Giải pháp phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn hiện nay - Pdf 26

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI CÁC SẢN PHẨM
THIẾT BỊ GIÁO DỤC PHỤC VỤ CHO CÁC TRƯỜNG HỌC Ở CÁC TỈNH PHÍA
BẮC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu về phát triển thương mại các sản phẩm thiết
bị giáo dục phục vụ cho các trường học
Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập và toàn cầu hóa đã trở thành một quy luật tất
yếu khách quan. Đồng hành cùng nhịp đập với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũng
nằm trong vòng xoáy đó. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa
phương hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn
170 nước và có quan hệ kinh tế - thương mại với trên 160 nước và vùng lãnh thổ, với hầu
hết các tổ chức quốc tế, khu vực quan trọng. Điều này đã tạo điều kiện để phát triển kinh
tế, nền kinh tế có nhiều bước khởi sắc qua nhiều năm. GDP cả nước không ngừng tăng
qua các năm, năm 2005 đạt 8,4%, năm 2006 tăng 8,14%, đến 2007 GDP đạt 8,5%, tuy
gặp phải một số tiêu cực từ nền kinh tế thế giới như cuộc khủng hoảng kinh tế giai đoạn
cuối 2007 – 2009 nên GDP có giảm nhưng từ cuối năm 2009 đến nay đã đạt một số kết
quả khả quan. Đặc biệt, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu hơn vào kinh tế quốc tế,
đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ, và WTO cũng đã công nhận giáo dục là một ngành dịch vụ
thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS. Vì vậy, thách thức đặt ra là phải xã hội hóa giáo
dục, đảm bảo thực hiện đầy đủ mục tiêu giáo dục và đồng thời có thể nâng cao năng lực
cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục. Mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của Đảng, nhà
nước và toàn dân đang thực hiện là tiến hành công cuộc đổi mới theo Nghị quyết Đại hội
Đảng VI và tiếp tục sự nghiệp CNH-HĐH theo Nghị Quyết Đại hội VII đề ra. Trong Nghị
quyết Đại hội Đảng VI, Đảng ta chỉ rõ “để thực hiện được CNH-HĐH đất nước theo định
hướng XHCN chúng ta phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho
sự phát triển nhanh và bền vững…” Mà muốn phát huy nguồn lực con người thì yêu cầu
trước hết là nâng cao chất lượng đào tạo thông qua phương thức giảng dạy kết hợp với
thiết bị giáo dục bổ trợ trong quá trình giảng dạy. Trong điều kiện hội nhập toàn cầu, mà
1
giáo dục lại là một ngành dịch vụ, là một lĩnh vực được Đảng và nhà nước ta dành cho
nhiều sự quan tâm nhất, là lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu thì việc cải tiến giáo dục để

như việc đảm bảo nguồn hàng cung ứng ra thị trường, yếu tố về chất lượng và thời gian
cung ứng sản phẩm tới các trường học là những vấn đề mà các doanh nghiệp kinh doanh
sản phẩm thiết bị giáo dục quan tâm.
Qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần thiết bị giáo dục & khoa học kĩ thuật
Long Thành cho thấy một trong những lĩnh vực kinh doanh chính của công ty là cung
ứng, lắp đặt và tư vấn thiết bị giáo dục. Nhưng trên thực tế, lĩnh vực này của công ty mới
chỉ dừng lại ở mức lắp đặt, mua bán thông thường và đạt được những kết quả kinh doanh
nhất định chưa cao. Bên cạnh công ty cổ phần thiết bị giáo dục & khoa học kĩ thuật Long
Thành còn có nhiều công ty khác cùng kinh doanh các sản phẩm thiết bị giáo dục như:
công ty cổ phần thiết bị giáo dục 1, công ty TNHH thiết bị giáo dục Tân Hà , một số
công ty nước ngoài và còn có rất nhiều cửa hàng bán lẻ khác. Là những doanh nghiệp
kinh doanh thiết bị giáo dục này, phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục
hiện nay cũng gặp phải những vấn đề kể trên.
Từ những vấn đề đặt ra trên đây, thiết nghĩ các công ty cần phải thiết lập một hệ
thống các chức năng cũng như nghiệp vụ kinh doanh hoàn thiện nhất. Trong vấn đề này,
phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục phục vụ cho các trường học trong cả
nước, đặc biệt là các tỉnh phía Bắc, góp phần cho các doanh nghiệp thực hiện thành công
nghiệp vụ cung ứng TBGD cho sự nghiệp phát triển giáo dục Việt Nam là vô cùng quan
trọng. Chính vì vậy mà em lựa chọn tên đề tài là: “Giải pháp phát triển thương mại các
sản phẩm thiết bị giáo dục phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn hiện
nay” làm luận văn tốt nghiệp.
1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Qua quá trình nghiên cứu, có rất nhiều các câu hỏi đặt ra. Đâu là cơ sở lý thuyết
cho việc phát triển thương mại các sản phẩm TBGD phục vụ cho các trường học ở các
tỉnh phía Bắc? Bản chất của phát triển thương mại? Đặc điểm sản phẩm TBGD là gì?
Những nhân tố nào ảnh hưởng và những chỉ tiêu nào đánh giá hiệu quả phát triển thương
mại? Chất lượng sản phẩm TBGD cần phải đáp ứng yêu cầu gì? Thực trạng phát triển
3
thương mại các sản phẩm TBGD phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc trong
thời gian gần đây như thế nào? Phương hướng phát triển thương mại sản phẩm TBGD

