trực tiếp cho phương tiện

Để phục vụ cho công tác kế toán cũng như công tác quản lý giá thành sản
phẩm vận tải, cần phải nghiên cứu các loại giá thành. Nhìn trên góc độ kế
hoạch hoá, giá thành dịch vụ vận chuyển bao gồm:
- Giá thành kế hoạch
- Giá thành định mức
- Giá thành thực tế
Mỗi loại giá thành nói trên có ý nghĩa, tác dụng khác nhau trong công tác
quản lý giá thành và quản lý chi phí vận tải.
3.2.1 Giá thành kế hoạch.
Là giá thành được tính toán trước khi tiến hành hoạt động sản xuất, kinh
doanh trên cơ sở các chỉ tiêu kế hoạch hay dự toán chi phí và sản lượng, công
việc dịch vụ.
Việc xác định giá thành kế hoạch nhằm giới hạn chi phí để thực hiện quá
trình kinh doanh vận tải, là cơ sở để doanh nghiệp phấn đấu hạ giá thành và
phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch trên thực tế.
3.2.2 Giá thành định mức
Là loại gía thành được tính toán trên cơ sở các định mức chi phí, kinh tế kỹ
thuật hiện hành do nhà nước hoặc nghành quy định.
Do đó khi các định mức kinh tế, kỹ thuật và các định mức chi phí thay đổi
thì giá thành định mức cũng thay đổi theo.
Giá thành định mức được coi như là một thước đo chuẩn xác để xác định kết
quả của việc tiết kiệm hay lãng phí chi phí thuộc giá thành sản phẩm dịch vụ
vận tải nói riêng cũng như giá thành dịch vụ nói chung.
Vì vậy, nó giúp cho doanh nghiệp có thể đánh giá được tính đúng đắn, hợp
lý của các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá
trình hoạt động kinh doanh.
3.2.3 Giá thành thực tế.
Là giá thành được tính toán sau khi đã hoàn thành quá trình kinh doanh vận
tải trên cơ sở chi phí vận tải thực tế tập hợp trong sổ kế toán và số lượng sản
phẩm đã hoàn thành trong kỳ.

trong quá trình tạo ra sản phẩm. Quản lý chi phí hoạt động này thực chất là
quản lý việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả các loại tài sản, vật tư lao
động, tiền vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh. Mặt khác chi phí vận tải
là cơ sở tạo nên giá thành sản phẩm dịch vụ vận tải, do đó tiết kiệm chi phí là
một trong những biện pháp để hạ giá thành, điều mà các doânh nghiệp vận tải
rất chú trọng.
Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế nói chung, quản lý chi phí và giá thành
nói riêng đòi hỏi các doanh nghiệp phải:
- Kế toán đúng đắn chi phí hoạt động vận tải phát sinh, tổ chức việc ghi chép
tính toán và phản ánh từng loại chi phí phát sinh theo từng đối tượng phải chịu
chi phí.
- Xác định đúng đối tượng tính giá thành, vận dụng một phương pháp tính giá
thành hợp lý phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh dịch vụ đặc
điểm của sản phẩm và yêu cầu quản lý thông tin trong nội bộ doanh nghiệp.
- Giá thành sản phẩm phải được tính theo ba khoản mục chi phí là chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
Ngoài ra căn cứ vào yêu cầu của thông tin nội bộ doanh nghiệp mà có thể chi
tiết các khoản mục chi phí một cách cụ thể hơn.
- Số liệu và kết quả tính giá thành phải được thể hiện trên bảng biểu mà qua đó
phải phản ánh được nội dung và phương pháp tính giá thành mà doanh nghiệp
đang áp dụng.
Công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dịch vụ vận tải
là một khâu quan trọng trong quá trình quản lý về dịch vụ vận tải của mỗi
doanh nghiệp vận tải nói riêng và của cả ngành dịch vụ nói chung. Tính đúng,
tính đủ giá thành sản phẩm dịch vụ dựa trên chi phí hoạt động kinh doanh phù
hợp với yêu cầu quản lý và kế toán sẽ là căn cứ giúp doanh nghiệp phản ánh
đúng tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp, xác
định chính xác kết quả kinh doanh góp phần quan trọng và thiết thực trong việc
tăng cường và cải tiến quản lý kinh tế tài chính chung của nhà nước.
4.2 . Nhiệm vụ của công tác kế toán.

sản phẩm cũng được hoàn thành.
+ Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp : tuỳ theo mục đích của
lãnh đạo vủa doanh nghiệp mà chia thành các đối tượng tập hợp chi phí khác
nhau .
Xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí vận tải sẽ là điều kiện để tính
toán chính xác giá thành sản phẩm vận tải, tạo tiền đề cho việc hạch toán ban
đầu và vận dụng tài khoản kế toán.
Đối tượng tập hợp chi phí vận tải là phạm vi, giới hạn mà các loại chi phí
vận tải cần được tập hợp. Như vậy có thể nói, việc xác định đối tượng tập hợp
chi phí vận tải chính là việc đi xác định nơi phát sinh chi phí và đối tượng chịu
chi phí.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status