LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lại lớn hơn
các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi
công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hi sinh về
nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Trong mỗi quốc gia thì đầu tư phát triển là một trong những yếu tố quyết
định tăng trưởng kinh tế và giải quyết nhiều vấn đề xã hội vì hoạt động này trực
tiếp làm tăng tài sản cố định, tài sản lưu động, tài sản trí tuệ và số lượng cũng
như chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời góp phần quan trọng vào việc thực
hiện các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm nâng cao mức sống dân cư và mặt
bằng dân trí; bảo vệ môi trường sinh thái và đưa các chương trình phát triển kinh
tế - xã hội khác vào cuộc sống.
Hoạt động đầu tư phát triển có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và
do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện cùng với sự tác động của nhiều nhân tố .
Chính sự khác nhau đó tạo nên cơ cấu đầu tư. Vì vậy có thể nói cơ cấu đầu tư là
khung xương của đầu tư phát triển. Cơ cấu đầu tư có hợp lý và vững chắc thì
hoạt động đầu tư phát triển mới có thể đạt được hiệu quả cao.
Do nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư phát triển cũng như cơ
cấu đầu tư hợp lý như vậy nên trong những năm vừa qua đã có nhiều chính
sách và giải pháp khơi dậy nguồn nội lực và tranh thủ các nguồn lực từ bên
ngoài để huy động vốn cho đầu tư phát triển, tuỳ vào từng điều kiện bên
trong và bên ngoài mà xây dựng một cơ cấu đầu tư hợp lý phục vụ cho quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế.
Tuy vậy, việc thu hút, sử dụng và phân bổ vốn đầu tư phát triển vẫn còn
tồn tại nhiều bất cập, cơ cấu đầu tư chưa tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư
đạt hiệu quả cao nhất đòi hỏi cần phải tìm hiểu nghiên cứu để có được sự
đánh giá về những kết quả đã đạt được, những hạn chế từ đó tìm ra những
định hướng, giải pháp nhằm điều chỉnh và xây dựng cơ cấu đầu tư Việt Nam
ngày càng hợp lý hơn.
Trong khuôn khổ bài viết này, ngoài những nghiên cứu được sưu tầm ở
Thông qua hoạt động chi ngân sách nhà nớc sẽ cung phí đầu t cho các dự án
kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên
cơ sở đó tạo môi trờng và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của
các công ty thuộc mọi thành phần kinh tế.
Bên cạnh đó việc cấp vốn cho các doanh nghiệp nhà nớc là một biện pháp
cơ bản để chống độc quyền và giữ cho thị trờng tránh rơi vào cạnh tranh
không hoàn hảo. v trong những điều kiện cụ thể nguồn kinh phí từ ngân sách
còn có thể đợc sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp, đảm
bảo sự ổn định về cơ cấu hoặc chuyến dịch sang cơ câu hợp lý hơn.
(+) Vốn tín dụng đầu từ phát triển của nhà nớc: nguồn vốn này là nguồn vốn
có vai trò quan trọng trong việc quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô. cùng với
NHểM 7
3
Tiu lun kinh t u t
quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu t phát triển của nhà nớc ngày càng
đóng vai trò đáng kể đối với sự phát triển kinh tê- xa hội.
Ngun vn tớn dng u t phỏt trin ca nh nc cú tỏc dng tớch cc
trong vic gim ỏng k bao cp vn trc tip ca nh nc. vi c ch tớn
dng, cỏc ngun vn ny phi m bo nguyờn tc hon tr vn vay. Ch u
t l ngi vay vn phai tớnh k hiu qu u t, s dng vn tit kim hn.
Vn tớn dng ca nh nc l hỡnh thc quỏ chuyn t phng thc cp
phỏt vn t ngõn sỏch sang phng thc tớn dng i vi cỏc d ỏn cú kh
nng thu hi vn trc tip.
(+) Vn u t ca cỏc doanh nghip nh nc: ngun vn ny ch yu bao
gm khu hao ti sn c nh va thu nhp gi li ti doanh nghip nh nc.