hạn chế còn tồn tại và tìm ra nguyên nhân của những tồn tại trong việc phát triển thương
mại các sản phẩm TBGD. Đồng thời, dự báo triển vọng, xu hướng phát triển thương mại
các sản phẩm TBGD và qua đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển
thương mại các sản phẩm TBGD phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai
đoạn hiện nay.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu phát triển thương mại các sản
phẩm TBGD.
Về đối tượng và không gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng phát triển thương
mại các sản phẩm TBGD tại 3 công ty: Công ty cổ phần TBGD & KHKT Long Thành,
Công ty cổ phần TBGD 1 và Công ty cổ phần TBGD Hải Hà. Không gian nghiên cứu là
các tỉnh phía Bắc, giới hạn là ở địa bàn Hà Nội.
Về mặt thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển thương mại các sản phẩm
TBGD, số liệu nghiên cứu được thu thập từ các báo cáo kết quả kinh doanh của các công
ty: Công ty cổ phần TBGD & KHKT Long Thành, Công ty cổ phần TBGD 1 và Công ty
cổ phần TBGD Hải Hà trong thời gian 4 năm từ 2006- 2009. Các dự báo, kiến nghị và đề
xuất về giải pháp phát triển thương mại các sản phẩm TBGD được áp dụng cho các doanh
nghiệp kinh doanh các sản phẩm TBGD trong khoảng thời gian từ 2010-2015.
1.5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ,
danh mục từ viết tắt, tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 4
chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo
dục phục vụ trong các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn hiện nay
5
Chương 2: Một số lý luận chung về phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo
dục phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn hiện nay
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng về phát triển thương mại các sản
phẩm thiết bị giáo dục phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn hiện nay
Chương 4: Một số đề xuất và giải pháp phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị

tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm sự tăng lên về quy mô sản lượng (tăng
trưởng) và sự thay đổi về cơ cấu kinh tế - xã hội. Như vậy, khái niệm phát triển kinh tế
bao hàm các vấn đề cơ bản sau:
+) Mức độ gia tăng của sản lượng quốc gia và sự tăng trưởng của sản xuất trong
một thời kỳ.
+) Mức độ biến đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia thể hiện ở tỷ trọng của công nghiệp
trong tổng sản phẩm quốc dân.
+) Sự tiến bộ xã hội thể hiện ở đời sống dân cư, xóa bỏ nghèo đói, tăng công ăn
việc làm và công bằng xã hội.
Hiện nay chưa có một định nghĩa chính thống về phát triển thương mại, do đó,
chúng ta dựa trên quan điểm phát triển kinh tế để đưa ra cách hiểu chính xác hơn về phát
triển thương mại.
“Phát triển thương mại là sự nỗ lực cải thiện về quy mô, chất lượng các hoạt động
thương mại trên thị trường, nhằm tối đa hóa tiêu thụ và hiệu quả của các hoạt động
thương mại cũng như tối đa hóa các lợi ích mà khách hàng mong đợi trên các thị trường
mục tiêu”.
Bản chất của phát triển thương mại là quá trình mở rộng về quy mô và nâng cao
chất lượng sản phẩm. Mở rộng về quy mô thể hiện ở việc tốc độ, kim ngạch tăng cao.
Nâng cao chất lượng sản phẩm chính là một trong những phương thức tiếp cận và tìm
cách đạt được những thắng lơi trong sự cạnh tranh gay gắt trên thương trường nhằm duy
trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm làm tăng sức cạnh
tranh của doanh nghiệp, tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua và nâng cao vị thế, sự phát
8
triển lâu dài cho doanh nghiêp trên thị trường. Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế toàn
cầu thì phát triển thương mại là hoạt động rất cần thiết. Mỗi nước khi tham gia vào hoạt
động thương mại rất có lợi, tiết kiệm được nhiều chi phí, tạo được nhiều việc làm, giảm
được các tệ nạn xã hội, thúc đẩy các khâu cung ứng lưu thông, phân phối nguồn hàng một
cách hiệu quả. Qua đó mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện
chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào xây dựng
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. - Nội hàm của phát triển thương mại các sản

để chọn bán sản phẩm phù hợp với nhu cầu và tiêu chuẩn của thị trường. Bên cạnh đó,
cần phải khuyến khích, thu hút khách hàng hoàn toàn mới có nhu cầu được thoả mãn bằng
sản phẩm tương tự như sản phẩm của địa bàn đã có.
+) Phát triển thương mại theo chiều sâu: Là việc gia tăng số lượng và giá trị sản
phẩm trên thị trường hiện tại. Về mặt địa lý, phát triển thương mại theo chiều sâu thì
phạm vi thị trường tiêu thụ sản phẩm không đổi. Thay vào đó, các doanh nghiệp thương
mại cố gắng khai thác mọi cơ hội để có được từ thị trường hiện tại để thông qua các nỗ
lực mạnh mẽ trong công tác Marketting để thu hút khách hàng chưa sử dụng sản phẩm và
khách hàng của các đối thủ cạnh tranh sang tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp mình.
Đối tượng của phát triển thương mại theo chiều sâu bao gồm các khách hàng hiện tại,
khách hàng của đối thủ cạnh tranh và những người chưa sử dụng sản phẩm đó.
- Thực chất của phát triển thương mại chính là mở rộng quy mô và nâng cao chất
lượng của thương mại. Để thúc đẩy phát triển thương mại, chúng ta phải tập trung giải
quyết vấn đề:
+) Phát triển thị trường: Nhân tố thị trường có ảnh hưởng rất lớn chi phối toàn bộ
hoạt động phát triển thương mại sản phẩm thiết bị giáo dục của mỗi quốc gia. Phát triển
thị trường sản phẩm thiết bị giáo dục là việc tìm kiếm, thâm nhập vào những thị trường
mới, những đối tác mới sao cho khối lượng sản phẩm của công ty đạt mức độ cao nhất,
thỏa mãn tối đa nhu cầu của người tiêu dùng.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng cao. Thiết bị giáo dục
là mặt hàng rất cần thiết, cũng giống như các hàng hóa khác, nó cũng phụ thuộc vào thu
nhập, dân cư, thị hiếu. Khi thu nhập cao thì cầu về số lượng thiết bị giáo dục giảm nhưng
10
trong đó cầu về chất lượng thiết bị giáo dục có xu hướng tăng lên (ở các nước phát triển
như Nhật, Châu Âu ). Chính vì thế, tỉ trọng tiêu thụ thiết bị giáo dục trong tổng thu nhập
vẫn tăng. Do vậy, cần xem xét những đặc điểm, nhu cầu của thị trường để có chiến lược
phát triển thị trường phù hợp. Phát triển thị trường liên quan đến quy mô và cơ cấu nhu
cầu, thu nhập và hướng sử dụng thu nhập, quyết định mua sắm và đầu tư của người tiêu
dùng (các trường học), sự ổn định và phát triển khách hàng, sự sẵn sàng mua và chi trả,
tập quán thói quen và sự tín nhiệm của khách hàng, sự liên kết giữa khách hàng và các