Theo b k hoch u t, thụng thng ngun vn doanh nghip nh nc t
u t chim khong 14-15% tng s vn u t xó hi,ch yu l u t theo
chiu sõu, m rng sn xut, i mi trang thit b, hin i húa dõy chuyn
cụng ngh ca doanh nghip. Mc dự cú nhiu hn ch nhng ỏnh giỏ mt
cỏch cụng bng thỡ khu vc kinh t nh nc vi s tham gia ca cỏc doanh
• Hợp đồng hợp tác kinh doanh – BBC : là văn bản ký kết giữa 2 bên
hoặc nhiều bên gọi tắt là các bên hợp doanh quy định trách nhiệm và
lợi ích của mỗi bên (nước ngoài và nước chủ nhà) để tiến hành kinh
doanh ở nước chủ nhà mà không cần thành lập tác nhân mới.
• Xí nghiệp liên doanh hay công ty liên doanh – JV: là xí nghiệp được
thành lập ở các nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký kết
giữa bên hoặc các bên nước chủ nhà với bên hoặc các bên nước ngoài
để đâu tư kinh doanh tại nước chủ nhà.
• Doanh nghiệp 100% vốn đâu tư nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở
hữu của nhà đâu tư nước ngoài do người nước ngoài thành lập tại nước
chủ nhà, tự quản lý và tự chịu kết quả kinh doanh.
• Xây dựng-vận hành- chuyển giao- BOT: là văn bản ký kết giữa nhà đâu
tư nước ngoài với cơ quan có thẩm quyền ở nước chủ nhà để đầu tư
mởi rộng, nâng cấp, khai thác công trình kết cấu hạ tầng trong một thời
gian nhất định ( đủ để thu hồi vốn và có lãi) sau đó chuyển giao bồi
hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.
Nguồn vốn FDI có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn đầu tư nước ngoài
khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không gây nợ cho các nước tiếp nhận.
thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được lợi nhuận thích
đáng việc kinh doanh có kết quả tốt. Bên cạnh đó đầu tư trực tiếp nước ngoài
còn mang theo tài nguyên kinh doanh vào nước tiếp nhận vốn nên có thể thúc
đẩy việc mở rộng ra phát triển các nghành nghề mới, đặc biệt là các nghành
nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao hay cần nhiều vốn. Nguồn vốn FDI là
nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài để đầu tư cho sản xuất, kinh doanh
NHÓM 7
5
Tiểu luận kinh tế đầu tư
và dịch vụ nhăm mục đích thu lợi nhuận. đây là một nguồn vốn lớn, có ý
nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển.
(+) Vốn phát triển hỗ trợ chính thức (ODA ): ODA là nguồn vốn hổ trợ chính
Trong đó: r - tỷ lệ lãi suất hàng năm
a - số lần trả nợ trong năm
d - tỷ suất chiết khấu
G - thời gian ân hạn
M - thời hạn cho vay
NHÓM 7
6
Tiểu luận kinh tế đầu tư
ODA đòi hỏi phải có vốn đối ứng từ bên tham gia nhận viện trợ để họ có trách
nhiệm hơn trong việc sử dụng ODA.
• Viện trợ có hoàn lại ( tín dụng ưu đãi) : Vốn ODA với một lãi suất ưu
đãi và một thời gian trả nợ thích hợp, tín dụng ưu đãi chiếm một tỉ
trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên thê giới. Nó không được sử dụng
cho mục tiêu xã hội, môi trường mà thường được sử dụng cho các dự
án về cơ sở hạ tầng thuộc các lãnh vực giao thông vân tãi, nông nghiệp,
thủy lợi, năng lượng...làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng
trưởng kinh tế. Các điều kiện ưu đãi bao gồm:
- Lãi suất thấp.
- Thời gian trả nợ dài.
- Có khoảng thời gian
- Không trả lãi hoặc nợ.