quả của các bộ máy tổ chức và hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức; độ mở, tính
năng động và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong nước.
Các nhân tố về cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở vật chất kĩ thuật thương mại: đó là
hệ thống vận chuyển, kho tàng, bến bãi, hệ thống thông tin liên lạc… Hệ thống này đảm
bảo việc lưu thông nhanh chóng kịp thời, đảm bảo cung cấp nguồn hàng một cách nhanh
chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí lưu thông. Các nhân tố về kĩ thuật, công nghệ sản
xuất và tiêu thụ đặc biệt quan trọng trong khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm. Hệ thống chế biến với công nghệ dây chuyền hiện đại sẽ góp phần tăng chất
lượng và giá trị của sản phẩm.
2.2. Một số lý thuyết cơ bản về phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục
phục vụ cho các trường học
2.2.1. Tiêu chí và một số các chỉ tiêu phản ánh phát triển thương mại
Với bản chất phát triển thương mại đã đề cập ở trên, giải quyết vấn đề về phát triển
thương mại gồm có mở rộng về quy mô và nâng cao chất lượng phát triển thương mại. Và
giải quyết những vấn đề này dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá, tiêu chí sự gia
tăng về quy mô, sự thay đổi về chất lượng của hoạt động thương mại và sự hài hòa về các
mục tiêu phát triển thương mại. Từ đó, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phản ánh phát triển
thương mại, có thể là định tính, định lượng hoặc phản ánh về quy mô, thị trường, nguồn
hàng, chính sách Trên thực tế, có những nhân tố ảnh hưởng, có những trường hợp phát
triển thương mại có thể hoặc không thể đo lường được. Do vậy, sử dụng kết hợp các chỉ
tiêu định tính và đinh lượng sẽ bổ sung cho nhau. Từ đó, hệ thống chỉ tiêu phát triển
12
thương mại được xác lập và đưa vào phân tích phải dựa theo những chuẩn mực chung.
Tuy nhiên, các chỉ tiêu phản ánh phát triển thương mại được phân tích theo các hướng:
chỉ tiêu về quy mô, chỉ tiêu về chất lượng và chỉ tiêu về hiệu quả.
 Chỉ tiêu về quy mô
Trên phương diện doanh nghiệp, sự gia tăng về quy mô được thể hiện qua:
+ Chỉ tiêu mức khối lượng sản phẩm bán ra tuyệt đối tăng, giảm liên hoàn:
1q i i
q q

=

q
n:
Khối lượng bán ra của sản phẩm n
∑q: tổng khối lượng sản phẩm bán ra trong kỳ nghiên cứu.
+ Tỷ trọng doanh thu của từng sản phẩm:
% *100
n
n
M
M
M
=
13
M
n
: Doanh thu tiêu thụ của sản phẩm n
M: Tổng doanh thu tiêu thụ trong kỳ nghiên cứu
Các chỉ tiêu trên phản ánh sự tăng lên hay giảm đi về tỷ trọng của khối lượng sản
phẩm tiêu thụ, của doanh thu từng nhóm hàng trong tổng khối lượng sản phẩm và tổng
doanh thu. Tỷ trọng của nhóm sản phẩm nào càng lớn thì chứng tỏ quy mô của sản phẩm
đó trong tổng sản phẩm càng lớn và ngược lại. So sánh quy mô, tỷ trọng trong nhóm để
thấy được sự chuyển dịch này là phù hợp hay chưa.
+ Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng về mặt khối lượng sản phẩm bán ra:
1
1
100
i i
q

của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại
Qua đây chúng ta có thể tính tốc độ tăng trưởng bình quân qua các năm để thấy
được sự tăng trưởng đó có ổn định, liên tục không. Đồng thời cũng thấy được sự dịch
chuyển của cơ cấu sản phẩm, cơ cấu thị trường.
 Chỉ tiêu hiệu quả
Về phía các doanh nghiệp, để xem xét hiệu quả thương mại ta nghiên cứu lợi
nhuận, tỷ suất lợi nhuận, hiệu quả sử dụng vốn, lao động…
+ Chỉ tiêu lợi nhuận:
TR TC
π
= −
π
: Lợi nhuận
14
TR: Tổng doanh thu
TC: Tổng chi phí
+ Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận:
100
en
LN
HQ
M
= ∗
HQ
en
: Tỷ suất lợi nhuận
LN: Tổng lợi nhuận đạt được trong kỳ (lợi nhuận trước thuế)
M: Doanh thu thuần đạt được trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định doanh nghiệp thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng doanh thu bán hàng thuần. Chỉ tiêu này càng cao thì

v
V
N
m
=
LD
L: Số lần chu chuyển vốn lưu động trong kỳ
M
v
: doanh thu tiêu thụ thuần trong kỳ
V
LD
: Vốn lưu động bình quân trong kỳ
N: Số ngày chu chuyển vốn lưu động trong kỳ
m
v
: Doanh thu thuần bình quân trong một ngày
- Hiệu quả sử dụng vốn cố định: được đánh giá bằng chỉ tiêu sức sản xuất của vốn
cố định (H
VCD
M
) và mức sinh lời của vốn cố định (H
VCD
LN
)
M
VCD
CD
M
H

tiêu dùng. Cơ cấu thị trường có thể quy định quy mô tiêu thụ, nên tập trung vào những
phân đoạn thị trường nào mà doanh nghiệp có nhiều lợi thế, điều kiện để phát triển.
+ Đặc điểm của từng loại thị trường: Tác động đến cơ cấu sản phẩm tiêu thụ. Những đặc
trưng của thị trường bao gồm đặc trưng về nhân khẩu, đặc trưng về cơ sở hạ tầng thương
mại, các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể, rào cản của thị trường….Tất cả các yếu tố
đó tác động đến chủng loại, phương thức phát triển kênh tiêu thụ, phân phối nội địa ảnh
hưởng tới quá trình phát triển thương mại của sản phẩm.
Các đặc điểm thị trường và quy mô của các thị trường sẽ ảnh hưởng đến phát triển
thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục. Bên cạnh đó, còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ
của những biến động thay đổi trên thị trường do khủng hoảng kinh tế gây ra. Mặt khác, vì
các sản phẩm thiết bị giáo dục chủ yếu được lắp ráp trong nước nên thị trường các sản
phẩm sẽ chịu sự chi phối của thị trường linh kiện. Các yếu tố cung- cầu về linh kiện thiết
bị giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành động thái thị trường hàng thiết
bị giáo dục trong những năm tới. Nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc mở rộng quy mô
thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục.
Bên cạnh đó, xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới làm thay đổi nhu cầu và
cung ứng hàng hóa thúc đẩy thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài; cạnh tranh trong
thương mại ngày càng quyết liệt, gay gắt hơn làm thay đổi vị trí dẫn đạo thị trường; hệ
thống tài chính quốc tế phát triển tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư; xu hướng các
rào cản thương mại đan xen với quá trình tự do hóa thương mại diễn ra ở các nước phát
triển và đang phát triển; những thay đổi trong đàm phán và các quy định của hệ thống
WTO. Tất cả những thay đổi đó làm ảnh hưởng đến thị trường quốc tế các sản phẩm
TBGD.
17
Đồng thời, vì đây là các sản phẩm thiết bị giáo dục phục vụ cho các trường học
nên việc phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục còn chịu ảnh hưởng của các
chính sách, chỉ thị, dự án… của các Bộ, sở Giáo dục & Đào tạo, của các trường học. Số
lượng các trường học, ngân sách chi cho giáo dục… cũng ảnh hưởng tới phát triển thương
mại các sản phẩm thiết bị giáo dục của các doanh nghiệp. Ngoài ra, các sản phẩm này
cũng phải phù hợp với công tác quản lý, giảng dạy ở các trường. Sản phẩm phải dễ sử