• ODA cho vay hỗn hợp: là sự kết hợp giữa 2 dạng trên, bao gồm một
phần không hoàn lại và tín dụng ưu đãi.
Nguồn vốn ODA là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức của một nước
hay một tổ chức quốc tế trên thực tế nó vừa là một khoản vay vừa là công cụ
chính trị của các nước đi nhận viện trợ, viện trợ có 2 mặt và bất cứ khoản viện
trợ nào cũng vậy. khi một nước đem tiền của mình đi cho vay với lãi xuất ưu
đãi thì nó phải hàm chứa mục tiêu chính trị, có thể trần trụi,có thể kiểu “cây
gậy và củ carot”. Vì vậy nước nhận viện trợ phải có những chính sách sử
dụng nguồn vốn này một cách hợp lý.
nước ngoài cũng tăng cường một cách đáng kể tính công khai, minh bạch,
trình độ quản trị công ty, tiêu chuẩn kế toan của doanh nghiệp để từ đó tiếp
cận với các tiêu chuẩn quốc tế.
1.2.2. Cơ cấu vốn đầu tư
Cơ cấu vốn đầu tư thể hiện quan hệ tỷ lệ của từng loại vốn trong tổng vốn đầu
tư của xã hội , vốn đầu tư của doanh nghiệp hay một dự án. Một cơ cấu vốn
đầu tư hợp lý là cơ cấu mà vốn đầu tư được ưu tiên cho bộ phận qua trọng
nhất, phù hợp với yêu cầu và mục tiêu đầu tư và nó thường một tỷ trọng cao
trong tổng vốn đầu tư
Trên thực tế có một số cơ cấu đầu tư cần được chú ý xem xét như vốn xây
lắp và vốn máy móc thiết bị trong tổng vốn đâu tư, cơ cấu vốn đầu tư xây dựng
cơ bản , vốn đâu tư xây dựng cơ bản, quảng cáo, tiêp thị … Cơ cấu vốn đầu tư
theo quá trình lập và thực hiện dự án như chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thực
hiện đầu tư …
NHÓM 7
8
Tiểu luận kinh tế đầu tư
1.2.3. Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành
Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành là cơ cấu thực hiện đầu tư cho từng
nghành kinh tế quốc dân cũng như trong từng tiểu ngành, thể hiện việc thực
hiện chính sách ưu tiên phát triển, chính sách đầu tư đối với từng ngành trong
một thời kỳ nhất định. Trong bối cảnh nền kinh tế quốc tế hiện đại thì trong
quá trình phát triển công nghiệp hoá của các nước đang phát triển, muốn đạt
tăng chưởng cao và nền kinh tế tiến bộ, thì phải phát triển cân đối giữa các
ngành trong nền kinh tế.Tuy nhiên hiện nay ơ các nước đang phát triển còn rất
nhiều điều hạn chế như : vốn, trình độ lao động thấp, công nghệ kém phát
triển, thị trường… thực tế này không cho phép chúng ta đầu tư dàn trải, đồng
đều giữa các ngành vì vậy phải đầu tư có trọng tâm, trọng điểm ưu tiên những
ngành quan trọng, ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế.
Cơ cấu đầu tư theo ngành thể hiện mối tương quan tỷ lệ trong việc huy động
Một cơ cấu đầu tư theo địa phương hay vùng lãnh thổ được xem là hợp lý
nếu nó phù hợp với yêu cầu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội, phát huy lợi
thế sẵn có của địa vùng trong khi vẫn đảm bảo hỗ trợ, tạo điêu kiên thuận lợi
cho sự phát triển chung của các vùng khác, đảm bảo sự phát triển thống nhất
và những cân đối lớn trong phạm vi quốc gia và giữa các ngành.