để người tiêu dùng dễ nhận biết. Thị trường thiết bị giáo dục rất phong phú, đa dạng với
nhiều nhà phân phối khác nhau, nếu sản phẩm có thương hiệu, uy tín đảm bảo về chất
lượng, mẫu mã… thì sẽ thu hút được nhiều người tiêu dùng. Khả năng cạnh tranh của sản
phẩm trên thị trường cũng được nâng lên. Kết hợp với mạng lưới phân phối rộng khắp thì
việc phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục sẽ diễn ra thuận lợi và nhanh
chóng hơn. Nhưng nếu sản phẩm không có thương hiệu hoặc thương hiệu không nổi trội
và uy tín thì việc gia tăng về quy mô, số lượng là rất khó trước sự cạnh tranh gay gắt giữa
các nhà phân phối với nhau. Và nếu mạng lưới phân phối sản phẩm nhỏ hẹp, manh mún
thì hiệu quả của phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục sẽ không cao.
Tóm lại, các năng lực về tài chính, vốn, lao động, công nghệ, thương hiệu hay
mạng lưới phân phối… của ngành đều ảnh hưởng tới phát triển thương mại. Và mối quan
hệ này là mối quan hệ cùng chiều, nếu các nhân tố về năng lực của ngành kể trên mạnh,
phát triển thì sẽ có ảnh hưởng thúc đẩy phát triển thương mại và ngược lại, nếu các nhân
tố này yếu, kém phát triển thì sẽ gây cản trở cho sự phát triển thương mại các sản phẩm
thiết bị giáo dục.
2.2.2.3. Các nhân tố thuộc về năng lực của những ngành có liên quan
Hoạt động sản xuất và kinh doanh của các chủ thể diễn ra trong nền kinh tế đều
nằm trong một tổng thể thống nhất và có mối liên hệ hữu cơ không thể tách rời. Những
ngành có liên quan tác động đến thương mại sản phẩm bao gồm ngành cung ứng đầu vào,
ngành bảo quản Ngành cung ứng bao gồm các ngành cung ứng nguyên liệu, máy móc,
trang thiết bị kĩ thuật và nguồn lao động. Nếu các nguồn cung ứng sẵn sàng cung cấp kịp
thời những yếu tố này thì hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ được
đảm bảo và có hiệu quả hơn. Nếu các nguồn cung ứng này được đảm bảo thì các doanh
19
nghiệp kinh doanh các sản phẩm cũng sẽ sẵn sàng cung cấp những gì mà thị trường có
nhu cầu. Do vậy, trong nhóm các nhân tố tác động tới phát triển thương mại phải kể đến
vai trò ảnh hưởng không nhỏ của các ngành liên quan. Cụ thể, đối với mặt hàng TBGD
tác động tới hiệu quả phát triển thương mại và các ngành kỹ thuật lắp ráp các ngành liên
quan đến CNTT sản xuất nhựa, thiết bị kỹ thuật, ngành in, dịch vụ vận tải, thông tin,
quảng cáo….Đó là những ngành liên quan trực tiếp hỗ trợ cho quá trình phân phối và tiêu

cho hoạt động thương mại như chính sách hạ tầng thương mại GTVT, Ngân hàng, Bưu
chính viễn thông. Phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục thường chịu sự
ảnh hưởng của các chính sách thuế như: thuế xuất nhập khẩu các thiết bị, thuế VAT,…
Nếu các chính sách này thông thoáng, minh bạch sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển
thương mại. Ngược lại, nếu các chính sách này phức tạp, lộn xộn thì sẽ gây cản trở cho
phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục.
2.2.2.6. Các nhân tố khác
Ngoài các nhân tố trên, còn có một số nhân tố cũng ảnh hưởng đến phát triển
thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục như các nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên, khí
hậu, kho bãi, hệ thống vận chuyển… Nếu các nhân tố này được đảm bảo, thuận lợi thì sẽ
tạo điều kiện cho phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục. Và ngược lại, nếu
gặp khó khăn trong việc vận chuyển các sản phẩm thì sẽ làm cản trở phát triển thương
mại các sản phẩm thiết bị giáo dục.
2.3. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước
Khi nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến phát triển thương mại các sản phẩm
thiết bị giáo dục phục vụ cho các trường học, trên thực tế hiện nay đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu khoa học, tựu chung lại có các đề tài sau:
Đề tài “Một số giải pháp nâng cao doanh số bán hàng của Công ty thiết bị Giáo
dục 1” do tác giả Vũ Bá Nghĩa – PGĐ Trung tâm Thiết bị và công nghệ tin học (2003).
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng bán hàng và một số biện pháp nhằm hoàn thiện tiêu
thụ sản phẩm của Công ty thiết bị Giáo dục 1.
Luận văn tốt nghiệp “Giải pháp phát triển thị trường với phát triển thương mại các
sản phẩm của công ty TNHH Khoa học Giáo dục và Công nghệ Việt Nam”, Cao Thị
21
Thanh Nhàn, sinh viên lớp 40F5 thực hiện, Tiến sĩ Hà Văn Sự hướng dẫn (2008). Công
trình tiếp cận hoạt động thương mại của công ty TNHH Khoa học giáo dục và Công nghệ
Việt Nam, thông qua thực trạng đưa ra các giải pháp hướng về thị trường là chủ yếu để
thúc đẩy phát triển thương mại sản phẩm.
Luận văn tốt nghiệp “Hoàn thiện chiến lược sản phẩm nhằm đẩy mạnh hoạt động
tiêu thụ mặt hàng thiết bị Giáo dục của công ty thiết bị Giáo Dục 1”, Nguyễn Đức Hậu,

Đề tài nghiên cứu “Giải pháp phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục
phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn hiện nay” là một đề tài mang
tính cấp thiết xuất phát từ những lý do thực tiễn: Giáo dục là một vấn đề cấp thiết được
Đảng và nhà nước ta dành cho nhiều sự quan tâm và được ưu tiên hàng đầu nhằm phục vụ
nhu cầu phát triển đất nước trong điều kiện hội nhập toàn cầu hiện nay; Xuất phát từ nhu
cầu của thị trường, phát triển thương mại sản phẩm TBGD đang gặp phải nhiều khó khăn;
Bản thân các doanh nghiệp hiện nay đang còn một số tồn tại. Vì vậy, đề tài tập trung
nghiên cứu giải quyết vấn đề theo hướng sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo
dục phục vụ trong các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn hiện nay
Chương 2: Một số lý luận chung về phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo
dục phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn hiện nay
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng về phát triển thương mại các sản
phẩm thiết bị giáo dục phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn hiện nay
Chương 4: Một số đề xuất và giải pháp phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị
giáo dục phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn hiện nay
- Về mặt lý luận:
+) Dựa trên khái niệm phát triển kinh tế để đưa ra cách hiểu chính xác về phát triển
thương mại, chỉ ra các vấn đề liên quan đến phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị
giáo dục.
+) Làm rõ nội hàm phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục bao gồm 4
nội dung. Bốn nội dung bao gồm việc gia tăng quy mô thương mại, tốc độ phát triển, thay
đổi chất lượng thương mại, tối ưu và hiệu quả. Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung phân tích về
23
quy mô và tốc độ phát triển thương mại. Đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục như chỉ tiêu phản ánh quy mô, chất
lượng, hiệu quả phát triển thương mại và chỉ ra 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới phát triển
thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục bao gồm nhóm nhân tố thuộc về thị trường,
nhóm nhân tố thuộc về năng lực cạnh tranh của ngành, nhóm nhân tố thuộc về năng lực
của những ngành liên quan, nhóm nhân tố thuộc về luật pháp, nhóm nhân tố thuộc chính

được những thành tựu và hạn chế, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế để
qua đó dự báo những triển vọng về phát triển thương mại các sản phẩm TBGD và có các kiến nghị, đề
xuất các giải pháp phát triển giai đoạn 2010– 2015 về quy mô và cơ cấu thông qua phát triển thị
trường, phát triển nguồn cung và thông qua các chính sách vĩ mô của nhà nước. Các giải
pháp này không chỉ về phía doanh nghiệp mà còn cả về phía nhà nước, về phía hiệp hội các TBGD
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia phát triển thương mại các sản phẩm
TBGD xây dựng kế hoạch, chiến lược kinh doanh. Các giải pháp
25

Trích đoạn Những hạn chế và nguyên nhân của việc phát triển thương mại các sản phẩm thiết bị giáo dục phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc Dự báo về phát triển thương mại các sản phẩm TBGD phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn 2010- Phương hướng phát triển thương mại các sản phẩm TBGD phục vụ cho các trường học ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn 2010- Đối với cơ quan nhà nước Đối với các doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status