Cơ cấu đầu tư theo ngành và cơ cấu đầu tư theo vùng, lãnh thổ tuy khác
nhau nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Cơ cấu đầu tư theo vùng,
lãnh thổ được hình thành gắn liền với cơ cấu đầu tư theo ngành và thống nhất
trong mỗi vùng kinh tế. Trong mỗi vùng, lãnh thổ lại có một số ngành được ưu
tiên đầu tư, tạo ra một cơ cấu đầu tư theo ngành riêng.
Tuy nhiên việc xây dựng một số vùng kinh tế trọng điểm là cần thiết nhắm
tạo thế và lực trong phát triển kinh tế nói chung. Bên cạnh phát triển vùng kinh
tế trọng điểm cần chú ý đến quy hoạch phát triển vùng và địa phương trên cả
nước. đó là các yếu tố đảm bảo sự phát triển của từng vùng, miềm nhằm hình
thành một cơ cấu đầu tư hợp lý, có hiệu quả.
1.3. Đặc điểm của cơ cấu đầu tư
1.3.1. Cơ cấu đầu tư mang tính khách quan
Trong nền kinh tế cơ cấu đầu tư được thực hiện theo các chiến lược đã
được định trước.nhưng không vì thế mà cơ cấu đầu tư mất đi tính khách quan
của nó, mọi sự vật hiện tượng đều hoạt động tuân theo quy luật khách quan.
Và trong quá trình sản xuất cơ cấu đâu tư không ngừng vận động, một cơ cấu
đã nỗi thời, hoạt động không hiệu quả kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế sẽ
được thay thế bằng cơ câu đâu tư hợp lý hơn để phù hợp với những điều kiện
khách quan.
NHÓM 7
10
Tiểu luận kinh tế đầu tư
Lực lượng sản xuất là động lực phát triển của xã hội. Nhu cầu xã hội ngày
càng cao, muốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu xã hội thì trước hết phải phát triển
LLSX. Sự phát triển của LLSX sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thay đổi công
ngày càng hợp lý hơn, khai thác ngày càng hợp lý các nguồn lực trong nước
để đáp ứng nhu cầu hội nhập, phù hợp với xu hướng của kinh tế , chính trị
của thế giới và trong khu vực.
1.4.2. Đặc điểm
Tận dụng các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và các tiềm năng,
lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với từng bước phát triển kinh tế tri
thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Phát triển mạnh các ngành kinh tế và các sản phẩm kinh tế
có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng những
nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với những tri thức mới nhất của
nhân loại. Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi
bước phát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, trong từng dự án
kinh tế - xã hội. Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo cả ngành và
lĩnh vực. Giảm chi phí trung gian, tăng mạnh tỉ lệ giá trị quốc gia, giá trị gia
tăng, nâng cao năng suất lao động của tất cả các ngành, lĩnh vực, nhất là các
ngành, lĩnh vực cơ bản có sức cạnh tranh cao.Trong nền kinh tế hội nhập quốc
tế và khu vực ngày càng phát triển thì việc lựa chọn cơ cấu đầu tư hợp lý đóng
vai trò rất quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tăng cường khả năng
cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu.
1.4.3. Sư chuyển dịch cơ cấu đầu tư
Chuyển dịch cơ cấu đầu tư là sự thay đổi của cơ cấu đầu tư từ mức độ này
sang mức độ khác, phối hợp với môi trường và mục tiêu phát triển. Đây không
chỉ là sự thay đổi về vị trí ưu tiên mà còn là sự thay đổi về chất trong nội bộ cơ
cấu và chính sách áp dụng. Sự thay đổi đó có thể là sự thay đổi về quy mô,
phân bố nguồn lực hay số lượng, chất lượng các ngành trong quá trình phát
triển hoặc cũng có thể là sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các
vùng, các thành phần kinh tế do những biến động trong nền kinh tế như sự
xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành, tốc độ tăng trưởng của các yếu tố
• Thứ nhất: chủ trương đầu tư rõ ràng
Thể hiện ở số lượng dự án nhóm A,B,C là cân đối.số dự án nhóm B,C
không lớn .giải ngân vốn cho nhóm A để thực hiện đúng tiến độ.bố trí vốn
cho các địa phương có quy hoạch và dự án đầu tư rõ ràng không theo cảm
NHÓM 7
13
Tiểu luận kinh tế đầu tư
tính.để tránh tình trạng đầu tư giàn trải,tiến độ thực hiện dự án mất nhiều thời
gian do giải ngân.
• Thứ hai: Đầu tư có trọng tâm trọng điểm
Đầu tư cho các dự án kết cấu kinh tế xã hội,quốc phòng an ninh,chi cho
công tác lập và thực hiện kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội,vùng
,lãnh thổ trọng tâm,quy hoạch đô thị và nông thôn tạo môi trường và điều kiện
thuận lợi cho phát triển kinh tế.
• Thứ ba: Giảm dần tình trạng cấp phát vốn cho các doanh nghiệp nhà
nước
Nhằm tăng tính tự chủ cho các doanh nghiệp nhà nước,tạo tính năng
động tự chủ cho các doanh nghiệp này và để tập trung vốn cho các lĩnh vực
khác phát triển.Phù hợp với cơ chế thị trường,và xu thế hội nhập
2.2.2 cơ cấu đầu tư hợp lí vốn tín dụng phát triển của nhà nước
Vốn tín dụng phát triển của nhà nước là nguồn vốn quan trọng trong điều
tiết nền kinh tế vĩ mô và mang tính chính sách.để hợp lí nguồn vốn này cần
hợp lí trong từng khâu hoạt động của loại vốn này:khâu huy động vốn,khâu
cho vay,khâu hoạt động. vốn đầu tư phát triển tín dụng hợp lí :
• Thứ nhất: vốn đến với đúng đối tượng
Đối tượng được hưởng tín dụng ưu đãi phải phù hợp về với thông lệ quốc
tế và với nhu cầu phát triển kinh tế. muốn vậy, chú ý phát triển cân đối nền
kinh tế, và tránh sự vi phạm các cam kết quốc tế về chống trợ cấp như: tăng
sự hỗ trợ cho các ngành trước đây ở vào vị trí bất lợi (thực sự cần sự hỗ trợ);
chuyển phương thức hỗ trợ theo ngành sang hỗ trợ theo chức năng; thúc đẩy
2.2.3 Cơ cấu đầu tư hợp lí của doanh nghiệp
Xét trên bình diện doanh nghiệp cơ cấu nguồn vốn đầu tư hợp lí phản ánh tỷ
trọng của vốn tự có và vốn đi vay sao cho sử dụng đạt hiệu quả cao nhất
2.2.4 Cơ cấu đầu tư hợp lý vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
NHÓM 7
15
Tiểu luận kinh tế đầu tư
- Quá trình thu hút tương xướng với nhu cầu huy động vốn đáp ứng và tiềm
năng đất nước
- Phân bổ hợp lý giữa các ngành, vùng, khu vực
- Có chuyển biến mạnh về chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp nước
ngoài cho các doanh nghiệp trong nước
- Sự liên kết giữa khu vực FDI và kinh tế trong nước chặt chẽ
- Kiểm soát tốt cơ chế giành cho những nhà đầu tư nước ngoài
2.2.5 cơ cấu hợp lí vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA
-Công tác theo dõi đánh giá tình hình ODA đầy đủ
-Thủ tục chuẩn bị và triển khai đầu tư nhanh gọn và không rườm rà
2.2.6. Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại hợp lí
-Tạo môi trường đầu tư tốt ,cơ chế chính sách ổn định
-Thúc đẩy phát triển thị trường tiền tệ ,thị trường dịch vụ ngân hàng
-Tạo ra được sự chuyển giao công nghệ ngân hàng hiện đại
-Thực hiện tốt vấn đề giải ngân các khoản tín dụng từ các ngân hàng
thương mại quốc tế
2.2.7. Nguồn vốn huy động qua thị trường vốn quốc tế hợp lí
-Tạo ra nhiều kênh huy động vốn trung và dài hạn
-Thực hiện đúng nguyên tắc và thủ tục pháp lí quốc tế
-Sử dụng có hiệu quả ngay vốn thu được
-Thanh toán nợ gốc và lãi khi đáo hạn đủ và đúng hạn
NHÓM 7
16
-Vốn đúng mục tiêu,đúng công trình đã qui hoạch lên kế hoạch,tránh
đầu tư dàn trải
-Huy động tối đa hiệu quả nguồn vốn ngoài ngân sách
-Ưu tiên những công trình có tính cấp bách,có khả năng đưa vào sử
dụng sớm
-Khuyến khích đẩy nhanh các dự án BOT,BT,PPP mở rộng đầu tư
các nguồn nước ngoài
2.2.10.2 Vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo hợp lí
-Có sự đóng góp tích cực vốn ngoài ngân sách
-Chuyển từ cấp kinh phí thường xuyên sang cấp kinh phí trực tiếp
-Chuyển cơ chế cấp kinh phí đầu tư đầu vào sang cơ chế cấp kinh phí
đầu ra ở một số ngành lĩnh vực
-Tập trung hơn nữa cho giáo dục đào tạo vùng dân tộc thiểu số vùng
núi
2.2.10.3 Vốn đầu tư cho khoa học công nghệ hợp lí
-Sử dụng cả vốn trong nước và nước ngoài
-Kinh phí phân bổ phải gắn với các chỉ tiêu cụ thể
Nhìn chung lại,trên phạm vi quốc gia ,một cơ cấu nguồn vốn
hợp lí là cơ cấu phán ánh khả năng huy động tối đa mọi nguồn lực xã
hội cho đầu tư phát triển,phản ánh khả năng sử dụng hiệu quả cao
mọi nguồn vốn đầu tư,là cơ cấu thay đổi theo hướng giảm dần tỷ
trọng của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách,tăng tỷ trọng nguồn vốn tín
dụng ưu đãi và nguồn vốn của dân cư.
NHÓM 7
18
Tiểu luận kinh tế đầu tư
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CƠ CẤU ĐẦU TƯ Ở VIỆT
NAM.
1. CƠ CẤU ĐẦU TƯ THEO NGUỒN VỐN
Có thể chia làm 2 loại:phân theo khu vực và theo nguồn huy động
154 168.3 180 270
Đầu tư nước ngoài 65.6 129.4 192.4 189
Đầu tư khác 0.4 10 14
1.1. Vốn đầu tư trong nước:
1.1.1. Vốn ngân sách nhà nước:
Đây là một nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của mỗi quốc gia và thường được đầu tư cho các dự án của doanh nghiệp
đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước.
Bảng 1 : Nguồn vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước phân theo nguồn
vốn.
Đơn vị: tỷ đồng
Giá
thực tế
Tổng
số
Chia ra
Vốn ngân sách
Nhà nước
Vốn
vay
Vốn của các doanh nghiệp
Nhà nước và nguồn vốn khác
2000 89417 39006
2777
4
22637
2001
10197
3
45594
87932
3597
5
37728
2006
18510
2
100201
2683
7
58064
2007
19798
9
107328
3050
4
60157
2008
17443
5
98818
2504
5
50572
2009
24500
0
161000
Nguồn: Tổng cục thống kê.
NSNN đầu năm ước đạt khoảng 135,5 tỷ đồng,tăng 20,1% so với kế hoạch
năm 2008 sang 2009 là 22 nghìn tỷ đồng;…
Ưu điểm nữa trong việc sử dụng vốn Ngân sách đó là:
- Nguồn vốn ngân sách Nhà nước có tác dụng định hướng nhằm tạo ra cơ
cấu đầu tư ngày càng hợp lý, tuy nhiên hàng năm vẫn phải chi 15% - 17% cho
trả nợ trong nước và một phần nợ nước ngoài, đồng thời phải đảm bảo những
khoản chi thường xuyên. Vì vậy, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách còn rất eo
hẹp, chỉ bằng 15%-20% tổng nguồn vốn.
- Về việc thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản, đi đôi với việc tập trung
vốn cho các công trình hoàn thành đưa vào sử dụng,năm 2006 các địa phương
đã bố trí 3.406 tỷ đồng (bằng khoảng 25% tổng số vốn đầu tư trong cân đối
không kể vốn vốn đầu tư từ nguồn thu về sử dụng đất), thanh toán khối lượng
nợ xây dựng cơ bản của 2.009 dự án.
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước vẫn còn
một số vấn đề tồn tại:
Thứ nhất hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước còn thấp
như sau: trước hết là chủ trương đầu tư thiếu rõ ràng, thể hiện ở số lượng dự
án nhóm B, C hàng năm vẫn lớn, dự án nhóm A chậm trễ và bị kéo dài, dự án
ở các địa phương còn phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của cấp ra quyết
NHÓM 7
22
Tiểu luận kinh tế đầu tư
định mà không cân nhắc kỹ chi phí, lợi ích và tính hiệu quả của dự án. Vấn đề
thất thoát và lãng phí trong đầu tư không được giải quyết mạnh tay.
Thứ hai là sự chậm trễ trong việc thực hiện và giải ngân nguồn vốn
Ngân sách Nhà nước và trái phiếu chính phủ. Nguyên nhân đầu tiên phải nói
đến, đó chính là công việc chỉ đạo, điều hành và quản lý thực hiện dự án còn
nhiều hạn chế, đồng thời công tác xây dựng, thẩm định, phê duyệt dự án, tổng
dự toán và thiết kế kỹ thuật… vừa chậm trễ, vừa chưa đảm bảo yêu cầu chất
lượng; công tác khảo sát ban đầu thiếu chính xác,. Thủ tục phê duyệt còn rất
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trước năm 1990 vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước chưa được sử
dụng như một công cụ quản lí và điều tiết nền kinh tế thì trong giai đoạn
1991-2000 nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí
quan trọng trong chính sách đầu tư của nhà nước.Giai đoạn 1991-1995,nguồn
vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước mới chiếm 5,6%tổng vốn đầu tư
toàn xã hội thì giai đoạn 2001-2005 đã chiếm 14%tổng vốn đầu tư toàn xã
hội.
Trong 5 năm (2000-2004) hoạt động tín dụng nhà nước do Quỹ hỗ trợ phát
triển đảm nhận. Quỹ đã huy động vốn để đầu tư trên 3.800 dự án với số vốn
xấp xỉ 48.000 tỷ đồng.nhằm phục vụ các dự án sau:
-Các dự án phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng của đất nước
-Các chương trình phát triển các ngành quan trọng của quốc gia
-Các chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn
-Các dự án phục vụ chiến lược xuất khẩu
Ngoài ra, trong 5 năm hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho trên 1300 dự án, với số
tiền hỗ trợ khoảng 750 tỷ đồng, góp phần thu hút hàng chục nghìn tỷ đồng
vốn từ các tổ chức tín dụng cho đầu tư phát triển.
Theo đánh giá của Bộ kế hoạch-đầu tư, số vốn đầu tư cho nền kinh tế từ
Quỹ HTPT chiếm trên dưới 14,5% tổng mức đầu tư chung của toàn xã hội. Số
vốn này được tập trung cho các dự án thuộc các ngành công nghiệp và xây
dựng (59,6%), cơ sở hạ tầng các ngành nông nghiệp, nông thôn (18,1%), cơ
sở hạ tầng giao thông vận tải (17,5%), và các ngành khác (4,75%).
Trong giai đoạn 2000 – 2007, nguồn vốn tín dụng của nhà nước chiếm
trung bình khoảng 9,21% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, và khá ổn định.
NHÓM 7
24
Tiểu luận kinh tế đầu tư
Tính đến tháng 6/2008, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh là 5.820
triệu USD, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là 384 nghìn tỷ đồng